Từ Bờ Bên Kia - Chương 11
Bức thư thứ ba
Không, các bạn thân mến, trí óc tôi khước từ thấu hiểu rất nhiều thứ trong những thứ mà các bạn cảm thấy là rõ ràng... trong những thứ mà các bạn giả định - tôi có hàng ngàn điều phản bác lại.
Trí óc có lẽ đang già nua đi rồi, - và tôi bảo vệ mình bằng lời của một trong các bạn bè của chúng ta viết về tôi hay là chống lại tôi.
"Con người ta rất rối rắm khi giảng giải điều gì đó mà người ấy suy nghĩ khác biệt. Đây quả thật là một quá trình sinh lí học mà người ta nói đến nhiều, khi bàn luận chung chung - nhưng chẳng ai muốn coi trọng nó, khi động đến chuyện cụ thể. Trí óc không tạo ra tùy tiện một thứ gì cả, mà bao giờ cũng tạo ra kết quả của tương quan những ấn tượng thu nhận được. Do đó, nếu những ấn tượng của một người này khác biệt với những ấn tượng của người kia với một độ chênh lệch nào đó, thì sự phát triển tiếp theo của mối tương quan các ấn tượng và kết quả dẫn xuất ra từ đó, tức là việc đặt ra và phát triển phương trình (vốn là hình thức duy nhất của hoạt động trí óc), có thể phân li người này với người kia tới một khoảng cách không sao trùng hợp được nữa.
Đó chính là toàn bộ đạo lí của phép chứng minh, dẫn đến những nỗ lực hầu như vô vọng."
Những dòng chữ ấy, thực ra được viết để chống lại tôi, hoàn toàn đúng đắn, đúng đắn một cách thật đáng buồn.[220]
Những phản bác của tôi cũng như các phản bác nói chung, bắt đầu làm cho những người không kiên nhẫn chán ngấy. Họ bảo rằng: "Thời kì của lời nói đã qua rồi, thời kì của công việc đã đến." Cứ làm như lời nói không phải là công việc hay sao? Cứ làm như thời kì của lời nói có thể qua đi hay sao? Những kẻ thù của chúng ta không bao giờ tách rời lời nói và việc làm, và chúng thường xử tội vì lời nói hung bạo hơn là xử tội vì việc làm. Mà quả thực, lời nói nào đó "Đi mà nói với ông chủ của các anh"[221] của Mirabeau không thua kém về ảnh hưởng với bất cứ đòn đánh nào.
Việc tách rời lời nói với việc làm và đối lập chúng một cách gượng ép không đứng vững được trước phê phán, nhưng có một ý nghĩa đáng buồn, tựa như thừa nhận rằng mọi chuyện đã được sáng tỏ và hiểu thấu, rằng chẳng có gì phải bàn luận nữa, mà chỉ cần thực hiện thôi. Trật tự chiến đấu không chấp nhận thảo luận và dao động. Nhưng ai đây, ngoài những kẻ thù của chúng ta đang sẵn sàng chiến đấu và mạnh mẽ trong công việc? Sức mạnh của chúng ta - ở trong sức mạnh tư duy, trong sức mạnh sự thật, trong sức mạnh lời nói, trong sự thuận theo lịch sử... Những cuộc hội họp quốc tế chỉ mạnh về thuyết giảng thôi, về vật chất họ không thể đi xa hơn sức mạnh phủ định của những cuộc đình công.
- Vậy là chỉ còn việc khoanh tay ngồi như cũ suốt cả thế kỉ, tự bằng lòng với những diễn từ hoa mĩ.
- Tôi không biết, suốt cả thế kỉ hay một phần của nó, nhưng chắc là đến chừng nào còn chưa xông vào đánh giáp lá cà, hiện thời vẫn chưa đủ thống nhất chính kiến, cũng chưa tập trung đủ lực lượng... Có chính nghĩa trong trận đánh chẳng có mấy ý nghĩa, chỉ có trong phiên tòa của Thượng Đế là chính nghĩa giành thắng lợi - chúng ta ít có hi vọng được trên trời can thiệp giúp.
Cuộc khởi nghĩa Ba Lan đã kết thúc ra sao - một cuộc khởi nghĩa chính đáng trong đòi hỏi, dũng cảm trong thực hiện, nhưng bất khả dĩ trong tương quan lực lượng?
Lương tâm của những người đã xúi giục những người Ba Lan, giờ đây thế nào?
Những kẻ đối địch với chúng ta nói về chuyện này với một triết lí định mệnh sao đó: "Sự lựa chọn những con đường lịch sử không thuộc quyền lực cá nhân; các sự kiện không phụ thuộc vào các cá nhân - mà các cá nhân phụ thuộc vào các sự kiện. Chúng ta chỉ có ảo tưởng đang điều khiển sự vận động, nhưng thực chất chúng ta bơi về chỗ mà con sóng cuốn đi, chẳng biết sẽ bơi đến chỗ nào."
Những con đường không phải hoàn toàn không thể thay đổi được, chính chúng luôn thay đổi theo tình thế, theo sự hiểu biết, theo năng lượng cá nhân. Cá nhân được tạo nên bởi môi trường và các sự kiện, nhưng chính các sự kiện lại được thực hiện bởi các cá nhân và mang đậm dấu ấn của các cá nhân ấy - ở đây là tương tác. Làm công cụ thụ động của những thế lực nào đó độc lập với chúng ta là chuyện không hợp với độ trưởng thành của chúng ta. Để làm công cụ mù quáng của số phận, làm ngọn roi, làm đao phủ của Thượng Đế thì cần phải có niềm tin ngây thơ, sự chất phác của không hiểu biết, thuyết định mệnh hoang dã và một thứ ấu trĩ nào đó của tư duy. Thành thực mà nói chúng ta không thể sắm vai của Attila,[222] thậm chí cả vai Antona Petrova nữa. Sắm những vai ấy chúng ta buộc phải lừa dối những người khác và chính bản thân mình. Chúng ta phải trả lời trước lương tâm mình và trước sự phán xét của những người gần gũi về tinh thần với chúng ta về sự dối trá ấy.
Điều mà những người có suy nghĩ đã tha thứ cho Attila, cho ủy ban Cứu quốc và thậm chí cả Piôt I, thì sẽ không tha thứ cho chúng ta. Chúng ta đã không hề nghe thấy tiếng nói từ trên cao kêu gọi chúng ta thực hiện số mệnh, và cũng không nghe thấy tiếng nói từ dưới đất chỉ đường ta đi. Đối với chúng ta chỉ hiện hữu có một tiếng nói và một quyền lực - quyền lực của lí trí và sự thấu hiểu.
Chối bỏ chúng, chúng ta sẽ trở thành những môn đồ bị khai trừ khỏi khoa học và những kẻ phản bội lại văn minh.
Chính đám quần chúng đang chịu toàn bộ sức nặng của thân phận đội ngũ công nhân bần cùng đang tìm kiếm lời nói và sự thấu hiểu - cả họ cũng đầy nghi ngờ khi nhìn vào những người thuyết giảng sự cao quý của khoa học và kêu gọi cầm vũ khí.
Và anh hãy để ý xem, những kẻ đi thuyết giảng không xuất thân từ nhân dân, mà từ trường học, từ sách vở, từ văn chương. Những cựu sinh viên đã sống trong những sao nhãng trừu tượng, họ đã rời xa nhân dân hơn là những kẻ thù truyền kiếp của nhân dân. Cha cố và quý tộc, cảnh sát và con buôn, ông chủ và lính tráng, đều có những mối liên hệ trực tiếp với nhân dân nhiều hơn hẳn so với họ. Chính vì vậy mà họ mới cho là khả dĩ cái việc bắt đầu cuộc biến chuyển kinh tế từ hư không (tabula rasa), từ việc đốt sạch toàn bộ cánh đồng lịch sử mà không hiểu được rằng cánh đồng ấy với những bông lúa và ngọn cỏ tạo thành nền tảng trực tiếp của nhân dân, toàn bộ đời sống đạo đức của họ, toàn bộ tập quán của họ và tất cả nguồn an ủi của họ.
Đấu tranh với tính bảo thủ của nhân dân khó khăn hơn so với tính bảo thủ của ngôi vua và bục giảng nhà thờ. Bản thân chính quyền và giáo hội vốn có mầm mống tinh thần phủ định, cuộc đấu tranh tư tưởng không phải vô tình mà đã xảy ra dưới những đòn đánh của họ - cuộc đấu tranh ấy lây nhiễm sang cánh tay cầm gươm; cuộc tự vệ của chính quyền là vì tư lợi, và cuộc truy bức của giáo hội là đạo đức giả.
Nhân dân bảo thủ theo bản năng, bởi vì nó chẳng biết được cái gì khác, nó không có lí tưởng nào nằm ngoài những điều kiện hiện hữu; lí tưởng của nó là sự thỏa mãn tư sản, cũng giống như lí tưởng của [nhân vật] Atta Troll của Heine là con gấu trắng tinh vậy.[223] Nhân dân bám lấy sinh hoạt nặng nề của mình, bám lấy những khuôn khổ chật hẹp mà họ bị nhốt vào đó - họ tin vào sự vững bền và sự đảm bảo của chúng. Họ không hiểu được rằng sự bền vững ấy chính họ đã cấp cho chúng. Nhân dân càng tách xa hơn khỏi sự vận động lịch sử thì họ càng bám giữ ngoan cố hơn vào cái đã chiếm được, vào cái họ quen biết. Họ thậm chí chỉ hiểu cái mới trong sắc phục cũ. Những nhà tiên tri tuyên cáo cuộc biến chuyển xã hội tái nhập đạo, khoác cho mình những lễ phục giám mục. Pugachev mưu đồ lật đổ công cuộc cải cách theo kiểu nước Đức của Piôt, nhưng lại tự xưng mình là Piôt, mà còn chính là người Đức nữa, rồi cho vây quanh mình những đội kị binh Cozac và các tướng tá khác nhau giả hiệu Vôrônsov và Chernyshev.
Các hình thức nhà nước, giáo hội và tòa án làm khe hẻm ở giữa sự không hiểu biết của quần chúng và nền văn minh một chiều đỉnh cao. Sức mạnh và quy mô của quần chúng tỉ lệ thuận với sự không phát triển của họ. Không thể thắng được sự không phát triển bằng vũ lực. Cả nền cộng hòa của Robespierre, lẫn nền cộng hòa của Anacharsis Cloots, giá cứ để mặc họ thì cũng đã không đứng vững được, và vụ Vendée[224] ắt phải mất nhiều năm mới bứt khỏi đời sống. Khủng bố chẳng tiêu diệt những định kiến được bao nhiêu, và cũng không được lòng dân. Sự sợ hãi nói chung dồn vào bên trong, đánh vào hình thức, ngăn chúng lan truyền và không đụng đến nội dung. Những người Do Thái bị xua đuổi hàng thế kỉ - một số bị chết, số khác trốn thoát... và sau những cơn bão tố lại xuất hiện với niềm tin giàu có hơn, mạnh mẽ hơn, rắn chắc hơn.
Không thể giải phóng con người trong cuộc sống bề ngoài nhiều hơn mức độ họ được giải phóng từ bên trong. Dù thật lạ lùng, nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng dân chúng chịu đựng gánh nặng áp bức nô lệ dễ dàng hơn là chịu đựng quà tặng tự do dư thừa.
Thực chất tất cả các hình thức lịch sử - dù muốn hay không - đều đưa đến một giải phóng này hay một giải phóng khác. Hegel thấy (thật đúng) trong bản thân chế độ nô lệ đã có bước đi tới tự do. Cũng như thế - một cách tường minh - phải nói về nhà nước: cả nhà nước, giống như chế độ nô lệ, cũng đang đi đến tự tiêu diệt... và không thể cởi bỏ nó ra khỏi thân mình, như cởi bỏ chiếc áo bẩn, cho đến một độ tuổi nhất định.
Nhà nước - hình thức mà thông qua nó diễn ra mọi sự chung sống của loài người, khi sự chung sống ấy có quy mô lớn. Nó luôn biến đổi theo tình hình và thích ứng với các đòi hỏi. Nhà nước ở mọi nơi đều khởi đầu từ sự nô dịch hoàn toàn cá thể - và ở mọi nơi, sau khi trải qua một sự phát triển nhất định, đều hướng tới hoàn toàn giải phóng cá thể. Sự phân tầng giai cấp là bước đi lớn tiến lên phía trước, giống như sự tách đàn và sự thoát ra khỏi sự đơn điệu súc vật, giống như sự phân công lao động. Tiêu diệt giai cấp là bước đi còn lớn hơn nữa. Mỗi nguyên lí xuất hiện hay được thể hiện trong đời sống lịch sử là một sự thật cao nhất của thời đại của mình - và khi ấy nó thu hút những người tốt đẹp nhất; vì nó mà máu đổ và chiến tranh diễn ra - sau đó nó thành điều dối trá, và cuối cùng là một hoài niệm... Nhà nước không có nội dung riêng xác định - nó phục vụ như nhau cho phản động và cách mạng - cho ai có sức mạnh trong tay; đó là sự kết hợp các bánh xe quanh một trục chung, nó có thể thuận tiện hướng vào chỗ này hay chỗ kia - vì rằng sự thống nhất vận động được đưa ra, vì rằng nó nhập vào một trung tâm. Ủy ban Cứu quốc là quyền lực nhà nước hùng mạnh nhất hướng vào việc phá hủy nền quân chủ. Bộ trưởng Tư pháp Danton là bộ trưởng cách mạng.
Sáng kiến giải phóng nông dân thuộc về vị Nga hoàng chuyên chế. Lassalle đã muốn sử dụng sức mạnh nhà nước ấy để đưa sắp xếp cơ cấu xã hội vào. Ông ta đã nghĩ rằng, tại sao lại phải phá bỏ cối xay, khi mà thớt cối của nó vẫn có thể giúp xay được bột mì của ta?
Cũng dựa trên cơ sở này mà tôi không nhìn thấy tính áp dụng hợp lí của việc từ bỏ.
Giữa ý kiến của Lassalle và lời thuyết giảng về sự giải thể tất yếu nhà nước để chuyển thành cuộc sống công xã liên bang là toàn bộ sự khác biệt giữa sinh đẻ bình thường và sẩy thai. Từ chuyện phụ nữ có thai hoàn toàn không suy ra rằng ngày mai bà ta phải sinh đẻ. Từ chuyện nhà nước là hình thức quá độ, không suy ra rằng hình thức ấy đã lỗi thời... Thực ra thì có dân tộc nào ngày nay có thể bỏ đi sự kèm cặp nhà nước như một lớp băng bó dư thừa mà không phơi bày ra những huyết mạch và những nội tạng hiện giờ đang gây ra những tai họa kinh khủng, để rồi sau đó sẽ tự rụng đi?
Cứ làm như có dân tộc nào đó có thể không bị trừng phạt, nếu khởi sự một thí nghiệm như thế, trong lúc các dân tộc khác đang tha thiết bấu víu lấy cơ cấu nhà nước, khi mà việc hủy bỏ quân đội thường trực và giải trừ vũ khí vẫn còn là những lí tưởng xa xôi? Và phủ định nhà nước nghĩa là thế nào, khi mà điều kiện chủ yếu để thoát khỏi nó - sự trưởng thành của đa số - vẫn chưa có. Giá như anh có dịp nhìn vào những gì đang hoạt động trong thành phố Paris lúc thức giấc. Sự chuyển động nhộn nhịp trong những ranh giới chật hẹp ra sao, và chúng chẳng do ai dựng nên cả, mà cứ như từ dưới đất mọc lên vậy.
Tái bút
Những tỉnh lẻ, những nhóm người hạn hẹp, rất có hại cho tầm nhìn. Ngày nào cũng lặp lại với người của mình về cùng một thứ, lẽ tự nhiên sẽ đi đến niềm tin chắc rằng ở khắp mọi nơi người ta cũng đang nói về cùng một thứ. Một thời gian dài thuyết phục những người khác về sức mạnh của mình... có thể làm cho mình tự tin chắc vào sức mạnh ấy - và giữ mãi niềm tin ấy... cho đến thất bại đầu tiên.
Bruxelles-Paris, Tháng 08 năm 1869

