Tây du @ ký - Phần 30 chương 2
Tôn Ngộ Không là ai?
Theo các thi thoại đời Tống nghĩa là văn kiện
liên hệ sớm nhất với TDK, tiền thân Tôn Ngô Không là con khỉ tánh linh ở động
Tử Vân núi Hoa Quả, tự xưng Bát Vạn Tứ Thiên Đồng Đầu Thiết Ngạch Mi (Di) Hầu
Vương, năm 800 tuổi ăn trộm ở Tây Vương Mẫu Trì 10 quả bàn đào, bị Tây Vương
Mẫu sai đánh 3800 thiết bổng. Về sau dưới dạng bạch y tú tài gặp đoàn thỉnh
kinh của của Huyền Trang và xin đi theo. Huyền Trang bèn đặt tên cho là Hầu
Hành Giả.
Bản TDK đời Nguyên thu lục được một phần trong Phác Thông Sự
Ngạn Giải cho biết quê quán Tôn Ngộ Không ở động Thủy Liêm, núi Hoa Quả. Tự
xưng Tề Thiên Đại Thánh, trên thiên cung trộm bàn đào và áo tiên, đánh nhau với
Lý Thiên Vương và Đại Lực Thần. Quán Khẩu Nhị Lang Thần xuất binh theo lời mời
của Thái Tử Mộc Xoa, đánh bắt được. Cự Linh Thần theo lệnh Quan Âm giam dưới
núi Hoa Quả, được Huyền Trang trên đường thỉnh kinh cứu gỡ, đặt cho pháp danh
Ngộ Không, sau đổi thành Tôn Hành Giả.
Trong các kịch bản đời Minh, TNK quê ở động Tử Vân La, hiệu
Thông Thiên (Đạo Thiên) Đại Thánh, xưng là Tôn Hành Giả. Có anh là Tề Thiên Đại
Thánh, em là Yêu Yêu Tam Lang, chị là Lê Sơn Lão Mẫu, bắt cóc được nữ vương
nước Kim Đỉnh đem về làm vợ. Ape trộm tiên y, tiên mạo, tiên đào, tiên tửu. Đem
áo và nón tiên tặng vợ, mở Khánh Tiên Y Hội. Bị Quan Âm và Lý Thiên Vương bắt.
Quan Âm giam dưới núi Hoa Quả. Được Huyền Trang giải cứu trên đường thỉnh kinh.
Tôn Ngộ Không là pháp danh Quan Âm ban cho.
Bản TDK đời Minh cho biết TNK sinh ở núi Hoa Quả nước Ngao
Lai và sống ở động Thủy Liêm. Xưng Mỹ Hầu Vương, hiệu Tề Thiên Đại Thánh. Trộm
kim đan của Lão Quân và bàn đào của Tây Vương Mẫu. Đánh nhau với Mộc Xoa (Huệ Ngạn,
đệ tử Quan Âm và con thứ 2 Lý Thiên Vương), Hiển Thánh Nhị Lang Chân Quân, và
Na Tra Thái Tử. Cuối cùng bị chó của Nhị Lang cắn và Lão Tử dùng thiết luân bắt
được. Ngọc Đế ra lệnh xử tử nhưng trốn khỏi lò bát quái của Lão Quân. Cuối cùng
bị Như Lai ập bàn tay đè dưới Ngũ Hành Sơn. Năm trăm năm sau, Huyền Trang cứu
thoát, cùng đi thỉnh kinh. Tên Tôn Ngộ Không do thầy là Tu Bồ Đề Tổ Sư đặt cho.
Huyền Trang gọi là Tôn Hành Giả.
Cái tên Tôn Ngộ Không có nghĩa thế nào? Tôn là một họ thông
thường nhưng có thể khiến ta liên tưởng tới khỉ (Bản Thảo Cương Mục của Lý Thời
Trân có nói đến hai giống khỉ lông ngắn, đuôi ngắn tên gọi Hồ Tôn (8)và Vương
Tôn). Theo thuyết của Ôta Tatsuo, chữ Không trong Ngộ Không lấy từ câu "
Sắc tức thị không, không tức thị sắc " của Bát Nhã Tâm Kinh để giới răn
tính háo sắc (dĩ nhiên chữ Sắc trong kinh Bát Nhã có nghĩa rộng hơn chử Sắc
thông dụng nhiều). Thuyết của Isobe Akira lại cho biết trên thực tế có vị tăng
hiệu là Ngộ Không, người đời Huyền Tông (sau đó) đã đi lấy kinh ở Tây Phương,
cực khổ chẳng khác Tôn Hành Giả giúp Tam Tạng lúc đi thỉnh kinh (đời Cao Tông
trước đó), nên tặng mỹ xưng đó cho hành giả họ Tôn chăng? Vị tăng Ngộ Không này
có tên trong Tống Cao Tăng Truyện, Đường Thượng Đô Chương Kính Tự, Ngộ Không
Truyện. Tục danh của ông là Xa Phụng Triều, dòng dõi hoàng tộc họ Thác Bạt nhà
Bắc Ngụy (386-534). Ông theo Trương Thao Quang đi sứ Ấn Độ, đến nơi năm Thiên
Bảo thứ 12 (753) nhưng lâm bệnh phải ở lại, xuất gia bên đó, hiệu làDharmadhatu
(tiếng Hán là tăng Pháp Giới). Sau đó, ông vân du khắp nơi ở Ấn, đem kinh Phật
về Khotan (Vu Điến) và Kuchya (Qui Tư) dịch dần ra Hán Văn rồi mang về Trường
An năm Trinh Nguyên thứ 5 (789). Năm sau, ông được sắc phong làm sư thực sự,
lấy hiệu là Ngộ Không và tu ở chùa Chương Kính. Chúng ta nên lưu ý một điểm là
trong Tống Cao Tăng Truyện, có đoạn kể về tăng Ngộ Không khi đi qua nước Tohala
(Đô Quá La) bị mưa to gió lớn, đã cầu được Long Thần cho mưa tạnh gió an. Ở
điểm này, tăng Ngộ Không đã có thể thực hiện được phép lạ như Tôn Ngộ Không.
(8) - Lý thời Trân cho rằng "hình dáng con hầu này giống người Hồ
hay Hồ nhân nên gọi là Hồ Tôn"
*
Dầu muốn nhượng bộ đến đâu, ta vẫn thấy không thể một cá
nhân Ngô Thừa Ân nào có thể soạn được một tác phẩm súc tích như TDK. Để xây
dựng tác phẩm TDK, không những phải vận dụng gì ba nguồn văn học từ đời Tống,
Nguyên (thi thoại, kịch, truyện) mà còn cần cả các nguồn tư liệu xa xưa khác mà
ta mới chỉ bắt gặp một vài mảnh vụn. Tuy nhiên, trong bài viết nầy, xin phép
tập trung vào nguồn tư liệu chính là dân thoại (folk tale) vì bản thân tiểu
thuyết TDK là một kho tàng dân thoại vô cùng phong phú. Ta sẽ bắt đầu từ dân
thoại Trung Quốc rồi lội ngược giòng lên dân thoại Ấn Độ và Ả Rập để xem nhân
vật tiểu thuyết Tôn Ngộ Không vốn được cấu tạo bằng những chất liệu gì và đã
đến từ đâu, bởi vì cũng như pháp thuật của lão Tôn, nguồn sinh lực và khí phách
của ông đã tỏa rộng và bay bổng vượt qua không biết bao nhiêu là biên giới.
Con khỉ trong dân thoại (truyện dân gian) và truyền kỳ ( 9
) Trung Quốc.
(9) - Truyền kỳ là tên
gọi một loại tiểu thuyết ngắn bắt đầu từ đời Đường, kể những sự việc lạ lùng.
Sau được dùng để gọi rộng ra cho cả tạp kịch đời Nguyên cũng như những kịch bản
ở phía nam Trung Quốc thời Minh và Thanh.
Người Trung Quốc phân biệt vượn (viên) (10) và khỉ (hầu).
Học giả đời Minh Lý Thời Trân trong Bản Thảo Cương Mục cho rằng vượn ở Trung
Quốc thường thấy ở vùng núi sâu Tứ Xuyên, Quảng Đông, to lớn hơn khỉ, tay cực
dài, và sống lâu. Như định nghĩa này thì chắc ông muốn nói vượn là loại khỉ tay
dài (Hylobatidae, tay dài, đuôi ngắn) không những thấy ở Tứ Xuyên, Quảng Đông,
Quảng Tây, Vân Nam mà còn ở vùng Đông Nam Á (bán đảo Đông Dương, bán đảo Mã
Lai, Sumatra, Java, Borneo). Về khỉ thì Lý Thời Trân cho biết có nhiều loại, từ
nhỏ đến lớn, thường là nhỏ con và người ta dể gặp hơn. Khỉ hay thấy ở Trung
quốc là khỉ mặt hồng và khỉ lông đỏ (thuộc họ Cercopithecidae, tay ngắn, đuôi
ngắn) cũng là giống khỉ thấy ở Đông Nam Á ( Việt Nam, Miến Điện, Thái Lan và Bắc Ấn
Độ). Khỉ lông đỏ phân bố nhiều ở phía nam sông Trường Giang có gương mặt giống
hiønh ảnh vẽ về Tôn Ngộ Không chỉ cao độ 55cm. Nếu TNK thuộc loại mi (di) hầu
thì thân thể phải to cao hơn, nhất là đóng vai khỉ đầu đàn. Trong tiếng Nhật,
để viết saru (khỉ) người ta dùng chữ Hán viên nhưng Trung Quốc phân biệt viên
và hầu kỹ càng hơn.
(10) - Trong Bản Thảo Cương Mục, viên được
phân biệt với nhung tức nhu (tay dài, đuôi dài) độc, tinh tinh (cùng là tay
dài, đuôi ngắn), dã nhân (tay ngắn, đuôi dài), hầu (tay ngắn, đuôi ngắn)...
Nhà Đông Phương Học và ngoại giao người Hòa Lan G.H. van
Gulik (11) cho rằng hầu (monkey) là giống khỉ nhỏ như khỉ đi theo
chủ đóng trò ngoài đường phố, lang thang hết chỗ này đến chỗ nọ, trong khi
viên, " cao cấp hơn ", sống trong rừng sâu với thi nhân và người ở
ẩn. Hầu mới đúng là con khỉ hiếu kỳ, nghịch ngợm, gian trá mưu mẹo như người,
con khỉ ăn trộm đào và lẽo đẽo sau lưng chủ trên con đường thỉnh kinh dằng dặc.
Nó mới là nhân vật chính của TDK, tác phẩm thế kỷ 16 ấy. Con hầu đó đã theo
kinh Phật vào Trung Quốc từ đầu công nguyên và đem theo nó cả một kho tàng dân
thoại Ân Độ. Ngược lại, con viên (ape), con vượn dài tay kia là sản phẩm của
Trung Quốc. Nó tượng trưng cho tình cảm và ý nghĩ thoát tục, sâu xa và thần bí
của những nhà tư tưởng và văn học, thi nhân, họa gia...
(11) - G.H. van Gulik, Gibbon in China.
Sách vở cho biết ngày xưa người Trung Quốc sống gần với khỉ
vượn và viên có vai trò quan trọng hơn hầu. Đạo sĩ Cát Hồng đời Tấn (thế kỷ thứ
4) viết"Mi (Di) hầu sống 800 năm thì thành vượn " (Bão Phác Tử). Thái
Bình Ngự Lãm thời Tống cho biết " Chu Mục Vương nam chinh. Tướng sĩ hóa
hết. Quân tử hoá thành vượn hay hạc, tiểu nhân thành trùng". Hoài Nam Tử
của Lưu An chép " Sở Vương mất con vượn, sai phạt cây để tiøm làm tan
hoang cả rừng". Con vượn dài tay dần dần được thần bí hóa, nhiều khi thần
tiên hóa nữa. Sách Ngô Việt Xuân Thu có kể chuyện ông lão tên Viên Công thi
kiếm thuật với người con gái nước Việt, bị thua hóa thành vượn trắng leo lên
cây. Sơn Hải Kinh đời Hán cũng hai lần nhắc đến vượn trắng nhưng phải đợi đến
đời Đường mới thần bí hóa nó và hình ảnh vượn trắng trở thành nhân tố quan
trọng trong việc xây dựng hình tượng nhân vật TNK.
Trong khi con vượn được đưa vào văn học như lúc ví von về
nỗi buồn thảm thiết người ta hay dùng chử viên đề, viên minh, viên thanh... (12).
Thì những những giống như tinh tinh (đười ươi, họ Pongidae), phí phí (họ
Cercopithecoidea) được tả là có mặt giống mặt người, biết bắt chước tiếng người
lại ít khi được văn gia để ý. Có chăng là những chuyện tinh tinh cái chính là
dã bà, dã nữ, vì không có đực nên bắt cóc đàn ông về làm chồng (13) (Chu Mật,
Tề Đông Dã Thoại) còn phí phí hay xõa tóc, chạy rất nhanh, gặp người thì cười
và bắt ăn thịt (Sơn Hải Kinh, Quách Phác chú). Cho dầu những chuyện trên chỉ là
hoang đường nhưng nó chứng tỏ sức tưởng tượng phong phú của dân gian, quan
trọng đối với quá trình hư cấu nhân vật tiểu thuyết.
(12) - Lưỡng ngạn viên
thanh đề bất tận (Lý Bạch), Thính viên thực hạ tam thanh lệ (Đổ Phủ) (13) -
Liên hệ đến cấm kỵ (tabou) về hôn nhân khác giống và huyễn tưởng về những nước
thuần nam hay thuần nữ có thấy trong TDK (Tây Lương Nữ Quốc) hay Hoài Nam Tử
(Trượng Phu Quốc, Nữ Tử Quốc)
Mô típ dân thoại về
khỉ vượn
Hí khúc Tây Du Ký có nói đến chuyện TNK bắt cóc nữ vương
nước Kim Đỉnh về làm vợ. Mô-típ vượn đực bắt cóc vợ người cũng đầy dẫy trong
văn học dân gian Trung Quốc.
Dịch Lâm của Tiêu Diên Thọ đời Hán đã kể có người bị một con
vượn lớn cướp người thiếp yêu nhưng sợ không dám đuổi theo, từ đó đành ngủ một
mình.Sưu Thần Ký do Can Bảo đời Tấn cũng viết chuyện " trong đất
Thục, có giống vượn bắt cóc người làm vợ, sinh con. Đàn bà về ở với chúng dần
dà đâm ra u mê cả. Sinh con toàn lấy họ Dương " (14). Truyện
giống y như thế cũng được chi lại trong Bác Vật Chí của Trương Hoa và Dậu Dương
TạpTrở của Đoàn Thành Thức. Nổi tiếng hơn cả có lẽ là Bổ Giang Tổng Bạch Viên
Truyện, kể về chuyện tướng Âu Dương Hột đi cứu người vợ đẹp bị con vượn trắng
có sức mạnh vô song bắt đem về núi. Truyện nầy bổ túc Bạch Viên Truyện của
Giang Tổng đời Trần (15).
(14) - Trong TDK, chuyện yêu quái bắt từ công chúa đến con gái lương
dân về làm vợ nhiều không kể hết (phụ chú của NNT).
(15) - Nước cuối cùng
thời Nam Bắc Triều đóng đô ở Kiến Khang (Nam Kinh bây giờ), vùng Giang Nam, do
Vũ Đế Trần Bá Tiên đoạt từ Lương Kính Đế. Đến đời Hậu Chủ bị Tùy Văn Đế diệt.
(557-589) (phụ chú của NNT).
Sự linh thiêng của loài vượn đã thành đề tài của thi phú và
thuyết thoại (shuo hua). Phó Huyền đời Tấn viết Viên Hầu Phú, Ngô Quân đời
Đường viết Huyền Viên Phú, Lý Đức Dụ viết Bạch Viên Phú, Liễu Tôn Nguyên viết
Tặng Vương Tôn Văn. Đáng kể hơn nữa là đầu đời Tống có Từ Huyền ghi lại trong
Kê Thân Lục truyện Lão hầu thiết phụ nhân (Khỉ già trộm đàn bà ) và trong
khoảng năm Thuần Hi, Chu Khứ Phi trong Lĩnh Ngoại Đại Đáp có viết về Quế Lâm
Hầu Yêu, nói đến một con khỉ già vài trăm tuổi ở phủ Tĩnh Giang (Quế Lâm), biến
hóa thần thông, chuyên bắt gái đẹp. Lại có truyện Thân Dương Động Ký trong Tiễn
Đăng Tân Thoại của Cù Hựu đời Minh kể truyện chàng thợ săn Lý Đức Phùng lọt vào
động Thân Dương cũng ở Quế Lâm và cứu 3 nàng con gái bị vượn bắt cóc. Hồng Tiện
đời Minh biên Thanh Bình Sơn Đường Thoại Bản, trong đó có Trần Tuần Kiểm Mai
Lĩnh Thất Thê Ký kể truyện nàng Như Xuân, vợ của Tuần Kiểm Trần Tân đời Tống
Huy Tôn, một đêm bị con tinh vượn tên Thân Dương Công (16), hiệu...Tề Thiên
Đại Thánh nổi một trận gió bắt cóc từ nhà trọ phía bắc Mai Lĩnh (Phúc Kiến) đem
về động. Trần Tuần Kiểm ra công đi tìm vợ, ba năm sau mới tìm ra dấu vết một
con vượn trắng đến nghe giảng Phật pháp ở chùa Hồng Liên, phải nhờ một vị tu
hành tên Tử Dương Chân Nhân lấy xiềng trói nó lại.
(16) - Theo Vương Sung đời Hán trong Luận
Hành, Vật Thế Biên, Thân có nghĩa là Khỉ, Dương là Đực.
Ngoài mô-típ về con khỉ háo sắc, còn có mô-típ về con khỉ bị
giam cầm. Trong " thi thoại " đời Tống không thấy chi tiết Tôn Hành
Giả bị đè dưới núi đá nhưng các truyện Tây Du kể từ đời Nguyên trở đi, không
đâu là không có mô-típ con khỉ bị giam. Đường Quốc Sử Bổ đời Thịnh Đường có
chép chuyện ông câu trên Hoài Hà ở Giang Tô thấy lưỡi câu bị vướng xích sắt
dưới lòng sông mới đi báo quan. Thứ sử Lý Dương cho người tới kéo xích thì một
con khỉ đen lớn (thanh mi hầu) trồi lên rồi lại lặn mất. Có người tra cứu Sơn
Hải Kinh mới biết con khỉ đó là Vô Chi Kỳ, bị vua Vũ nhà Hạ xiềng dưới núi Quân
Sơn. Lý Công Tá, tác giả truyền kỳ nổi tiếng Nam Kha Thái Thú Truyện cũng có
lần (trong truyện Lý Thang) kể về con khỉ khổng lồ đầu bạc, răng trắng, móng
vàng bị xiềng trên sông, tương tự như câu chuyện thấy trong Đường Quốc Sử Bổ.
Ngoài ra, Vương Tượng Chi đời Nam Tống trong quyển sách địa lý Dư Địa Kỷ Thắng
lại đưa ra sự tích nhà sư nước Khang Cư (Sogdian) từ Tây Vực đến tên gọi Tăng
Già (Sangha, có chổ cho là hóa thân của Quan Âm vốn hay cứu người bị nạn thủy )
đã hàng phục con quái vật Vô Chi Kỳ ấy.
Một mô-típ cũng thú vị không kém là mô típ về con khỉ đi
thỉnh kinh.
Học giả Trần Dần Khác trong bài viết nhan đề Tây Du Ký Huyền
Trang Đệ Tử Cố SựChi Diễn Biến có viết như sau " Ấn Độ vốn có nhiều cố sự
về khỉ vượn nhưng không nghe nói có chuyện viên hầu náo thiên. Ở Trung Quốc cố
sự về khỉ vượn cũng nhiều nhưng luân lý TQ nghiêm khắc ngăn cấm sự đão nghịch
giữa vua và tôi, người và thú ". Ông Trần dẫn 2 kinh Phật Đại Trang Nghiêm
Kinh Luận và Hiền Ngu Kinh nói về Đỉnh Thiên Vương Náo Thiên và xem sự tích này
như là điểm bắt nguồn của sự tích Tôn Hành Giả Đại Náo Thiên Cung. Tuy nhiên vì
ông không lập được liên hệ giữa Đỉnh Thiên Vương và Tôn Ngộ Không nên thuyết
này thiếu tính thuyết phục.
Ngược lại, Uchida Michio khi nghiên cứu về sự hình thành TDK
đã trưng ra liên hệ giữa kinh Phật và TDK ở sự tích tì kheo Bà Tu Mật Đa
(Vasumitra) trong Phật Thuyết Sư Tử Nguyệt Phật Bản Sinh Kinh. " Tì kheo
leo lên cây bắt chước tiêng mi hầu kêu thì tám vạn bốn nghìn mi hầu lông vàng
tụ tập lại. " Trong tiền kiếp, tì kheo tên là Liên Hoa Tạng thân với quốc
vương và các trưởng giả nhưng vì trễ nãi việc giữ giới hạn phải xuống địa ngục
A Tỳ thành ngạ quỷ, ăn sắt uống đồng, sau tám vạn bốn nghìn năm được đầu thai
qua nhiều kiếp thú vật. Đến khi thành mi hầu thì nhờ giữ giới mới thành tì
kheo, sau là Sư Tử Nguyệt Như Lai. Những chi tiết " ăn sắt uống đồng
", " tám vạn bốn nghìn năm " đều được thấy ở TDK đời Nguyên dẫn
ra trong Phác Thông Sự Thông Giải và thi thoại đời Minh. Uchida nhân đó kết
luận là câu chuyện Sư Tử Bản Sinh Đàm là nguồn cội trực tiếp của TNK.
Mô típ con khỉ tu hành còn thấy trong Tiễn Đăng Thi Thoại
(Thính Kinh Viên Ký) của Lý Trinh đời Minh qua truyện viết về con khỉ Viễn Tốn
mặc cà sa đi tu thành Phật. Nguyên khúc có vở Long Tế Sơn Dã Hầu Thính Kinh kể
chuyện tương tự. Ngay cả Thất Thê Ký đã dẫn cũng có chương nói về con khỉ đến
nghe kinh ở Hồng Liên Tự.
Liên hệ giữa Huyền Trang và Tôn Ngộ Không hay liên hệ giữa
nhà tu hành,việc lấy kinh Phật và con khỉ cũng đã được thấy trong bài tựa Đại
Nhật Kinh của cao tăng Ấn Độ đến TQ đời Huyền Tông tên Tu Bà Già La (17) (
Subhakarashinha, 637-735), tiếng Hán gọi là Tĩnh Giới hay Thiện Vô Úy qua
chuyện con khỉ mất kinh đi đòi. Ngoài ra, sách Đường Triều Danh Họa Lục của Chu
Cảnh Huyền cùng có nhắc đến bức tranh của tăng Uất Trì Ất chùa Báo Ân Tự (chùa
này có liên lạc mật thiết với Huyền Trang) vẽ hình 12 bộ chúng của Thiên Thủ
Thiên Nhãn Quan Âm trong đó có có con mi hầu tên gọi Tất Bà Già La Vương. Isobe
Akira phỏng đoán Quan Âm có thể đã đóng vai môi giới để Huyền Trang và mi hầu
gặp gỡ nhau.
(17) - Một trong 4 người được tặng danh hiệu
Tam Tạng Pháp Sư đời Đường. Ngoài Huyền Trang, còn Nghĩa Tĩnh (635-713), Kim
Cương Trí (Vajrabodhi, 662?-741?), Thiện Vô Úy (nói trên), và Bất Không
(Amoghavajra, 705-774?), đều là cao tăng trứ danh, giỏi cả bạ tạng tức Kinh,
Luật, Luận).
Ngoài những mô-típ về khỉ đã kể ra, chúng ta không quên
những chi tiết trong dân thoại và và truyền kỳ có liên quan gần xa tới hành
tung của nhân vật Tôn Ngô Không. Xin đơn cử:
Từ đá nứt ra: Tôn Ngộ Không có
nguồn gốc siêu phàm vì là con thạch hầu sinh ra từ hòn đá đã hấp thụ tinh hoa
nhật nguyệt. Hình thức sinh đẻ nầy gọi là " lưỡng tính câu hữu "
(androgynous) vì sinh ra từ một vật có cả 2 sinh thực khí nam nữ cùng lúc. Nó
tượng trưng cho mô-típ nguồn gốc linh thiêng của các nhân vật thần bí. Trong
các văn minh như Maya, Incas, Hi Lap, từ những vùng như Caucase cho đến các đảo
Đại Dương Châu, ta đều thấy mô-típ từ đá sinh ra. Thần thoại Trung Quốc có nói
đến vua Vũ nhà Hạ từ trụ đá sinh ra. Khải, con của Vũ cũng từ đá nứt chui ra sau
khi mẹ là Đồ Sơn Thị (có thuyết cho chính là Nữ Oa, người luyện đá ngũ sắc vá
trời) hóa đá ở Tung Cao Sơn. Núi Trung Nhạc (Tung Sơn), vùng Hồ Nam, tương
truyền hãy còn dấu hòn đá tên Khai (Khải?) Mẫu Thạch.
Tái sinh: Tôn Ngộ Không phá phách
tức là đứng về phía chống đối lại trật tự đã an bài. Việc TNK bị giam trong lò
bát quái và dưới núi Ngũ Hành tượng trưng cho sự chết và tái sinh. Nếu không
như thế, sự trở về" chính nghĩa" để làm người đi lấy kinh của TNK khó
giải thích. Na Tra cũng phải lóc thịt, trả cha mẹ để sau này trở thành Thiện
Tài Đồng Tử, từ nhân vật phản diện đổi qua chính diện.
Aên trộm đào tiên: Truyện Đông
Phương Sóc kiếp trước ăn trộm đào tương truyền có chép trong Hán Vũ Cố Sự.
Quyển sách nói trên đã mất nhưng Lỗ Tấn tìm lại được dấu vết ở Nghệ Văn Ngoại
Uyển và ghi lại dẫn dụng về sự tích này trong tác phẩm Cổ Tiểu Thuyết Câu Trầm
của ông.
Hoa quả có hình người: Đây là một
chi tiết thú vị vì nó đưa ta tiếp xúc với các dân thoại xa xôi hơn. Lý Thời
Trân đã dẫn dụng trong Bản Thảo Cương Mục từ quyển sách đã thất lạc tên là
Quảng Ngũ Hành Ký truyện củ nhân sâm đời Tùy Văn Đế có cả tứ chi và biết khóc
như người ở vùng Thượng Đảng (Sơn Tây bây giờ). Sách Dị Uyển cuối thế kỷ thứ 5
đã nói về những "thảo yêu", loại củ có hình người. Chúng ta biết củ
tượng trưng cho sinh thực khí nam và đào tượng trưng cho sinh thực khí nữ. Kinh
Thi ví người đàn bà có chồng là "đào yêu", tượng trưng cho sự sung
mãn và phồn thực. Hình tượng quả đào trường sinh của Tây Vương Mẫu ba nghìn năm
mới ra quả như Hán Vũ Cố Sự kể lại có thể đến từ Đại Thực (Ả Rập) vì sách Thuật
Dị Ký (do người thời Đường mạt mượn tiếng Nhiệm Phường đời Lương (thế kỷ thứ 6)
viết, đã tả những quả có hình người và còn biết cười nữa. Thực ra những tin tức
nầy đến từ Thông Điển của một người cuối đời Đường tên Đỗ Hựu, lấy tin từ một
thân nhân tên Đỗ Hoàn. Hoàn đã theo Cao Tiên Chi hành quân ở Trung Á năm Thiên
Bảo thứ 10 (751) và bị bắt cầm tù giải về Damascus
(Syria).
Mười năm sau, trở lại cố hương, Hoàn viết sách Kinh Hành Ký có ghi việc này
nhưng sách đã thất lạc. Không hiểu quả Hoàn muốn nói là quả gì? Mặt khác, cuối
thế kỷ 13, Chu Mật đã viết Quý Tân Tạp Thức, trong đó có nói về một thứ quả
độc tên gọi "áp bất lư" (yabruh?) đến từ nước Hồi Hồi. Dù không biết
đích xác về quả này nhưng ta thấy rằng vào thế kỷ 13, giao dịch giữa Tuyền Châu
(Zaytoun) và các nước Nam Á, Trung Cận Đông đã rộng rãi và người TQ có dịp nghe
những chuyện lạ của các vùng đất đó.