40 gương thành công - Chương 31 + 32
31. Clarence Darrow
Cách đây gần ba phần tư
thế kỷ, một cô giáo bạt tai một em nhỏ vì em đó không chịu ngồi yên trong lớp,
cựa quậy, vặn vẹo người hoài. Cô bạt tai em trước mặt những em khác, làm em bị
nhục đến nỗi em la khóc trên suốt con đường về nhà. Lúc đó em mới năm tuổi mà
đã thấy rằng cô giáo đối với em quá tàn nhẫn và bất công, em sinh oán ghét sự
tàn nhẫn và bất công, sau này chiến đấu suốt đời để diệt hai cái đó.
Tên em nhỏ đó là
Clarence Darrow, nhà cố vấn về hình luật danh tiếng nhất đương thời ở châu Mỹ.
Tên ông thường chiếu rực rỡ bằng chữ lớn trên hàng đầu trang một của mọi tờ
nhật báo trong xứ. Ông là một chiến sĩ bênh vực cho những kẻ bị ức hiếp.
Các ông già bà cả ở Ashtabula, xứ Ohio,
hiện nay còn nhắc lại vụ kiện thứ nhất ông đã cãi. Việc rất tầm thường, chỉ là
bênh vực người làm chủ một bộ yên ngựa cũ có giá trị một Anh kim. Nhưng đối với
Clarence Darrow, đó là một vấn đề nguyên tắc phải theo đúng. Con rắn độc bất
công đã ngóc đầu lên thì ông phải tấn công nó, như tấn công con hổ ở Ấn Độ vậy.
Thân chủ ông chỉ trả ông có một Anh kim, ông bỏ thêm tiền túi ra để bênh vực
người đó tại bảy tòa án trong bảy năm trời và thắng kiện.
Darrow nói rằng không
bao giờ ông ham tiền bạc hay danh vọng. Ông tự cho mình là một thằng tướng đại
lãn. Mới ra đời, ông dạy học. Một hôm một việc xảy ra, thay đổi hẳn đời ông.
Trong châu thành có một người thợ rèn lúc nào rảnh việc đóng móng ngựa thì học
luật. Clarence Darrow nghe người đó biện hộ trong một vụ tranh chấp tại một
tiệm thợ thiếc, bị lời lẽ hoạt bát và hùng hồn của người nhà quê đó làm cho mê
mẩn. Ông cũng muốn tranh biện được như họ nên ông hỏi mượn những sách luật của
người thợ rèn và bắt đầu học luật. Mỗi sáng thứ hai ông thường mang sách luật
lại trường để học trong khi học trò ông học địa lý và toán.
Ông nhận rằng nếu không
có một chuyện kích thích ông hoạt động thì suốt đời ông chỉ là một nhà cố vấn
pháp luật ở làng.
Hai vợ chồng ông tính
mua một căn nhà nhỏ ở Ahstabula, xứ Ohio
của một nha y. Giá tiền là bảy trăm Anh kim. Ông rút hết số tiền gởi ngân hàng
ra, được một trăm Anh kim, trả cho chủ nhà, còn bao nhiêu xin góp lần làm nhiều
năm. Việc thu xếp đã gần xong thì vợ người nha y đó không chịu ký văn tự.
Mụ tỏ vẻ khinh bỉ, bỉu
môi nói:
-Này chú, tôi tin rằng
suốt đời, chú cũng không kiếm ra được bảy trăm Anh kim đâu.
Darrow nổi dóa, nhất
định không chịu ở một tỉnh có hạng người như vậy nữa. Và ông phủi chân cho hết
đất bụi ở Ashatabula, mà lại Chicago.
Năm đầu ở Chicago ông kiếm được có
sáu chục Anh kim, không đủ trả tiền mướn phòng. Nhưng năm sau ông kiếm được gấp
mười số đó, sáu trăm Anh kim nhờ làm luật sư đặc biệt cho châu thành.
Ông nói: Khi đời tôi bắt
đầu thay đổi thì tôi thấy mọi sự may mắn tới dễ dàng và nhanh chóng quá. Không
bao lâu ông làm phó Chưởng lý cho công ty xe lửa Chicago and North Western, và tiền vô như
nước. Lúc đó một vụ đình công bùng nổ. Oán thù! Rối loạn! Đổ máu.
Cảm tình của Darrow về
phía người đình công. Khi Eugene Debs người cầm đầu công ty xe lửa bị đem ra
xử, Darrow bỏ việc một cái một, và đáng lẻ bênh vực công ty thì ông bênh vực
thợ thuyền. Đó là vụ cãi sôi nổi nhất của Darrow mà mỗi vụ cãi của ông đều là
trụ đá ghi con đường trong lịch sử tòa án. Chẳng hạn vụ Leopold và Loed tự thú
đã giết em bé Bobby Franks. Dư luận bất bình vô cùng, ghê tởm vì sự tàn nhẫn
của kẻ sát nhân đến nỗi khi Clarence Darrow đứng bênh vực hai tên đó, ông bị
công chúng chửi rủa, hành hạ gọi là thằng giết người. Mà tại sao ông lại làm
như vậy? Ông nói "Dù quần chúng oán ghét tôi, tôi cũng làm. Tôi không muốn
cho một thân chủ nào của tôi bị tội xử tử hình, và nếu họ bị xử tử hình thì tôi
có cảm tưởng rằng tôi cũng gần như chết vậy. Không bao giờ tôi có thể đọc được
một tin tử hình. Tôi luôn luôn đi khỏi châu thành trước ngày xử tử. Tôi kịch
liệt chống lại sự tử hình".
Ông nói rằng xã hội sinh
ra tội nhân và bất kỳ người nào cũng có thể mắc tội này hay tội khác.
Chính ông đã từng trãi,
biết cảnh bị tòa xử mình rồi. Có lần ông bị buộc tội là hối lộ quan tòa, và ông
phải đem hết tài hùng biện ra tự bênh vực. Nhưng lần đó ông thấy được một tấm
lòng biết ơn cảm động nhất trong đời ông. Một thân chủ cũ của ông gặp ông,
nói:" Khi tôi mắc nạn, ông cứu cho tôi khỏi bị thắt cổ, mà nay ông mắc
nạn, tôi không giúp lại ông được gì. Làm sao giết được đứa đã làm chứng gian để
vu oan cho ông?"
Mấy năm trước, ông đã
xuất bản một cuốn kể đời ông, và tôi còn nhớ đã thức rất khuya để đọc chương
trong đó ông vạch nhân sinh quan của ông. Ông viết:
"Tôi không biết
chắc tôi đã làm được nhiều hay ít. Tôi đã lầm lỗi trên con đường của tôi, và
tôi đã cướp được của định mạng bủn xỉn càng nhiều nỗi vui càng tốt. Công việc
ngày nào đủ cho ngày ấy, miễn là ta không quên hướng đi và cái đích trên đường
đời. Tôi không thấy được rằng tôi đã già. Tôi mới bắt đầu đi trên đường đời đây
mà, với tất cả thế giới và thời gian vô biên ở trước mặt; mà bây giờ cuộc hành
trình đã gần xong và ngày đã gần tàn.
Nhưng quãng đường tôi đã
giẫm chân lên ngắn biết bao so với quãng đường vô cùng tôi chưa bước
tới".
32. Eddie Rickenbacker
Đây là truyện một người
cơ hồ không có gì làm cho chết được, một người đã thách tai biến, đã đ ùa cợt
với thần chết trong một phần tư thế kỷ. Ông đã chạy vù vù trên đường đua, với
một tốc lực làm rợn tóc ráy, trong hơn hai trăm cuộc đua xe hơi; và trong những
ngày đổ máu năm 1918, ông bắn rớt hai mươi sáu máy bay Đức, bắn rớt ở trên
không trung, trong khi đạn vèo vèo nổ ở bên tai ông; vậy mà không bao giờ ông
bị một vết trầy da nào gọi là có.
Ông tên là Eddie
Rickenbacker, đã chỉ huy phi đội danh tiếng Hat-in-the-Ring, là phi công lỗi
lạc nhất của Mỹ trong đại chiến thứ nhất.
Sau chiến tranh, ông là
người dìu dắt cho Ross Smith, phi công nổi danh của Úc, người thứ nhất đã bay
trên Đất Thánh (tức Jérusalem) và người thứ nhất đã bay được một nửa vòng trái
đất. Tôi thấy Ross Smith và Eddie Rickenbacker có nhiều chỗ giống nhau, đều cực
kỳ bình tĩnh và nhũn nhặn, ăn nói ngọt ngào, khác hẳn hạng người quen ria súng
giết giặc ở trên không.
Cho tới hồi mười hai
tuổi, Eddie Rickenbacker là một thanh niên rừng rú, không có kỷ luật, tính tình
nóng nảy, cầm đầu một bọn du côn lối xóm, đập bóng đ èn ngoài đường và phá
phách đủ thứ. Rồi một việc buồn xảy ra.
Thân phụ ông mất và chỉ
trong nửa tháng ông thay đổi hẳn.
Ngày đưa đám thân phụ,
ông nhận thấy mình thành chủ trong gia đình. Ông bèn bỏ học, xin một việc trong
một xưởng làm kính, được hai cắc rưỡi một giờ, và mỗi ngày ông làm mười hai
giờ. Ông đi bộ mười hai cây số tới xưởng mỗi buổi sáng, và mười hai cây số về
mỗi đ êm để đỡ tốn năm xu xe điện. Ông nhất định tiến tới. Không có gì làm ông
ngừng được. Công việc trong xưởng không có gì thay đổi, buồn chán đến chết
được. Ông ghét nó lắm. Ông muốn thành một nghệ sĩ, muốn sáng tác, xây những
mộng màu sắc rực rỡ. Ông học vẽ trong một lớp ban đ êm và xin được việc đục
hình các thánh trên đá hoa cho một nhà bán mộ chí. Chính ông đã đục mộ chí trên
mộ thân phụ ông. Nhưng người ta bảo ông công việc đục mộ chí đó rất nguy hiểm,
vì phải hít những bụi đá vào phổi. Ông nói:"Tôi không muốn chết yểu, nên
tìm một việc khác ít nguy hiểm hơn".
Năm ông mười bốn tuổi,
một buổi sáng, ông đứng trên vỉa hè nhìn chiếc hơi đầu tiên ông thấy trong đời
ông, một cái xe kỳ cục, nổ bịch bịch, điếc cả tai, rầm cả đường phố Columbus ở Ohio.
Nhưng chiếc xe đó đối với ông là chiếc xe tiền định. Nó thay đổi hoàn toàn đời
ông.
Cách đó ít lâu, ông xin
được việc trong một hãng sửa xe, và tập lái xe ra, lái xe vô trong một căn nhà
bằng cây hồi trước dùng làm chuồng ngựa. Ông dựng một xưởng ở sân phía sau, chế
tạo lấy đồ dùng và dự bị đóng lấy một chiếc xe hơi. Ngay lúc đó, một xưởng đóng
xe hơi bắt đầu mở ở Columbus,
và chủ nhật nào ông cũng tới đó xin việc, nhưng chủ nhật nào người ta cũng đuổi
ông đi. Sau khi bị đuổi tới lần thứ mười tám, ông trở lại nữa và nói với người
chủ lúc đó rất ngạc nhiên:"Thưa ông, dù muốn hay không ông cũng đã có một
người thợ mới rồi đấy. Sáng mai tôi lại đây làm. Ông thấy không, sàn ông dơ đây
này. Tôi sẽ chùi nó. Tôi sẽ chạy những việc vặt cho ông và mài đồ dùng cho
ông".
Còn tiền công? Ông không
hề thốt một lời gì về tiền công hết. Ông chỉ cần có cơ hội để khởi sự và ông đã
được cơ hội đó. Rồi ông xin học một lớp hàm thụ về cơ giới, ông tự dự bị sẵn
sàng để thời cơ tới là ông tiến.
Từ hồi đó trở đi, ông
tiến mau: thợ rồi lên cai, lên đốc công, rồi đứng bán xe, rồi làm giám đốc một
ngành.
Rồi ông đâm ra thèm lái
xe nhanh, khao khát mạo hiểm. Lòng ông chỉ ước mơ tiếng vỗ tay và sự kích thích
trong một cuộc đua xe. Ông biết rằng muốn vậy thì ông phải thay đổi con người
của ông đi. Và ông quả quyết diệt tánh nóng nảy của ông. Ông tập tự chủ. Ông
tập mỉm cười cho tới khi ông nổi danh về mỉm cười.
Nghề đua xe hơi cần có
những gân cốt gang thép. Ông biết vậy. Cho nên ông bỏ hút thuốc, bỏ uống rượu,
và mỗi tối cứ đúng mười hai giờ là đi ngủ. Như vậy, hồi hai mươi lăm tuổi Eddie
Reckenbacker thành một trong những nhà chạy đua xe hơi nổi tiếng nhất.
Và đây mới là chuyện nực
cười! Trong ba chục năm nay, ông lái xe hơi hàng trăm ngàn cây số, mà không hề
có một giấy phép lái xe, ngay bây giờ cũng không có.
Ông không tin bùa. Bạn
thân ông thường tặng ông các thứ bùa may, như chân thỏ, móng ngựa nhỏ
xíu...Nhưng một hôm, ngồi xe lửa, ông liệng hết những bùa đó qua cửa sổ xuống
cánh đồng Kansas.
Khi châu Mỹ dự cuộc đại
chiến thứ nhất, khắp giới lái xe hơi ngưỡng mộ ông: ông vượt đại dương, qua
Pháp lái xe hơi cho đại tướng Pershing. Nhưng lái xe cho đại tướng, đối với
ông, là công việc buồn quá. Ông muốn hoạt động kia, và ông được hoạt động.
Người ta cho ông lái phi cơ và đưa ông một cây súng; trong mười tám tháng ông
đã viết tên ông lên hàng đầu bảng phương danh những vị anh hùng trong đại
chiến, và ngực ông đầy huy chương của ba chính phủ.
Trong một cuốn sách bán
rất chạy, dầy ba trăm bảy chục trang, ông kể những trận anh hùng của ông. Cuốn
đó nhan đề là Fighting the Flying Circus là một trong những chương rùng rợn
nhất của lịch sử không quân.

