Từ Yên Bái Đến Các Ngục Thất: Hỏa Lò, Côn Lôn, Guy An - Phần 14: Phụ lục thi văn

XIV. Phụ-lục thi văn

 

1) BỊ BẮT VÀO GIAM TẠI NGỤC-THẤT HÀ-NỘI NĂM 1929

Việc cả ai hay hóa chuyện đùa,

Cơ đồ này đến thế này ru !

Thanh-danh chạy được ba kỳ báo,

Nhân-vật trở ra một lũ tù !

Hàn gắn đành mong ngày tái tạo,

Bẽ-bàng riêng để thẹn ngàn thu.

Biết bao tâm-huyết ! Bao công của ?

Nghĩ đến nguồn cơn lệ muốn khô.

(NHƯỢNG-TỐNG)

 

2) CẢNH NHÀ TÙ

Hàng vạn con người áo một mầu,

Khác nhau con số chẳng đều nhau,

Xưa nay vẫn có câu bình-đẳng,

Bình-đẳng là đây nọ phải cầu !

(NHƯỢNG-TỐNG)

 

3) TẮM

Vùng-vẫy mình trong bể nước đầy,

Kỳ-kỳ cọ-cọ chẳng rời tay ;

Ông tây cứ bảo mình yêu nước,

Ừ, chẳng yêu sao lại thế này !

(NHƯỢNG-TỐNG)

Nhượng-Tống là biệt-hiệu của Văn-sĩ kiêm Thi-sĩ Hoàng Phạm-Trân, sinh năm Ất-Tỵ (1905), là giòng-giõi nho-gia nguyên-quán tại huyện Ý-Yên, tỉnh Nam-Định, người rất thông-minh lỗi-lạc,

Xếp bút lồng cầm bút sắt, Nhượng-Tống là ký-giả xuất sắc của Thực-Nghiệp Dân-báo tại Hà-Nội, cùng các ông Phạm Quế-Lâm, Phạm-tuấn-Tài lập nên Nam-Đồng Thư-Xã tại đường Ngũ-xã Hà-nội năm 1925, Thư-xã chuyên xuất-bản những tập sách nhỏ có tính-cách cách-mạng bán với giá phổ-thông, mục-đích để truyền-bá tư-tưởng cách-mạng trong đại chúng. Thư-xã của ông rất được quốc-dân hoan-nghênh nhiệt-liệt.

Năm 1927, Nhượng-Tống cùng với một số thân-hữu lập nên một chính-đảng là V.N.Q.D.Đ.

Nhượng-Tống là một Ủy-viên trong Trung-Ương Đảng Bộ, giữ trọng-trách Trưởng-ban biên soạn sách báo để huấn-luyện đồng-chí và tuyên-truyền trong quảng-đại quần-chúng.

1929, Nhượng-Tống bị Hội-Đồng Đề-Hình kết án 10 năm cấm-cố lưu đầy ra Côn-Nôn, năm 1936 anh được ân-xá.

Về lục-địa, anh tiếp-tục sự-nghiệp cách-mạng, và cũng không quên phụng-sự cho văn-chương, anh đã biên dịch và soạn thảo những tác-phẩm rất có giá-trị như : « Mái-Tây », « Trang-Tử Nam-Hoa Kinh », « Ly-Tao », « Khuất-Nguyên », « Treo Cổ Hoàng-Diệu », « Hai Bà Trưng », « Phất cờ nương-tử », v.v…

1949, Nhượng-Tống đã bị ám-sát tại phố chợ Hôm Hà-nội. Quốc gia mất một chiến-sĩ cách-mạng chân-chính, một văn, thi-sĩ lỗi-lạc tài ba.

 

4) HÁT NÓI

Mưỡu :

Trông người lại ngẫm đến ta,

Nín đi đứt ruột, nói ra nghẹn lời.

Than ôi ! Cũng một kiếp người,

Tủi thân trâu ngựa thiệt đời thông-minh.

Nói :

Trâu cầy ngựa cưỡi,

Nghĩ thân mình thêm tủi lại thêm thương,

Cũng thông-minh tai mắt một phường,

Người mắc ách, kẻ giong cương, kỳ quái chửa ?

Thà rằng thể-phách như trâu, ngựa,

Khổ nỗi tâm-hồn khác cỏ cây.

Nhìn giang-sơn khi quắc mắt lúc cau mày,

Tưởng nông-nỗi đắng cay lòng tráng-sĩ.

Nước đời cay đắng bao nhiêu vị ?

Giống ươn hèn càng nghĩ lại càng thương !

Bảo nhau ta phải tự-cường.

(PHẠM-TUẤN-TÀI)

 

5) GỬI CHO CHỒNG TRONG NGỤC

Rầu-rĩ canh trường trống điểm ba,

Trước hiên ngồi tựa bóng trăng tà.

Quốc kêu thảm phá tan hồn điệp,

Ve hót sầu chia nát ruột hoa ;

Đối bóng luống thương con bóng lẻ,

Tiếc xuân lại sợ cái xuân già.

Muốn lên đến tận Hằng-Nga hỏi,

Chừng kiếp tu xưa chửa trọn à !

(Chị PHẠM-TUẤN-TÀI)

 

6) ĐỀ BÀI PHI-LỘ BÁO « TIẾNG CƯỜI »

Tất cả anh em bị giam trong khu sà-lim A quyết định ra một tờ báo bí-mật là « TIẾNG CƯỜI » phát hành lưu động trong trại giam. Bộ biên-tập gồm tất cả các đồng-chí hiện bị giam cầm ; thể-lệ là mỗi người phải làm bốn câu thơ.

Dưới đây là bài phi-lộ của anh Phạm-tuấn-Tài :

Sà-lim chật ních báo ra đời,

Góp với anh em một tiếng cười ;

Cười mặn, cười chua, cười chát sịt,

Cười này chỉ bán nửa chinh thôi !

Nhưng công việc không thành vì không thể vận-động được bút, giấy… Vì vậy anh Trương-văn-Tấn biệt hiệu « Đa tiếu » làm bài thơ dưới đây để kết thúc :

Đa-tiếu từ nay sẽ nhịn cười,

Cười vài ba tiếng đủ vui thôi !

Cười ra nước mắt cười chi mãi !

E nữa sà-lim lụt ngất trời.

 

7) THAY LỜI VỢ TẶNG QUẠT CHO CHỒNG BỊ GIAM TRONG NGỤC

Gạt lệ đưa anh chiếc quạt này,

Khi buồn cầm đến để vui tay ;

Xua con muỗi đói đang rình đốt,

Đuổi cái ruồi hôi chực quấy rầy ;

Phong lại nhớ-nhung lời ước cũ,

Mở ra phe-phẩy đỡ cơn may,

Tình em gửi quạt khi phong mở,

Gạt lệ đưa anh chiếc quạt này.

(GIÁO PHÁC Sơn Tây)

 

8) SÀ-LIM-OÁN (I)

Đầy ám-ngục hơi sầu ảm-đạm,

Nát tâm-bào lửa hận cháy gan.

Một mình lăn-lóc trên sàn,

Đắng cay nước mất nhà tan thân tù,

Trong cửa kín sớm trưa chẳng biết,

Ngoài đồng-bào sống chết không hay,

Than ôi ! Nông nỗi nước này,

Đòi phen hồn ngất máu say vì thù,

Lòng héo-hắt cơm bơ nước gáo,

Thân võ-vàng xiêm áo tả tơi,

Nghiến răng muốn đập tan trời,

Tủi thân nô-lệ căm loài dã-man ;

Giận cho kẻ tham vàng phụ nghĩa,

Đem anh em bán rẻ cho người.

Bạc đen chi mấy thói đời,

Nước non đành để cho người chủ-trương,

Cơ thành bại nát gan tráng-sĩ

Cuộc hưng vong ráo lệ anh hùng,

Thương thay con cháu Lạc-hồng,

Vì đâu cá chậu chim lồng xót xa !

Hồn tinh-vệ bao giờ lấp bể ?

Công dã-tràng thương kẻ đồng tâm,

Giọt sầu lã chã khôn cầm.

Dao oan-nghiệt cắt ruột tầm đòi cơn

Ngoài song sắt mưa buồn gió thảm,

Bên tường nghe tiếng bạn thở than,

Vì đâu nên cuộc dở-dang ?

Vì đâu sẩy nghé tan đàn thảm thương ?

Lòng rầu rĩ canh trường khó nhắp,

Đêm năm canh thổn-thức đòi cơn,

Hỡi ai dạ sắt gan vàng ?

Cùng nhau trong hội đoạn-trường là đây !

(THẨM-CHI)

Thẩm-Chi tức Cả Vấn, giòng-giõi nho-gia, nguyên quán tại làng Nhân-Mục (Làng Mọc) tỉnh Hà-Đông. Sinh vào buổi quốc-biến gia-vong ; gác bút nghiên, Thẩm-Chi lao mình vào cuộc đời hiệp-sĩ mã-thượng giang-hồ, một chiến-sĩ cách-mạng Quốc-gia bị Thực-dân kết án phạt giam cấm-cố trong sà-lim Ngục-thất Hỏa-Lò Hà-Nội về tội bắt được hai lần mang súng lục không giấy phép.

Thẩm-Chi đã gặp chúng tôi trong Ngục-thất Hỏa-Lò Hà-Nội năm 1929, cảm-thông nhau trong cảnh « cơm bơ nước gáo, một mình lăn lóc trên sàn », Thẩm-Chi đã viết nên bài « sà-lim-oán » này.

Cuối 1929, Thẩm-Chi mãn án cấm-cố, ra mở quán bán chữ viết câu đối thuê tại phố cửa nam Hà-Nội, lấy tên quán là « MẠC NHÂN-CƯ » làm nơi liên-lạc đồng-chí các tỉnh với « HIỆP-THÁI ĐOÀN », một đoàn trong V.N.Q.D.Đ.

Thẩm-Chi tức Cả-Vấn đã kế tiếp nối gót các bậc tiền-bối của anh lên đoạn-đầu-đài nhỏ máu hồng nhuộm giang-san Hồng, Lạc thêm tươi thắm.

Và dưới đây tôi xin sao lục thêm một bài « SÀ-LIM-OÁN » nữa, mà tác-giả là anh Phạm-tuấn-Tài làm trong những ngày bị giam cầm trong sà-lim tại Ngục-thất Hỏa-Lò Hà-Nội năm 1929.

Vì quá lâu ngày, tôi bị quên mất ít câu, xin quý-vị độc-giả miễn thứ.

 

9) SÀ-LIM OÁN (II)

Ngoài song sắt mưa rào gió rựt,

Trong sà-lim ruột thắt lòng đau ;

Ai ơi ? Có biết cơ mầu ?

Thân này hỏi với ngục sâu tội gì ?

Xót nòi giống cớ chi đeo vạ ?

Tiếc non sông ai chả một lòng.

Can chi bới vết tìm lông ?

Làm cho rẽ Lạc chia Hồng chưa thôi !

Thần công-lý bên trời lẩn mất,

Quỷ văn-minh chật đất làm càn,

Biết đâu mà tỏ nỗi oan ?

Đã đầy đọa nước lại tan-nát nhà.

Nơi cố-lý mẹ già mong-mỏi,

Chốn tha-hương vợ dại càng lo !

Con thì trứng nước ngây thơ,

Nhà không có nóc bây giờ cậy đâu ?

Ơn chín chữ cao sâu đã lỡ,

Nợ ba-sinh hương lửa chưa tròn !

Đạo thường lỗi cả với con.

Ôi thân đến thế thân còn ra chi !

Bịt hai mắt tường vi bốn mặt,

Bó hai chân cùm chặt bốn phương.

Tháng ngày nhốt một gian buồng,

Nước non thu lại một chuồng ngựa trâu,

Miệng chưa trải cá rau oan trái,

Mũi chưa quen cứt đái phong trần ;

Sói hùm kề gửi chiếc thân,

Biết bao thảm-nhục với quân bạo-tàn ?

Thảm nhất lúc dao hàn cắt ruột,

Thảm nhất khi lửa nhiệt đốt da !

Trông người mắt đã đổ hoa,

Mặt mình nào có một ma nào nhìn !

Thảm nhất lúc mong tin chẳng có !

Thảm nhất khi ngửa cổ trông trời !

Trông trời nào thấy đâu trời !

Ngoài hàng song sắt một vài lá rung.

Thảm nhất lúc soi khung kính mốc,

Thảm nhất khi thấy nước da chì.

Râu ria như đuổi xuân đi,

Ôi thân đến thế còn gì là thân !

… … …

Thảm những lúc làm quen với chuột,

Thảm những khi ngồi suốt cả đêm.

… … …

Nhục những lúc thày cay quan quản,

Mở cửa vài lục soát trước sau ;

Giang sơn nào có gì đâu ?

Cái thìa đôi đũa cũng thân đem trình.

Nhục nhất lúc một mình với bóng,

… … …

Giang sơn này hỡi giang sơn ?

Thề kia dù lỗi, hương tàn còn thơm.

(PHẠM-TUẤN-TÀI)

Phạm-tuấn-Tài sinh quán tại Nam-Định, là một Giáo-sư trẻ tuổi trường Đỗ-hữu-Vị Hà-Nội.

Năm 1925 cùng với ông anh ruột là Phạm-quế-Lâm và văn-sĩ Nhượng-Tống lập nên « Nam-Đồng Thư-xã » tại khu Ngũ-xã Hà-Nội.

Năm 1927 cùng với một số thân-hữu lập nên chính đảng V.N.Q.D.Đ.

Năm 1928 bị Pháp tình-nghi phải đổi lên dậy trường Pháp-Việt tỉnh Tuyên-Quang. Đến Tuyên-Quang anh liền bí-mật hoạt-động cho đảng, thành lập được Chi-bộ ở đây, văn-sĩ Lan-Khai và cụ Cử-nhân Ngô-thúc-Địch đều ở trong Chi-bộ này.

Năm 1929 bị Hội-đồng Đề-hình Hà-Nội kết án 15 năm tù cấm-cố lưu đày ra Côn-Nôn.

Năm 1936 được ân xá về Hà-Nội, nhưng Phạm-tuấn-Tài đã bị vi-trùng lao ăn nát hai buồng phổi, nên anh đã tạ thế tại quê nhà cách vài tháng sau.

– HẾT –

 

Notes

[←1] Mỗi khi giám-thị hoặc lính gác điểm danh hay kiểm soát do một cửa sổ con bằng 2 bàn tay nằm ở giữa cửa cái.

[←2] Bị giam cầm ở Ngục-Thất Đặc-biệt I-ni-ni.

[←3] Cũng như Ngục-thất đặc-biệt I-ni-ni, Ngục-thất Ăng-Ghi này cũng đều do những bàn tay của anh em chúng tôi kiến-tạo nên để làm nơi giam giữ chúng tôi.

[←4] Linh hồn anh chắc cũng được yên-ủi một phần nào, không đến đỗi quá ngậm-ngùi ở nơi chín suối !

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.