Đức Phật và Nàng p1 - Chương 03 - 04

Chương 3: Tôi biết mình
đang ở đâu

 

Sáng sớm hôm sau, chúng
tôi thu dọn và lên đường. Tôi đã khỏe lại, ăn của người ta, ở của người ta thì
phải góp công góp sức với người ta chứ nhỉ! Buồn thay, tôi lại không hiểu họ
nói gì, nên khi thu dọn lều bạt, sự lóng ngóng của tôi chỉ khiến họ thêm vướng
chân vướng tay. Nhưng họ rất hiền hòa, không trách mắng gì cả, vả lại, dĩ nhiên
rồi, họ có trách mắng, tôi nghe cũng chẳng hiểu.

 

Họ dành riêng cho người
lạ từ trên trời rơi xuống là tôi một chú lạc đà. Nhưng bộ xiêm y người Hán với
ống tay rộng thùng thình và chiếc váy dài chấm gót khiến tôi không làm cách nào
trèo lên lưng lạc đà được. Tôi nhìn bộ váy áo lòa xòa lôi thôi, rồi lè lưỡi
nhìn tiểu hòa thượng với vẻ bất lực và cầu cứu.

 

Hòa thượng nở nụ cười
hồn hậu, quay lại trao đổi một hồi với người phụ nữ đứng tuổi, lát sau, một bộ
trang phục giống như của họ được đem tới. Tôi thay đồ, hơi rộng, cũng phải
thôi, thân hình của họ cao lớn thế kia mà. Áo dài đến đầu gối, tay phải thắt
ống, vai phải xẻ, quần rộng, ống kiểu Al­iba­ba, ủng cao đến đầu gối, ha ha,
hợp mốt đấy chứ! Phụ nữ thời Hán ai mà dám mặc áo hở vai? Nhưng điều quan trọng
là với bộ quần áo như thế này, việc lên xuống lạc đà không còn khó khăn nữa.
Buổi sớm trên sa mạc vẫn giá buốt, tiểu hòa thượng ân cần mang cho tôi một
chiếc khăn quàng.

 

Tôi nhẩm tính, cả đoàn
cũng phải chừng sáu mươi người, nhưng tính cả tôi cũng chỉ có tổng cộng năm
người phụ nữ. Ngoài tiểu hòa thượng, những người còn lại đều bận quân phục và
giắt bên mình một thanh kiếm dài của tướng sĩ thời xưa. Và với biểu cảm trên
khuôn mặt họ, thì mọi sự tập trung đều dồn cả vào hai mẹ con ni cô.

 

Tôi có đôi chút băn
khoăn, trước đây, tôi mới chỉ thấy hòa thượng và ni cô có người hầu đi cùng,
chứ chưa từng gặp hòa thượng và ni cô dẫn theo một đội quân thế này. Càng quan
sát càng nhận thấy vẻ quan cách toát ra từ cử chỉ và lời nói của họ, rõ ràng
hai mẹ con hòa thượng có thân phận không tầm thường. So với những người khác,
trình độ tiếng Hán của tiểu hòa thượng là khá nhất, vượt xa cả người mẹ xinh
đẹp, nên tôi chọn đi cạnh hòa thượng để nghe ngóng tình hình. Tuy gi­ao tiếp
khó khăn, nhưng tôi cũng nắm bắt được khá nhiều thông tin.

 

Tôi gặng hỏi hòa thượng
có biết hiện ai đang làm vua vùng Trung Nguyên hay không. Hòa thượng suy nghĩ
hồi lâu mới phát âm ra một tiếng gần giống với “Tần/Thanh”. Vậy hẳn là nhà Tần
rồi! Không thể là nhà Thanh, nhóm chuyên gia đã khẳng định, cỗ máy vượt thời gi­an
chỉ có thể đưa được con người về lại khoảng thời gi­an hai ngàn năm trước.

 

Tôi lại hỏi hòa thượng
học tiếng Hán ở đâu. Hòa thượng hoa chân múa tay hồi lâu tôi mới hiểu sơ sơ,
rằng ở Kuchi hòa thượng có hai thầy giáo người Hán. Hòa thượng thẹn thùng bộc
bạch, là bản thân mới học tiếng Hán được vài tháng mà đã năm năm rồi không
luyện khẩu ngữ, nên trò chuyện không được lưu loát.

 

Tôi quá đỗi kinh ngạc.
Hòa thượng chưa đến mười sáu tuổi, vậy là cậu bắt đầu học tiếng Hán khi mới
mười, mười một tuổi, năm năm bỏ bẵng, nhưng vẫn có thể gi­ao tiếp khá thế này,
trí nhớ của hòa thượng thật đáng khâm phục. Thời gi­an học đại học, tôi lựa
chọn học ngoại ngữ tiếng Đức, sau vài năm không ngó ngàng đến, giờ đây tôi chỉ
nhớ mỗi câu ICH LIEBE DICH (Em yêu anh), nếu yêu cầu tôi trò chuyện với người
Đức, sẽ chẳng khác nào như vịt nghe sấm.

 

Vì tôi tiếp đất giữa sa
mạc mênh mông, nên tôi chỉ có thể suy đoán nơi này hoặc là thuộc Tây vực hoặc
là thuộc Mông Cổ. Tôi thử hỏi về con đường tơ lụa, nhưng hòa thượng không hiểu.
Chỉ khi tôi giải thích, tơ lụa và lá trà được vận chuyển từ Trung Nguyên đến
tiêu thụ tại Đại Thực (nay thuộc các Tiểu vương quốc Ả Rập), Ba Tư (nay là I-
ran), Đại Tần (nay là Ro­ma) trên con đường này, thì hòa thượng mới gật đầu.
Hòa thượng cho biết, Kuchi nằm trên con đường này. Và trong tôi chợt bừng lên
một tia hy vọng.

 

Tiếp đó, tôi vắt cạn bộ
nhớ để kể ra những địa danh liên quan đến con đường tơ lục: Yên Kỳ (Yan­qi),
Thiện Thiện (Shan­shan), Sơ Lặc (nay thuộc Kash­gar, Tân Cương), Lâu Lan, Hòa
Điền (nay thuộc Hotan, Tân Cương), Ô Tôn (nay thuộc Ili, Tân Cương), Đôn Hoàng,
… Trong số đó có một vài địa danh mà sau khi nghĩ ngợi một lúc, hòa thượng nhắc
lại bằng một âm tương tự, những âm còn lại rất khó nhận biết. Khi kể đến địa
danh Khâu Từ, tôi sững lại. Kuchi, Khâu Từ (Qiu Ci, nay thuộc huyện Kucha, Tân
Cương). Hai âm này rất giống nhau, lẽ nào là quốc gia có nền văn minh phát
triển và giàu mạnh nhất vùng Tây vực thời cổ đại?

 

Tôi nhìn hòa thượng và
thử đọc lại tên Khâu Từ. Hòa thượng ngập ngừng giây lát rồi gật đầu và chỉ vào
mình. Trời ơi, cuối cùng thì tôi biết mình đang ở đâu rồi. Tôi đã đến Tây vực,
Tây vực đời Tần!

 

Vậy thì những người Khâu
Từ mà tôi gặp trên đường đi này chính là người Tochari. Tài liệu lịch sử chép
lại rằng, tổ tiên của người Khâu Từ là tộc người Da Yue Zhi, hay còn lại là
người Tochari. Đầu dài, mũi cao, mắt sâu, môi mỏng, da trắng, thuộc giống người
châu Âu nguyên thủy. Các bộ lạc Tochari đã kết thúc đời sống du mục vào khoảng
một nghìn năm trước Công nguyên và bắt đầu định cư tại Kucha, Yan­qi và Tur­pan.
Tôi đã đến tham quan rất nhiều viện bảo tàng khi đi du lịch Tân Cương và rất
thích thú khi ngắm nghía các xác ướp, những xác ướp được lưu giữ gần như toàn
vẹn sau hơn ba nghìn năm, khuôn mặt xác ướp vẫn hiểu hiện rõ nét đặc điểm ngoại
hình của người châu Âu, nổi tiếng nhất là xác ướp mỹ nữ Lâu Lan. Nhưng có lẽ vì
nằm trên huyết mạch chính của con đường tơ lụa, là nơi tập trung và lai tạp
giữa nhiều tộc người khác nhau, nên người Khâu Từ có khuôn mặt tròn hơn người
châu Âu hiện đại.

 

Niềm hứng khởi đang lên
cao thì lập tức bị kéo xuống. Những ghi chép về Tây vực thời kỳ nhà Tần rất ít
ỏi, hầu như chỉ tồn tại trong “Tây vực truyện” thuộc sách “Hán thư”. Lịch sử
Tây vực trong trí nhớ của người Hán được bắt đầu từ thời Hán Vũ Đế: Trương
Khiêm đến Tây vực, kết thân với Ô Tôn (Wu Sun), dựng trại làm ruộng, gây chiến
với Hung Nô suốt mấy trăm năm. Nhưng được đến thời kỳ nhà Tần cũng rất tuyệt.
Tôi phải lên đường đi Trường An ngay mới được, để có thể tận mắt chứng kiến
những biến động to lớn cuối đời Tần, để được diện kiến những nhân vật lừng danh
trong lịch sử.

 

Tôi lặp đi lặp lại
nguyện vọng tha thiết đó với tiểu hòa thượng. Hòa thượng trầm tư một lát rồi
gật đầu và hứa sẽ sắp xếp. Nhưng cũng nói thêm, đường xa vạn dặm, phải một năm
mới đến nơi, hơn nữa hiện đang là thời kỳ chiến tranh loạn lạc, muôn phần nguy
hiểm.

 

Trời, chiến tranh xảy ra
rồi ư? Vậy thì tôi lại càng không thể chần chừ. Tôi vui vẻ bảo rằng không sao
cả, hòa thượng băn khoăn nhìn tôi, đôi mắt màu xám nhạt lộ vẻ kinh ngạc. Tôi
không biết phải giải thích thế nào để hòa thượng hiểu vì sao một cô gái như tôi
lại hứng thú với chiến tranh đến vậy, nên chỉ cười trừ.

 

Câu chuyện giữa chúng
tôi kéo dài đến gần trưa. Trời mùa thu lúc chính Ngọ nắng rất gắt gao, tôi phải
trùm kín đầu bằng chiếc khăn quàng vai. Tiểu hòa thượng kéo thấp chiếc áo
choàng dài, để lộ bờ vai phải, dưới ánh nắng rực rỡ, nước da bánh mật phản
chiếu sức sống, nét khỏe khoắn và vẻ tráng kiện của tuổi trẻ. Lối trang phục để
vai trần bên phải này vốn là trang phục phổ biến của giới tăng ni ở Ấn Độ và
Tây vực. Sau đó, Phật giáo được truyền bá vào Trung Nguyên, kiểu trang phục này
dần được cải biên, có câu “nhập gia tùy tục” mà. Thời tiết Ấn Độ nóng bức, Tây
vực thì nằm trong vùng sa mạc, hoang mạc mênh mông, chênh lệch nhiệt độ ngày
đêm rất lớn, nên kiểu trang phục kín đáo vào buổi sáng và buổi tối, hở vai vào
buổi trưa này rất phù hợp với điều kiện thời tiết nơi đây.

 

Khuôn mặt hòa thượng
bỗng nhiên ửng đỏ, ánh mắt rời khỏi tôi trôi về phía xa xăm. Lúc này mới chợt
nhận ra tôi đã chăm chú ngắm nhìn hòa thượng rất lâu, xấu hổ hết chỗ nói! Trang
phục đặc biệt này tôi mới chỉ thấy qua các bức bích họa, được tận mắt chiêm
ngưỡng người thật trong trang phục thật thế này, đôi mắt tôi như bị thôi miên,
cứ dán chặt vào, quên cả phép lịch sự. Không thể lôi công tác nghiên cứu ra để
biện bạch cho hành vi của mình, tôi chỉ còn cách duy nhất là cười khì khì giả
ngây ngô.

 

Chúng tôi dừng chân nghỉ
ngơi tại một rừng dương nhỏ. Những người hầu cận nhanh chóng dựng lều và nhặt
cành dương khô nhóm lửa nấu mì. Sau khi lót dạ bằng một bát mì nóng và những
chiếc bánh Tây vực, tôi bắt đầu thèm ngủ. Hai mẹ con hòa thượng dùng bữa xong
liền vào trong lều tụng kinh, họ đặt trên gối một cuốn kinh thư. Lòng hiếu kỳ
kéo tôi lại gần họ, kết quả là tôi luôn luôn bị bất ngờ.

 

Kinh thư được viết trên
lụa, chữ viết rất lạ, hình như là những kí tự, bao gồm rất nhiều đường nét
giống hình số 8 được viết thẳng và viết ngang. Tuy đọc không hiểu, nhưng tôi
không hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ này, loại văn tự này có lẽ là văn tự Tochari
đã thất truyền từ rất lâu. Đây là ngôn ngữ Ấn Âu nguyên thủy cổ xưa nhất được
biết đến cho tới nay, ra đời dựa trên sự phát triển những kí tự của chữ viết
Brah­mi, Ấn Độ và cho đến nay vẫn chưa được giải mã triệt để.

 

Tôi run rẩy bò đến gần
và nhấc cuốn kinh thư phủ trên đầu gối tiểu hòa thượng, nghẹn ngào thốt lên:

 

- Trời ơi, đây là văn tự
Tochari, là văn tự Tochari đấy!

 

Nếu có thể mang cuốn
kinh thư này trở về, nó sẽ có giá trị nghiên cứu lớn lao biết chừng nào!

 

Ni cô xinh đẹp hơi chau
mày! Tiểu hòa thượng sau một thoáng giật mình, ngạc nhiên nhìn tôi:

 

- Cô biết văn tự này?
Đây là chữ Khâu Từ, không phải Tochari[2].

 

A, đúng rồi, Tochari là
cách đặt tên của người Đức, những người Khâu Từ này chắc chắn không biết
Tochari là tên gọi ngôn ngữ của họ. Nhưng con người ở thế kỉ XXI đã quen với
tên gọi đó. Tôi cười ngượng ngùng nhưng mắt vẫn dán chặt vào những hình số 8
xiêu vẹo kia, tự nhận thấy nỗi hưng phấn được tận mắt chiêm ngưỡng những dòng
văn tự Tochari sống động đang dâng cao không bút nào tả xiết.

 

Được nghe lại và thấy
lại một ngôn ngữ đã thất truyền đối với một người nghiên cứu lịch sử như tôi,
có ý nghĩa vô cùng lớn lao, không thể đo đếm. Để có thể giải mã những văn tự đã
chết, biết bao nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã phải dành cả cuộc đời để tìm kiếm dấu
tích trên những di chỉ, di cảo còn sót lại. Thế kỷ XVI­II, Cham­pol­lion lần
đầu tiên giải mã được chữ tượng hình Ai Cập, đã vén được bức màn bí ẩn phủ trên
mình lịch sử suốt mấy nghìn năm và ông được lưu danh thiên cổ. Hiện nay, các
nhà khoa học vẫn chưa có cách nào giải mã hoàn toàn văn tự Tochari, nếu như tôi
có thể đọc hiểu thứ ngôn ngữ này…

 

Tôi nắm chặt tay áo
thùng thình của tiểu hòa thượng:

 

- Làm ơn, dạy tôi tiếng
Tochari, à không, tiếng Khâu Từ!

 

Hòa thượng sững sờ chốc
lát, rồi quay ra hỏi:

 

- Cô biết chữ Hán chứ?

 

- Tất nhiên rồi.

 

Đến phiên tôi ngạc
nhiên.

 

Hòa thượng quay sang
chuyện trò một hồi lâu với ni cô. Ni cô ngước nhìn tôi một lát rồi nói mấy câu
với con trai. Hai mẹ con họ trao đổi khá lâu khiến tôi không khỏi hụt hẫng.
Đang lo sợ bị từ chối, thì tiểu hòa thượng quay lại nhìn tôi, đôi mắt màu nâu
nhạt ánh lên nét tinh nghịch:

 

- Tôi sẽ dạy cô, nhưng
đổi lại cô phải dạy tôi tiếng Hán.

 

Tôi thở phào, thì ra cậu
ta muốn có đi có lại, tốt thôi!

 

- Được chứ.

 

Ngập ngừng giây lát, tôi
bổ sung thêm:

 

- Tuy tôi không uyên
thâm kinh thư Phật pháp, nhưng tôi có thể dạy cậu chữ Hán, giảng giải “Luận
ngữ”, “Kinh thi”, “Tả truyện”, “Chiến quốc sách”.

 

Tôi nghiên cứu lịch sử,
không phải Phật học. Tôi có tìm hiểu đôi chút về lịch sử Phật giáo, nhưng đi
sâu vào những nội dung cụ thể của Phật giáo tam tạng như: kinh tạng, luật tạng,
luận tạng thì tôi hoàn toàn không biết gì. Tôi thực sự tiếc nuối, sớm biết sẽ
vượt thời gi­an đến nơi đây, đồng hành cùng mấy vị hòa thượng ni cô thế này,
tôi đã chăm chỉ nghiên cứu về Phật học rồi.

 

- Không hiểu kinh Phật
cũng không sao, cô dạy tôi những kinh văn kia là đủ.

 

Tiểu hòa thượng có vẻ
rất vui mừng, vì tôi thấy nụ cười ấm áp lẩn khuất sau hàng lông mày dài tuyệt
đẹp.

 

Tôi bỗng nghĩ, kinh Phật
lưu truyền ở Trung Nguyên đều được dịch từ tiếng Phạn và một số ngôn ngữ thuộc
Tây vực. Hòa thượng là người Khâu Từ, đâu cần phải học kinh Phật tiếng Hán, hòa
thượng người Hán học kinh Phật từ tiểu hòa thượng này mới đúng chứ!

 

Hôm đó, tôi còn phát
hiện thêm điều thú vị này nữa: sau bữa trưa, hai mẹ con hòa thượng không ăn
thêm bất cứ thứ gì. Người cổ đại chỉ ăn hai bữa một ngày, giới tăng ni càng
nghiêm khắc hơn.

 

Hỏi tiểu hòa thượng thì
được trả lời bằng tiếng Hán bập bõm rằng, giới luật quy định, hòa thượng có thể
dùng bữa trong khoảng thời gi­an từ sáng đến trưa, nhưng bắt đầu từ buổi chiều
cho đến buổi sáng ngày tiếp theo, hòa thượng không được phép ăn uống bất cứ thứ
gì.

 

Giới luật này được đặt ra
xuất phát từ câu chuyện: một đệ tử của Phật Thích Ca đi khất thực vào buổi
chiều muộn, lúc ấy trời đã nhá nhem tối, một người phụ nữ mang thai lầm tưởng
vị hòa thượng đó là ma, đã quá sợ hãi dẫn đến đẻ non. Từ đó, Phật Thích Ca đã
đặt ra giới luật này. Nhưng những người ốm đau bệnh tật hoặc những người lao
động vất vả, thì vẫn được phép ăn bữa tối, để duy trì sức khỏe.

 

Tôi gật gật đầu. Vào
thời đại của Phật Thích Ca, các hòa thượng dành phần lớn thời gi­an cho việc
ngồi thiền, nên năng lượng tiêu hao không nhiều, không ăn bữa tối cũng không
sao. Nhưng khi Phật giáo được truyền vào đất Hán, các nhà sư Trung Nguyên vẫn
ăn tối như người thường. Bởi vì, ở Trung Nguyên, nhà sư cũng phải làm ruộng,
nên đã chủ động thay đổi giới luật. Điều đó chứng minh tính linh hoạt của tín
ngưỡng Phật giáo. Có lẽ vì thế, trải qua mấy nghìn năm, Phật giáo vẫn phát
triển mạnh mẽ.

 

Quan sát cách họ ăn cơm
và uống nước đều nhận thấy nhiều điều thú vị. Đám thị nữ dùng một vật dụng gần
giống với túi lưới, lọc nước rồi mới mang đến cho hai mẹ con hòa thượng
uống[3]. Lúc đầu tôi cứ đinh ninh, hẳn là họ e ngại nước trên sa mạc chứa nhiều
tạp chất, nặng mùi phèn nên lọc qua một lần rồi mới uống. Nhưng đến khi thấy
nước dành cho mình không cần lọc, liền cảm thấy kì lạ.

 

Tiểu hòa thượng lại ra
sức giải thích cho tôi hiểu: các nhà sư trước khi uống phải lọc nước để tránh
nuốt vào bụng những sinh vật có trong nước, nếu không, sẽ vô tình mắc tội sát
sinh. Bởi vậy, giới luật của nhà Phật quy định, nhà sư phải luôn mang theo bên
mình túi lọc nước, nếu không, họ không được phép rời khỏi nơi ở quá hai mươi
dặm.

 

Lời giải thích của tiểu
hòa thượng khiến tôi lập tức nhớ tới câu chuyện Trần Huyền Trang khi xưa một
mình đi giữa sa mạc mênh mông không bóng người, mặc dù sắp lả đi vì khát, nhà
sư vẫn đổ hết nước trong túi da của mình đi. Vì Huyền Trang kiên trì tuân thủ
giới luật, không uống nước khi chưa được lọc sạch.

 

Buổi tối, tôi ngồi bên
đống lửa ngoài lán trại, chăm chú ghi chép lại tất cả những điều mắt thấy tai
nghe mấy ngày qua. Trên cao, ngàn vạn ngôi sao lấp lánh giữa nền trời xanh
thẫm.

 

Còn nhớ những ngày tháng
du lịch Tân Cương ở thế kỷ XXI, tôi cũng từng ngước lên bầu trời trong vắt giữa
đêm khuya thanh vắng và tự hỏi, phải chăng người xưa cũng từng ngắm nhìn bầu
trời đêm này như tôi? Và, bầu trời sao tôi nhìn thấy đêm nay, phải chăng cũng
là bầu trời sao thuần khiết mà một nghìn năm sau tôi lại được nhìn ngắm? Tôi cứ
đắm chìm trong mối suy từ này không sao dứt ra khỏi. Tôi của hôm nay và tôi của
một nghìn năm về sau đang cùng hướng lên bầu trời thăm thẳm kia ư? Vậy rốt
cuộc, tôi đã xuất hiện và tồn tại như thế nào?

 

Chương 4: Thiên tài ngôn
ngữ

 

Ngày thứ ba, chúng tôi
dựng trại ven một dòng sông đang mùa nước cạn. Mẹ con tiểu hòa thượng đã bắt
đầu tụng kinh, họ không ăn tối, tôi dùng bữa cùng với những người khác, vẫn là
bánh Tây vực và mì nóng. Tôi ở chung với những thị nữ khác, hòa thượng “quyền
quý” được dành riêng một lán trại với chế độ chăm sóc đặc biệt. Vì vậy, lớp
học, tất nhiên là được sắp xếp ở chỗ của hòa thượng.

 

Vừa bước vào trong lán,
tôi bỗng sững lại, Ji­ba đang cạo đầu cho con trai, những sợi tóc màu hung rơi
lả tả trên tấm vải trắng quấn quanh cổ hòa thượng. Hòa thượng mỉm cười với tôi
và ra hiệu cho tôi ngồi chờ một lát.

 

Tôi bắt đầu quan sát Ku­mala­ji­ba
trong thời gi­an chờ đợi. Vầng trán của cậu không bị nén dẹt như người mẹ. Và
thật mừng là các nhà sư sống trong thời đại và khu vực này không có tục lệ đốt
hương trên đỉnh đầu, bằng không, bên cạnh đau đớn về thể xác, những vết sẹo đó
sẽ phá hoại dung mạo gần như hoàn mỹ của tiểu hòa thượng.

 

Nghĩ đến những vết sẹo
đốt hương, bất giác tôi mỉm cười, đây vốn là “đặc sản” của văn hóa Phật giáo
Trung Nguyên.

 

Thực ra lúc đầu, cũng
giống như ở các quốc gia khác, hòa thượng Trung Quốc không đốt hương trên đỉnh
đầu. Được biết tục lệ này vốn do Lương Vũ Đế – vị vua cuồng tín đạo Phật thời
Nam Bắc triều khởi xướng. Vua Lương từng ba lần quyết tâm xuất gia, nhưng cả ba
lần đều “bị” các đại thần “chuộc” về bằng rất nhiều ngân lượng.

 

Vì muốn nhanh chóng mở
rộng diện ảnh hưởng của đạo Phật và tăng số lượng tăng ni Phật tử, nhà vua đã
hạ chỉ miễn tội cho tất cả các tử tù, buộc họ xuất gia làm hòa thượng. Nhưng vì
lo ngại đám tử tù bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, ngài lệnh “kiểm hình” (khắc chữ
trên mặt) Lương Vũ Đế còn ban chỉ dụ đốt hương trên đỉnh đầu các tử tù để dễ
dàng nhận dạng trong quá trình truy bắt.

 

Cá nhân tôi cho rằng,
tục lệ đốt hương trên đầu hòa thượng ở Trung Quốc xuất phát từ mục đích của nhà
cầm quyền. Các nhà sư không tham gia sản xuất, không nộp thuế, không sinh con
cái, nếu số lượng tăng ni quá nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến năng lực sản xuất.
Thêm vào đó, giới luật “không sinh con” của Phật giáo mâu thuẫn sâu sắc với
luân thường đạo lý thời xưa “trong ba tội bất hiếu, không có con nối dõi là tội
nặng nhất”. Những thảm kịch “hủy diệt đạo Phật” diễn ra trong lịch sử đều có
nguyên nhân sâu xa từ yêu cầu duy trì phát triển kinh tế và bảo vệ những luân
lí đạo đức vốn có từ lâu đời. Tuy nhiên, sự tồn tại của tôn giáo là không thể
thiếu, tôn giáo giúp gi­ai cấp thống trị giữ cho xã hội được ổn định. Vì vậy,
các nhà sư buộc phải có thẻ chứng nhận và nhà nước khống chế chặt chẽ số lượng
tăng ni. Dấu hiệu nhận biết bên ngoài của nhà sư chính là vết chấm cháy trên
đỉnh đầu. Những kẻ cạo trọc đầu giả mạo nhà sư sẽ dễ dàng bị phát hiện. Rất
mừng là sau giải phóng, tập tục này đã được xóa bỏ, nhưng tôi nghe nói, một số
chùa vẫn duy trì nghi lễ đốt hương này…

 

- Ngải Tình!

 

Tôi giật mình ngẩng lên,
tiểu hòa thượng mặt mày hớn hở. Vừa cạo đầu xong, trông cậu ta có vẻ sảng khoái
và phấn chấn. Tôi ngó nghiêng, Ji­ba đã ra ngoài lúc nào mà tôi không hay. Vội
theo sau tiểu hòa thượng đến bên chiếc bàn dài, tôi bắt đầu buổi học đầu tiên
của mình.

 

Tiểu hòa thượng dạy tôi
tiếng Tochari trước. Mặc dù hết sức tận tâm và kiên trì, nhưng vì trình độ tiếng
Hán có hạn, chữ Tochari lại khó nhớ, tôi cảm thấy khổ sở hơn cả ngày xưa học
tiếng Đức, tôi gắng sức tập trung, mồ hôi lăn đầy trên trán. Một tiếng sau thì
tôi mệt đến mức phủ phục xuống bàn học và yêu cầu được nghỉ giải lao. Giờ học
tiếng Tochari của tôi đã kết thúc trong rã rời như vậy.

 

Nghỉ ngơi một lúc thì
đến lượt tôi dạy tiểu hòa thượng tiếng Hán. Tôi từng tham gia giảng dạy xóa mù
chữ mỗi dịp nghỉ hè, nên tôi rất tự tin với những giờ dạy tiếng Hán sơ cấp.
Tiếng Hán nhập môn không quá khó vì đều bắt đầu với việc nhìn tranh học chữ.
Vấn đề ở chỗ, thời cổ đại chưa có khái niệm phiên âm, nên rất khó ghi nhớ cách
phát âm.

 

Phương pháp chú âm thời
cổ đại gọi là “phiên thiết”, tức là dùng âm của hai chữ khác (được coi là đã
biết cách đọc) ghép lại để chú âm cho một chữ Hán mà người đọc chưa biết cách
đọc. Thông thường sẽ ghép thanh mẫu (phụ âm đầu) của chữ phía trước với vận mẫu
(vần) và thanh điệu (dấu) của chữ phía sau. Ví dụ chữ “tú” có thể đọc thành “tê
u sắc”. Phương pháp phiên thiết sử dụng bảng chữ cái riêng gọi là “quảng vận”.
Nhưng tôi đâu phải cổ nhân, tôi không đọc được những chữ cái phiên thiết đó,
tôi cũng không dám áp dụng phương pháp phiên âm, vốn là phát minh của hai nghìn
năm sau, nên tôi đành đọc mẫu rồi yêu cầu hòa thượng mô phỏng theo và học thuộc
lòng.

 

Tôi lôi tập giấy nháp và
bút chì ra, vừa vẽ tranh vừa giảng giải. Hòa thượng tỏ ra rất hiếu kỳ với những
đồ dùng học tập mới lạ của tôi và không ngừng đặt câu hỏi: loại giấy trắng tinh
và chiếc bút chì ngòi cứng này làm thế nào mà có? Tôi đành phải nói dối rằng có
một người kỳ lạ đã tặng cho tôi, rằng trên đời này chỉ mình tôi có chúng và tôi
cũng không biết chúng được tạo ra bằng cách nào. Sau đó, tôi làm bộ nghiêm
khắc, yêu cầu hòa thượng chuyên tâm nghe giảng, không được hỏi gì thêm.

 

“Nhật nguyệt thủy hỏa
thổ, kim mộc nhĩ khẩu thủ”. Để chuẩn bị cho chuyến vượt thời gi­an này, tôi đã
dành ra một năm chuyên tâm luyện tập chữ phồn thể, nhưng cứ nghĩ đến thời nhà
Tần sử dụng chữ tiểu triện là tôi lại toát mồ hôi. Tôi chỉ có thể đọc hiểu mà
không thể viết được loại chữ này, mong là tôi không làm cho lịch sử bị sai khác
đi. Cũng may tiểu hòa thượng sinh sống ở Tây vực xa xôi, cậu ta khó mà đến được
Trung Nguyên.

 

Tiểu hòa thượng từng học
tiếng Hán nên vẫn nhớ khá nhiều chữ. Cậu ta rất chăm chỉ, hai mắt dính chặt vào
tập giấy tốc ký của tôi và gật gù liên tiếp. Mùi thơm dìu dịu của gỗ đàn hương
trên người tiểu hòa thượng tỏa lan trong không gi­an. Buổi lên lớp đầu tiên của
tôi đã kết thúc tốt đẹp trong hương thơm dễ chịu ấy.

 

Ngày hôm sau, chúng tôi
tiếp tục lên đường. Gi­ao tiếp giữa tôi và Ku­mala­ji­ba trở nên suôn sẻ hơn.
Cậu ta bắt chước rất nhanh, chỉ cần tôi cắt nghĩa một lần, cậu ta sẽ không hỏi
lại nếu trong bài giảng lần sau của tôi xuất hiện những từ đã học. Ngoài ra,
cậu ta còn biết cách sắp xếp lại theo đúng trật tự cú pháp: chủ ngữ, vị ngữ,
tân ngữ dựa trên quy tắc của ngữ pháp tiếng Hán.

 

Vào thời đại này, nếu gi­ao
tiếp với người Hán, hẳn tôi phải dùng lối nói văn ngôn cổ xưa. Nhưng với tiểu
hòa thượng Tây vực, tôi vẫn áp dụng phương thức gi­ao tiếp phổ thông của thế kỷ
XXI. Bởi vì hòa thượng là người nước ngoài, nên tôi không lo cậu ta phát hiện
ra tôi trò chuyện không đúng quy chuẩn của thời đại. Ku­mala­ji­ba thích tìm
hiểu về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán của cư dân vùng Trung Nguyên. Tôi
giảng giải cho cậu ta dựa trên những kiến thức đọc được trong sách lịch sử.
Càng ngày tôi càng cảm thấy tiểu hòa thượng không những tư chất thông minh, trí
nhớ siêu phàm mà cậu ta còn có một khả năng ngôn ngữ thiên bẩm đáng ngưỡng mộ!

 

Tôi hỏi Ku­mala­ji­ba vì
sao lại dẫn theo quân lính, thực ra mục đích chính của tôi là tìm hiểu thân thế
của tiểu hòa thượng. Cậu ta trả lời rằng họ đã đi chu du nhiều nước trong suốt
bốn năm qua, mà khoảng cách giữa các quốc gia là những sa mạc mênh mông, không
bóng dáng sự sống, thêm nữa, những nơi họ đi qua đều thuộc khu vực không có sự
cai quản, thường xuyên bị cướp bóc. Họ không thể không dẫn theo lính tráng để
bảo vệ một lượng lớn sách kinh Phật và xá lợi quý báu trên đường đi.

 

Huyền Trang khi xưa trên
đường tây du cũng từng nhiều lần bị cướp bóc. Tôi gật đầu đồng tình và xác nhận
tầm quan trọng của đội ngũ vũ trang. Nhưng tôi vẫn chưa tìm hiểu được thân thế
của hòa thượng, chỉ biết rằng, bốn năm trước họ dẫn theo đội quân tinh nhuệ này
rời khỏi Kucha. Nhưng chắc hẳn hai mẹ con họ có quan hệ với hoàng thất, vì chỉ
có hoàng thân quốc thích mới được quân đội của nhà vua đi theo bảo vệ như vậy.

 

Ji­ba lặng lẽ theo sau
lắng nghe câu chuyện của chúng tôi, khuôn mặt lúc nào cũng an nhiên, bình thản,
thi thoảng bà quay sang trao đổi đôi câu với con trai. Tuy không hiểu bà nói
gì, nhưng giọng nói dịu dàng ôn hòa của bà khiến tôi chắc chắn rằng bà không có
ý trách móc gì tôi. Lúc nào bà cũng nhã nhặn lịch thiệp. Tôi biết bà rất yêu
con, nhưng bà không hề có những cử chỉ thân mật mà một người mẹ thường dành cho
con mình, có lẽ vì họ là người xuất gia.

 

Nhưng đến thời gi­an
tụng kinh thì bà lại hết sức nghiêm khắc, vẻ trang trọng và thành kính hiện
trên nét mặt, ánh mắt cúi xuống nghiêm cẩn, cùng con trai lầm rầm tụng niệm.
Những lúc thế này, hai người họ như bỏ lại bên ngoài mọi thứ thuộc về thế giới
trần ai, một lòng hướng Phật, tiếng kinh kệ vang xa như gõ động tâm linh. Lần
đầu tiên tôi cảm nhận được sức lay động lớn lao của tôn giáo. Đứng bên ngoài
lán trại lắng nghe mà tôi như mê đi!

 

Buổi tối tiếp tục lên
lớp. Vắt óc mãi mà không nhớ được tiếng nào, tôi đành ngoan ngoãn chìa tay ra
trước mặt tiểu hòa thượng.

 

- Gì vậy?

 

Tiểu hòa thượng theo tôi
học tiếng Hán hiện đại, nên ngôn từ không lấy gì làm văn vẻ.

 

- Đánh vào lòng bàn tay
tôi đi.

 

Tôi cười vui vẻ.

 

- Giáo viên người Hán
của chúng tôi đều làm như vậy mỗi khi học sinh mắc lỗi. Cậu thấy không, tôi rất
có tinh thần tự giác nhé, tôi đã chủ động nhận lỗi.

 

- Cô mắc lỗi gì?

 

Đôi mắt màu nâu nhạt
sáng lấp lánh như muốn soi tỏ tâm hồn người đối diện.

 

- Tôi quên hết những chữ
cái Tochari, à quên, chữ cái Khâu Từ mà hôm qua cậu dạy rồi.

 

Tôi làm bộ đau khổ rồi
bật cười, sao tôi cứ quen gọi là tiếng Tochari nhỉ?

 

Tiểu hòa thượng cũng phì
cười, nụ cười lấp lánh như sao sáng.

 

- Tại tôi không biết
cách truyền đạt, sao trách cô được!

 

Hòa thượng chìa tay trái
về phía tôi, tay phải cầm tay tôi đập đập vào lòng bàn tay mình. Tuy không
mạnh, nhưng những va chạm khẽ khàng thế này cũng khiến tôi có chút tê dại.

 

- Nên phạt tôi mới phải,
nếu ngày mai cô vẫn không thuộc bài, tôi sẽ chịu đòn.

 

Tôi rút vội tay về,
thoáng chút cảm động. Tôi nghiêng đầu, cố gắng tập trung vào những chữ cái
trước mặt.

 

Hôm nay tôi tiếp thu
nhanh hơn hôm qua, tiếng Hán của Ku­mala­ji­ba đã khá lên rất nhiều. Tôi đã học
xong toàn bộ bảng chữ cái Tochari. Tôi cẩn thận ghi lại cách phát âm bằng kí
hiệu phiên âm bên cạnh mỗi chữ cái cho dễ nhớ. Nhìn thấy những kí hiệu đó, tiểu
hòa thượng tỏ ra rất thích thú, thế là tôi lại phải giảng giải về quy tắc ghi phiên
âm cho cậu ta nghe. Ku­mala­ji­ba hết lời khen ngợi phương pháp độc đáo ấy.
Nhưng tôi buộc phải yêu cầu cậu không được tiết lộ cho người khác biết, vì nếu
không lịch sử rất có thể sẽ thay đổi.

 

- Nhưng vì sao? Cô là
người nghĩ ra à?

 

Tôi không thừa nhận cũng
không thể phủ nhận, chỉ trả lời một cách mơ hồ:

 

- Người Hán không thích
phụ nữ tài giỏi, vì vậy nếu cậu nói cho người khác biết chính tôi đã nghĩ ra
phương pháp ghi phiên âm này, tôi sẽ bị xem là yêu quái và sẽ bị hỏa thiêu.

 

Không thể không bật ra câu
chuyện về nữ thần kiểu này.

 

- Người Hán không nên
như vậy.

 

Trầm tư một lát, tiểu
hòa thượng nhìn tôi nghiêm nghị.

 

- Phàm là con người thì
đều như nhau, phụ nữ cũng có thể thông minh như đàn ông vậy.

 

Sau đó, tiểu hòa thượng
giảng giải một thôi một hồi bằng tiếng Tochari, có lẽ vì lượng từ vựng tiếng
Hán chưa đủ để cậu có thể diễn đạt những suy nghĩ của mình.

 

Tôi bật cười. Tinh thần
khẳng khái của chàng trai trẻ khiến tôi có cảm giác thật ấm áp. Nhưng, tôi phải
tìm cách chuyển chủ đề thôi, cứ tiếp tục thế này, không biết tôi sẽ phải nói
dối đến bao giờ.

 

- Cậu hiểu được như vậy
là tốt rồi. Bây giờ, đến lượt tôi dạy cậu. Khổng Tử – nhà giáo dục lớn ở Trung
Nguyên thời cổ đại từng nói: Ôn cố nhi tri tân, nghĩa là, luyện tập lại những
gì đã học, từ đó phát hiện ra những điều mới mẻ. Vậy nên, bây giờ tôi sẽ kiểm
tra những chữ Hán mà hôm qua cậu đã học.

 

Tôi đặt tập giấy nháp và
bút chì trước mặt tiểu hòa thượng.

 

- Cậu viết đi! Sai một
chữ phạt một roi!

 

Tiểu hòa thượng nhìn tôi
mỉm cười, đón lấy tập giấy nháp và chiếc bút chì. Tay cầm bút có chút gượng gạo
nhưng vẫn rất ra dáng học trò. Từng nét chữ vuông vắn hiện ra dưới ngòi bút,
thật không ngờ, cậu ta nhớ được tất cả những chữ Hán của buổi học hôm qua!

 

Mất vài phút ngẩn ngơ,
miệng há hốc vì ngạc nhiên, tôi mới lấy lại được bộ dạng của một giáo viên,
được rồi, để xem, cậu có thoát được tiết mục phạt đòn của tôi không.

 

- Đọc cho tôi nghe cách
phát âm của từng chữ.

 

Lại nhìn tôi mỉm cười.
Hai ba chục chữ tượng hình, cậu ta lần lượt đọc không sót một chữ nào, cằm tôi
như sắp tuột xuống. Tuy vẫn pha chút khẩu âm, nhưng về cơ bản không sai một
chữ. Hôm qua, tôi không hề dạy cậu ta cách ghi phiên âm kia mà! Không biết chỉ
số IQ của “tên” này là bao nhiêu nữa?

 

“I phục You quá đi”! Nỗi
kinh ngạc của tôi chỉ có thể được diễn tả bằng câu ấy. Tất nhiên, tôi chỉ nghĩ
thầm trong bụng.

 

Tôi tiếp tục giờ học,
sau khi dạy hết các chữ tượng hình, tôi chuyển sang chữ chuyển chú (là phương
pháp dùng hai chữ Hán giải thích cho nhau với điều kiện: chúng phải cùng chung
bộ thủ và ý nghĩa thì tương đồng), rồi đến các từ đơn giản. Tôi rầu rĩ nghĩ
rằng, cũng là học ngoại ngữ, mà sao trình độ cách xa một trời một vực như vậy!
Nếu cứ tiếp tục thế này, có khi tiểu hòa thượng viết được luận bằng tiếng Hán
thì tôi vẫn còn đang ở gi­ai đoạn học thuộc từ vựng Tochari cũng nên. Càng hổ
thẹn hơn nữa, Ku­mala­ji­ba đã vận dụng thành thạo nguyên tắc ghi phiên âm để
chú âm cho các chữ Hán tôi vừa dạy, tuy không chính xác tuyệt đối, nhưng mười
phần thì cũng được tám, chín phần.

 

Có lẽ, không bao lâu nữa
tôi sẽ bị cho nghỉ hưu non thôi!

 

 

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3