Việt Sử Giai Thoại (Tập 1) - Chương 03 - 04

03 - VÌ SAO NGƯỜI VIỆT CỔ
CÓ TỤC XĂM MÌNH?

Một
trong những tục cổ xưa nhất của người Việt là xăm mình. Tục này, phải kéo dài
mãi cho đến cuối thế kỉ thứ XIII, đầu thế kỉ thứ XIV mới chấm dứt. Có người nói
rằng, bởi tục này mà tên nước đầu tiên của người Việt là Văn Lang. Hẳn nhiên,
cách giải thích ấy chưa đủ sức thuyết phục, nhưng dẫu sao thì tục xăm mình cũng
là một trong những tục cổ nhất và tồn tại thuộc vào hàng lâu dài nhất ở nước
ta. Về nguyên nhân xuất hiện của tục này, sáchLĩnh Namchích
quái
(phầnHồng Bàng thị truyện)viết như sau:

“Bấy
giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn,
bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói:

-
Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa
những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại.

Nói
rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thủy quái vào người.
Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt
bắt đầu có kể từ đấy.


buổi đầu mở nước, mọi thứ vật dụng của dân chưa đủ. Dân phải lấy vỏ cây làm áo,
dệt cỏ ống làm chiếu, lấy gạo nếp nấu rượu, lấy cây quang lang làm thức ăn, lấy
cầm thú cá tôm làm mắm, lấy củ gừng làm muối, đao canh thủy chủng. Đất sản
nhiều gạo nếp. Lấy ống bương thổi mà ăn. Làm nhà sàn mà ở để tránh cọp, chó sói
làm hại. Cắt tóc ngắn để tiện vào rừng. Con mới vừa sinh ra thì lấy lá chuối
lót cho nằm. Có người chết thì gõ vào cối không, cho xóm giềng nghe thấy để kéo
nhau đến giúp. Con trai con gái lấy nhau, trước hết, dùng gói muối làm lễ hỏi
rồi sau đó mới giết trâu, giết dê để ăn mừng thành vợ thành chồng. Cùng nhau
đem cơm nếp vào buồng để ăn, vợ chồng mới thành thân, vì lúc đó trầu cau chưa
có".

Lời bàn:Chinh
phục thiên nhiên vùng đồng bằng sông nước là cả một quá trình lâu dài phúc tạp
và cực kì khó khăn. Hình ảnh những con thuồng luồng gây thương tích cho dân có
lẽ chính là một trong những biểu hiện của sự phức tạp và cực kì khó khăn đó.

Dân
gặp khó thì kêu vua, vua ân cần chỉ cho dân tất cả những gì mình biết. Lời chỉ
dẫn ấy, đúng sai thế nào thì ta đã quá rõ. Nhưng điều quan trọng hơn lại chính
là ở chỗ, trên dưới như cha con một nhà, nghĩa tình đằm thắm biết bao!

Bấy
giờ, hễ người Việt là xăm mình, hễ ai xăm mình là người Việt. Bạn thích hay
không thích tục xăm mình, đó là việc riêng của bạn, nhưng, trông tại ngàn xưa,
xin bạn hãy ghi nhận cho rằng, chính tục ấy đã góp phần làm cho Hán và Việt
biệt lập rõ ràng, và cũng chính nhờ sự biệt lập rõ ràng ấy, giờ này, bạn mới có
thể ung dung mà nói: non sông ta.

Đời
sống của cổ nhân ra sao, đoạn ghi chép ngắn ngủi trên kể cũng đã nóikhá rõ.
Kính thay, một thời chắt chiu cần mẫn, thương thay, một thời gian truân! Đi giữa
giang sơn gấm vóc, xin chớ vô tâm quên tổ tiên ngàn đời.

04 - PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG

SáchĐại
Việt sử kí toàn thư
(ngoại kỉ, quyển 1, tờ 3b và 4a), dựa vào
sáchLĩnhNamchích quái,tóm lược chuyện Phù Đổng
Thiên Vương như sau:

“Đời
Hùng Vương thứ sáu, ở làng Phù Đổng, bộ Vũ Ninh (nay thuộc Bắc Ninh - NKT), có
nhà giàu nọ, sinh được một đứa con trai. Đứa trẻ ấy, mãi đến năm hơn ba tuổi,
tuy ăn uống béo tốt, nhưng lại không biết nói cười.

Bấy
giờ gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, Nhà vua bèn sai Thiên sứ đi tìm người
có thể đánh được giặc. Đúng ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng dưng nói được. Nó nhờ mẹ
ra mời Thiên sứ vào rồi nói rằng:

-
Xin cho tôi một thanh gươm, một con ngựa. Vua không phải lo gì nữa.

Vua
liền ban cho gươm và ngựa. Đứa trẻ liền phi ngựa, vung gươm tiến lên. Quan quân
theo sau. Giặc bị đánh tan ở núi Vũ Ninh (núi này, nay thuộc đất Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh - NKT). Chúng sợ, quay giáo đánh lẫn nhau, chết nhiều lắm. Bọn sống
sót thì cúi rạp xuống mà lạy, rồi cùng tôn đứa trẻ ấy là Thiên tướng và đến xin
hàng.

Đứa
trẻ phi ngựa lên trời mà đi. Vua liền sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để
lập đền thờ, luôn năm cúng tế. Sau, vua Lý Thái Tổ (làm vua từ năm 1010 đến năm
1028 - NKT) phong làm Xung Thiên Thần Vương”.

Lời bàn:Chuyện
dân gian hẳn nhiên không phải là lịch sử, nhưng, bất cứ chuyện dân gian nào
cũng đều phản ánh một cái lõi có thật nào đấy của lịch sử. Cái lõi có thật ấy,
có thể chính là bản thân sự kiện hoặc nhân vật, nhưng có khi chỉ là một ý
nguyện chân thành, gởi gắm qua cách nhìn nhận một sự kiện hoặc một nhân vật
lịch sử nào đó.

Không
ai tin rằng một đứa trẻ lên ba lại có thể cưỡi ngựa vung gươm, dẫn đầu quan
quân ra trận và đánh tan lũ giặc hung tàn, nhưng bất cứ ai cũng đều tin rằng,
hễ có giặc thì hết thảy già trẻ gái trai nước Việt đều hăm hở ra chiến trường.
Chí lớn và tài cao chẳng phải lúc nào cũng đi đôi với tuổi tác.

Thắng
trận rồi, đứa trẻ lẳng lặng bay lên trời, không bàn tâm suy tính công lao,
chẳng băn khoăn gì về sự ân thưởng. Mới hay, lòng dân muôn đời vẫn vậy, bình
thản lo đại nghĩa một cách vô tư. Người có công tạo lập và gìn giữ thái bình
chẳng hề đòi hỏi bất cứ một điều gì cho riêng mình cả.

Từ
Lý Thái Tổ trở đi, các vua nối nhau đều phong thần cho đứa trẻ quê ở Phù Đổng.
Chính hương khói của việc thờ phụng này đã góp phần không nhỏ vào việc tạo ra
khí phách hiên ngang và sự vô tư lạ kì cho lớp lớp những thế hệ trẻ, vì nước
quên than, vì dân quên mình. Kính thay!

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3