Hồi ký Lý Quang Diệu - Chương 05 phần 2
Tôi
rất kích động trước khả năng này.
Chỉ
còn hai tháng để lo trước khi năm học bắt đầu. Tôi yêu cầu được gặp ngài giám
thị. Không chỉ đồng ý gặp, ông còn vui lòng giúp đỡ tôi nữa. Ngày 1/8, ông viết
cho cô Butler một lá thư, và một lá nữa cho hiệu trưởng Newham, một trường đại
học nữ khác ở Cambridge. Cả hai trả lời ngay. Newham dành cho một chỗ vào năm
học 1948. Cô Butler thì tích cực hơn. Cô vui lòng dành một chỗ trống vào tháng
10/1947 mà Girton để dành cho những trường hợp đặc biệt, miễn là Choo có đủ
tiêu chuẩn được vào. Thatcher viết gởi kèm cho tôi cả hai thư trả lời đó. Tôi
lao ngay tới Ủy ban đặc trách thi cử thuộc đại học Cambridge gần đường Silver
dọc sông Cam. Tôi cho họ biết năm Choo nhận bằng Đệ nhị cấp Cambridge của cô –
năm 1936. Họ truy ra kết quả của cô và trao cho tôi một bản sao có chứng thực –
cô ấy là học sinh đỗ đầu năm học ấy.
Rồi
tôi viết một lá thư yêu cầu được gặp cô Butler ở Girton. Cô vui lòng tiếp tôi,
và tôi đến đúng giờ hẹn vào buổi sáng ngày 6/8. Tôi nói với cô rằng bạn tôi, cô
Kwa, là một cô gái rất thông minh, thông minh hơn cả tôi, và rằng cô ấy đứng
đầu danh sách, cao hơn cả tôi ở Đại học Raffles trong nhiều trường hợp. Tôi
thêm rằng mình đã vào Cambridge trễ một học kỳ và đứng nhất trong kỳ thi
Qualifying One, và tôi tin rằng cô ấy cũng sẽ học được như vậy. Cô Butler là
một phụ nữ tóc bạch kim dễ mến với đôi kính cận, hơi tròn trĩnh và có vẻ phúc
hậu. Cô thích thú với chàng trai trẻ người Hoa đang nhiệt tình tán dương cô bạn
gái của anh ta là một sinh viên hơn hẳn anh ta và cô bị hấp dẫn với ý tưởng
rằng có lẽ cô gái ấy là một ngoại lệ. Cùng ngày ấy tôi đánh điện cho Choo:
“Girton nhận. Thư từ chính thức sẽ tới. Chuẩn bị mau lên.”
Cô
lên một chuyến tàu chở binh lính ở Singapore cuối tháng 8. Tôi nôn nao chờ ở
bến cảng và cuối cùng cô cũng đến được Liverpool vào đầu tháng 10. Tôi xiết bao
vui mừng được gặp lại cô sau một năm dài chia ly. Chúng tôi đáp xe lửa đến
London ngay và sau năm ngày ở đó, chúng tôi tới Cambridge.
Lúc
này tôi đã biết tự tổ chức và quen thuộc với nơi này. Nhưng lại có những vấn đề
mới. Ông Pounds, một trợ giảng trẻ tuổi và là thủ quỹ của Fitzwilliam, phân cho
tôi những phòng cách Cambridge ba dặm về phía Nam. Tôi giật mình. Girton thì ở
phía Bắc thành phố. Tôi cố hết sức để tìm một căn phòng gần Choo hơn nhưng
không được, ông Pounds quả là cương quyết. Tôi cầu đến ông giám thị. Thư trả
lời của ông đầy thân ái, nhưng đượm một chút khôi hài:
“Lee
thân mến,
…Anh
cho rằng anh phải đi một quãng đường dài để đến gặp hôn thê của anh, hoặc vợ
anh như anh hằng trông đợi. Không thực sự quá xa như anh nghĩ đâu, đặc biệt nếu
tình yêu cung cấp động lực. Tôi không biết anh có đọc các truyện thần thoại
danh tiếng không, nhưng hẳn anh còn nhớ người đàn ông đã bơi qua eo Bosphorus
mỗi đêm để gặp người yêu của anh ta. Việc đi đến Girton là một việc nhẹ nhàng
so với chuyện đó. Theo chuyện kể, chàng trai ấy đã chết đuối khi đang bơi trong
một đêm tuyệt đẹp, nhưng tôi nghi ngờ không biết anh có cần phải chết vì kiệt
sức trên đường không. Tuy nhiên nếu anh có thể tìm được căn phòng ở gần Girton,
chúng tôi sẽ gắng hết sức mình để hợp tác với anh và đăng ký nó cho anh, vì vậy
nếu anh thích đến và thử đi tìm, thì hãy làm đi.
Tuy
nhiên, tôi không chắc rằng Girton sẽ tán thành việc anh cưới
cô gái trẻ đó quá vội vàng, vì họ sẽ rất đương nhiên và chính đáng khi cho
rằng ánh lửa đầu tiên của tình yêu lóe lên thì
học hành sẽ chẳng còn được bao nhiêu. Nhưng
tôi đã quá già để cho lời khuyên giữa một người đàn ông và ngọn lửa
trong đôi mắt anh ta.
Bạn
chân thành của anh,
W.S.
Thatcher”
Một
tuần sau, tôi tìm được một căn phòng gần Fitzwilliam tại trại ngựa của thuyền
trưởng Harris. Thuyền trưởng Harris nuôi ngựa và loại chó săn cáo. Tôi làm
sinh viên ở trọ nhà ông ta. Ông ta đòi một giá quá đắt, khoảng 9 bảng một
tuần chỉ cho việc ngủ, ăn sáng, tắm rửa và mọi thứ vặt vãnh khác. Tôi không có
sự chọn lựa nào khác. Nó cũng thuận lợi. Tôi sẽ ở đó trong hai năm kế tiếp cho
đến khi rời khỏi Cambridge vào mùa hè năm 1949.
Giờ
tới lượt Choo bị cú sốc văn hóa. Cô ấy không quen với quần áo len dày sụ mà cô
đã mua bằng phiếu vải, thứ áo khoác nặng trịch và sau đó là đôi giày lông cừu
dành cho mùa đông. Chúng trĩu nặng trên người cô ấy. Và Girton cách thành phố
hai dặm. Cô không đi được xe đạp, nên phải dùng xe buýt. Khả năng định hướng
của cô không bao giờ tốt. Đó là thời kỳ cô mất phương hướng.
Sau
ít tuần cố điều chỉnh, cô bảo rằng cô nhận thấy tôi đã thay đổi. Tôi không còn
là người vui vẻ, lạc quan, dám nghĩ dám làm, một chàng trai có thể làm được mọi
thứ, sôi sục niềm vui sống. Bất chấp sự ưu đãi mà tôi đã nhận được, đặc biệt là
lòng tốt của Billy Thatcher, và tâm trạng vui vẻ của tôi trong suốt mùa hè thú
vị năm 1947, tôi có vẻ như trở nên bài xích nước Anh sâu sắc, đặc biệt là chế
độ thuộc địa ở Malaysia và Singapore mà tôi kiên quyết sẽ kết thúc nó. Một năm
ở London và Cambridge đã hình thành những thay đổi trong tôi, bắt đầu từ khi
Nhật chiếm Singapore năm 1942. Giờ tôi đã thấy người Anh ngay
trên đất nước họ và tôi nghi ngờ khả năng của họ trong việc
cai trị các thuộc địa vì lợi ích của dân bản xứ. Các viên chức thuộc địa không
quan tâm gì tới sự tiến bộ của các nước thuộc địa, mà chỉ quan tâm đến những
địa vị hàng đầu và mức lương cao mà các thuộc địa có thể đem lại cho họ. Ở cấp
độ quốc gia, họ quan tâm chủ yếu đến việc giữ được nguồn ngoại tệ, chủ yếu là
đôla Mỹ, nhờ xuất khẩu cao su và thiếc của Malaysia, nhằm nuôi dưỡng đồng bảng
Anh suy yếu.
Sau
nhận xét của Choo, tôi bắt đầu xét lại chính mình để xem chuyện đó đã xảy ra
thế nào. Có thể là nó bắt đầu bằng kinh nghiệm của tôi về định kiến màu da của
tầng lớp lao động Anh, những người soát vé xe buýt, những cô gái bán hàng và
các chị hầu bàn trong các cửa hàng và nhà hàng, và các bà chủ nhà trọ ở
Hampstead mà tôi tình cờ gặp trong khi tìm chỗ trọ. Vài lần tôi đến những ngôi
nhà liệt kê trong danh sách “phòng cho thuê” yết thị gần nhà ga xe điện Swiss
Cottage, chỉ để được nghe trả lời, một khi họ thấy tôi là người Hoa, rằng các
phòng đó đã có người thuê rồi. Sau này, rút kinh nghiệm về các vụ đó, tôi gọi
điện trước cho họ nói rằng tên tôi là Lee, đánh vần “L, hai chữ e” nhưng tôi là
người Hoa. Nếu họ không thích một người Hoa, họ có thể thoái thác và tránh cho
tôi khỏi mất công đi đến nhà họ.
Những
người Anh tôi gặp ở tầng lớp trên – những giáo sư và thầy giáo, những thư ký và
thủ thư ở Cambridge và Middle Temple – là những người có học thức, lịch sự và
tốt bụng, dù hơi dè dặt. Những sinh viên người Anh thì nói chung là lịch sự,
thậm chí thân thiện nữa, nhưng luôn luôn chừng mực. Nhưng dĩ nhiên vẫn có định
kiến màu da trong cuộc đua tranh để giành chỗ trong các đội tuyển thể thao,
hoặc vì các “huy chương danh dự” và “huy chương bán danh dự” dành cho các môn
thể thao ở trường đại học. Những người Singapore và Malaysia rất giỏi môn cầu
lông, bộ môn được coi như môn bán danh dự, và thực tế họ đã đoạt vài huy chương
cho môn đó; nhưng gần như người châu Á không thể nào gia nhập được vào đội
tuyển các môn thể thao chủ lực như cricket, bóng bầu dục hoặc chèo thuyền,
môn được coi là danh giá nhất.
Sự
đốì xử phân biệt này có thể không hoàn toàn do định kiến màu da, mà nảy sinh từ
hệ thống giai cấp – một hiện tượng kỳ lạ khác đối với người đến từ một xã hội
năng động, non trẻ của những di dân. Ngay cả giữa sinh viên da trắng với nhau,
những người đến từ các trường trung học công lập chính quy vẫn có lợi thế hơn.
Và giống như những người còn lại, họ thèm muốn những huy chương ở trường đại
học vì nó sẽ thành một vốn quý trong tương lai, và họ có thể ghi chúng vào lý
lịch của họ. Chúng là phương tiện để vươn đến những điều lớn lao hơn – bất kỳ
ai có huy chương môn chèo thuyền là coi như đã có sự nghiệp. Tương tự, chức chủ
tịch Cambridge Union Society (Hội liên hiệp Cambridge) có thể giúp người ta trở
thành ứng cử viên tương lai cho một đơn vị bầu cử của đảng Bảo thủ hoặc Lao
động, hoặc nhận một công việc trong bộ phận nghiên cứu về một trong các đảng
đó.
Cũng
có một sự đua tài gay gắt giữa những người châu Á, phần lớn là người Ấn Độ, để
được bầu vào Union Society, nhưng trong trường hợp của họ thì thật khó hiểu,
bởi vì vào năm 1947, Ấn Độ và Pakistan sắp giành được độc lập. Một sinh viên
người Sri Lanka đã được bầu làm thư ký của Hội Sinh viên (Students’ Union). Tôi
tự hỏi điều đó sẽ giúp gì để anh ta trở thành một người lãnh đạo trong một nước
Sri Lanka tự do.
Tôi
không quan tâm đến những vấn đề linh tinh này. Tôi quyết định tập trung vào
việc đạt hạng nhất, bởi điều đó sẽ tạo ảnh hưởng khi tôi trở về Singapore.
Trong
khi đó, tôi và Choo bàn nhau về đời sống hướng tới tương lai của chúng tôi ở
Anh. Chúng tôi quyết định tốt nhất là chúng tôi cưới nhau một cách lặng lẽ vào
tháng 12 nhân dịp lễ Giáng sinh, và giữ bí mật chuyện đó. Bố mẹ Choo sẽ bực bội
nếu chúng tôi hỏi ý kiến, trường Girton có thể không
tán thành, như viên giám thị đã nhắc nhở tôi trong lá thư của ông; và những
người có thẩm quyền trong vụ học bổng Nữ hoàng có thể gây khó khăn. Chúng tôi
đã trưởng thành, đều ở độ tuổi ngoài hai mươi, và chúng tôi đã quyết định cẩn
thận. Không hề biết gì về động lực thực sự của
chúng tôi, một người bạn Anh giới thiệu một quán
rượu ở Stratfort–on–Avon là nơi để nghỉ lễ Giáng sinh và đi thăm nhà hát
Shakespeare nổi tiếng. Khi đến đó, chúng tôi thông báo ý định của mình cho nhân
viên Văn phòng hôn nhân địa phương, và sau hai tuần lưu trú là đủ để cưới nhau
theo luật. Trên đường đến Stratford–on–Avon chúng tôi dừng lại ở London, tại đó
tôi mua cho Choo một chiếc nhẫn cưới bằng bạch kim trong một tiệm kim hoàn trên
đường Regan. Nhưng khi trở lại Cambridge, cô lại đeo chiếc nhẫn vào sợi dây
chuyền cổ.
Dù
có sự thay đổi này trong đời sống, chúng tôi vẫn làm việc một cách hệ thống và
chăm chỉ trong học tập. Tôi muốn mình phải đạt tiêu chuẩn loại I của kỳ thi
sinh viên giỏi cấp I. Nhưng Choo lại phải đương đầu với một thời kỳ khó khăn
với chương trình năm thứ hai. Kỳ thi lại đến vào khoảng tháng 5/1948, và tháng
6 kết quả được công bố ở Senate House. Tôi đứng đầu trên danh sách, loại I của
cuộc thi sinh viên giỏi. Choo được xếp Loại II trong kỳ thi
Law Qualifying Two. Cô thất vọng. Nhưng đó không phải là kỳ thi
sinh viên giỏi và không được tính. Tôi an ủi cô, và chúng tôi quyết định đi
nghỉ hai tuần ở lục địa châu Âu. Tránh xa các nhóm du lịch, chúng tôi dự định
lưu lại năm ngày ở Paris, rồi ở Thụy Sĩ một tuần.
Một
việc bất ngờ xảy ra ở Lugano vào hôm ấy đã in đậm trong trí tôi. Tay tiếp tân
khách sạn nhìn tôi và hỏi tôi có phải là người Hoa không.
Tôi
nói: “Phải, nhưng đến từ Singapore.”
Anh
ta nói: “A, Chiang Kai–shek (Tưởng Giới Thạch).”
Anh
ta không biết sự khác nhau. Tôi không hề tự hào về Chiang Kai–shek. Ông ta đã
bị Quân đội Nhân dân Giải phóng đuổi khỏi Trung Hoa lục địa. Nhưng tôi đã quen
thấy những người châu Âu nhận ra tôi là một người Hoa. Chúng tôi đã có kỳ nghỉ
tuyệt vời nhất trong đời mình, tham quan, đi dạo, ăn và uống bia, rượu vang và
sâm–panh.
Tháng
10, chúng tôi trở về Cambridge chuẩn bị cho năm cuối. Chúng tôi dự các buổi
giảng, viết tiểu luận và làm bài tập cho những
giám sát viên, đọc sách ở thư viện hoặc trong phòng tôi
tại trại ngựa của thuyền trưởng Harris. Nhưng cuộc sống không chỉ có công việc.
Vào những ngày cuối tuần và một vài tối tôi sẽ đạp xe đến Girton, và Choo sẽ
nấu những món ăn Singapore trên cái bếp ga của cô ở khu nhà tập thể dục. Tôi sẽ
mời thêm Yong Pung How và Eddie Barker, cũng là người được nhận học bổng Nữ
hoàng từ Đại học Raffles và đang học luật. Đôi khi, toàn bộ khẩu phần thịt cả
tuần của tôi biến thành món cà–ri, hoặc Choo sẽ làm món kway teow chiên
tuyệt vời, dùng thịt gà thay cho thịt heo, và ớt Hungari thay cho ớt bột.
Hiện
thời, chúng tôi đã thích nghi và thiết lập được những mối quan hệ tốt đẹp. Tôi
đã thu xếp để được học với những giám sát viên giỏi nhất Cambridge. Họ là những
nghiên cứu sinh của Trinity Hall, hồi đó là trường luật hàng đầu, nhưng sau khi
tôi đạt loại I vào cuối năm đầu tiên, tôi có thể thuyết phục họ giám sát tôi dù
tôi ở Fitzwilliam. Giám sát viên giỏi nhất của tôi là Trevor Thomas. Ông ta có
đầu óc thông minh, quả quyết và có hệ thống.
Tôi
cũng kết bạn với một số sinh viên người Anh. Một số trong đó là những tay tích
cực trong Câu lạc bộ Lao động của trường đại học Cambridge, những người sau này
trở thành ứng cử viên của đảng Lao động trong cuộc tổng tuyển cử năm 1950; một
số khác đi theo những ngành luật khác nhau và trở thành những giáo sư lỗi lạc
trong ngành công pháp quốc tế, luật đối chiếu và luật công nghiệp. Họ là một
nhóm người thông minh và tốt bụng.
Tháng
2/1949, tôi đại diện cho đại học Cambridge dự một cuộc tranh luận (cuộc tranh
luận thực tập) tại Oxford trước một thẩm phán tên là Sellers. Các luật sư sinh
viên khác có vẻ như không nắm được điểm tế vi về luật đang tranh cãi, và khi
tôinắm bắt được nó, gương mặt của Sellers tươi hẳn lên. Khi đọc bản
nhận xét, ông ta đã khen ngợi tôi. Nhưng tôi không hề tham dự một cuộc tranh
luận nào của Cambridge Union Society. Tôi nghĩ thật là kém khôn ngoan khi nghĩ
sao nói vậy trước khi bàn bạc với bạn bè tôi về con đường tôi sẽ đi khi trở về
Singapore.
Tuy
nhiên, khi ở London, trong một số dịp, tôi có đến Hạ nghị viện để nghe các bài
diễn thuyết. Vài dân biểu thuộc đảng Lao động tỏ vẻ thân thiện với các sinh
viên thuộc địa (không như nhóm Bảo thủ thường không tán thành lòng khao khát tự
do của họ). Fenner Brockway, dân biểu hạt Eton và Slough sẽ gặp tôi tại
Westminster để cho tôi một vé vào Strangers’ Gallery. Stanley Awbery (sau này
là Huân tước Awbery) giống như Fenner Brockway, một người ủng hộ các dân tộc
thuộc địa bị áp bức. Đảng Lao động có một số diễn giả lỗi lạc. Tôi còn nhớ, vào
lần viếng thăm đầu tiên của tôi vào năm 1947, được chứng kiến Stafford Cripps
phê phán tơi bời vị Bộ trưởng Bộ thuộc địa chịu ảnh hưởng của đảng Bảo thủ. Ông
ta có đầu óc thông minh.
Chúng
tôi thi đợt cuối cùng vào tháng 5/1949, và khi kết quả được cống bố vào tháng
6, tôi thật hài lòng. Tôi đậu đầu và đạt được ngôi sao duy nhất dành cho tài
năng xuất chúng trong danh sách danh dự kỳ thi
sinh viên giỏi cấp II. Choo cũng đạt loại I, và chúng tôi đánh điện báo tin vui
về cho gia đình. Đó là dấu ấn tốt đẹp cho giai đoạn kế tiếp trong đời tôi.
Trước khi một sinh viên có thể nhận bằng của mình, nguyên tắc trường đại học
đòi hỏi anh ta “giam mình” ít nhất là chín học kỳ, nói cách khác là anh ta phải
lưu trú trong trường hoặc ở trong phòng trọ đã được chấp thuận khoảng tám tuần
trong một học kỳ. Choo ở trong trường Cambridge chỉ có sáu học kỳ; còn tôi chỉ
có tám. Hẳn người ta đã xét tới những trường hợp miễn trừ đặc biệt vì cả hai
chúng tôi đều được phép nhận bằng tốt nghiệp vào giữa mùa hè, ngày 21/6. Nếu
không, tôi sẽ phải ở lại Cambridge thêm một học kỳ nữa, và Choo thêm ba học kỳ
trước khi chúng tôi được cấp bằng tốt nghiệp.
Cambridge
rất coi trọng việc giữ gìn những truyền thống cổ kính mà nó đã trở thành kỳ lạ
hơn theo năm tháng, nhưng những truyền thống ấy đã làm tăng vẻ huyền thoại của
chốn này như một trung tâm nghiên cứu lâu đời. Vào ngày Đại hội tất cả đại học,
các sinh viên xếp thành hàng dài theo thứ tự bề dày lịch sử của mỗi trường và,
do các trợ giảng dẫn đầu, họ bước vào tòa nhà Senate House gần các trường luật.
Là giám thị, Billy Thatcher đích thân dẫn tôi và những người khác tiến về phía
trước – Fitzwilliam, vốn không thuộc trường đại học, nên ở cuối hàng. Sau đó
chúng tôi chụp hình với các vị hiệu trưởng và những sinh viên khác trên bãi cỏ
bên ngoài Senate House. Vài giảng viên luật, những người với tư cách là giám
sát viên ở Trinity Hall đã dạy tôi và Choo, cũng có mặt ở đó để chung vui với
chúng tôi, kể cả Trevor Thomas, Pung How đã ghi lại giây phút đó bằng máy ảnh
của mình.
Rồi
chúng tôi dời sang nhà của Trevor Thomas trong Trinity Hall uống sâm–panh để kỷ
niệm dịp đó. Một giảng viên khác, Tiến sĩ T. Ellis Lewis, được gọi thân mật là
TEL, người đã dạy cả hai chúng tôi, cùng tham dự. Ông ta là người xứ Wales, với
khuôn mặt khôi hài dễ mến, đầu hói chỉ còn lưa thưa mấy sợi trắng, ở hai bên và
cặp kính không gọng. Ông nói với Choo và tôi: “Nếu nó là một thằng nhóc, hãy
gởi nó cho chúng tôi ở Trinity Hall”. Khi Loong, con đầu của chúng tôi, ra đời
năm 1952, tôi đã viết thư cho viên trợ giảng để giữ trước một chỗ cho nó. Nhưng
19 năm sau, Loong quyết định vào Cambridge thay vì Trinity College, mà Isaac
Newton đã xác định như một ngôi trường hàng đầu về toán học. Những trợ giảng
giỏi ở Trinity đã giúp nó trở thành sinh viên đỗ cao nhất trong môn toán chỉ
trong vòng hai năm thay vì ba năm như thường lệ.
Hình
chụp về buổi lễ tốt nghiệp ấy mà tôi trân trọng gìn giữ nhất
là bức hình chụp Billy Thatcher đứng giữa tôi và Choo. Tôi đã
không làm ông ấy thất vọng, và “cô bạn” của tôi cũng vậy. Thatcher đã để lại
một ấn tượng sâu đậm nơi tôi. Ông là một người hiểu biết, ân cần, luôn dành
nhiều thời gian cho các sinh viên của mình. Một ngày nọ, khi tôi đang dùng trà
với ông trong phòng, ông chỉ những công nhân cầu đường đang đào xới trên đường
Trumpington, và nói rằng trong ba giờ làm việc lúc nãy họ đã nghỉ hai lần để
uống trà. Trước và trong chiến tranh thì họ khác. Bây giờ họ không thích làm
việc hết mình, và như thế đất nước sẽ không tiến lên được. Tôi nghĩ ông là một
ông già phản động, nhưng ông dạy môn kinh tế mà, và nhiều năm sau tôi kết luận
rằng ông biết điều gì tạo ra sự phát triển. Vào dịp khác, ông nói với tôi: “Anh
là người Hoa. Người Hoa các anh có một nền văn minh lâu đời từ vài nghìn năm để
nâng đỡ các anh. Đó là một lợi thế lớn.” Ngay trước khi chúng tôi rời Cambridge
vào tháng 6/1949, ông mời tôi và Choo dùng cà phê buổi sáng lần cuối cùng. Ông
vỗ nhẹ tay Choo, nhìn tôi và nói: “Anh ấy quá thiếu kiên nhẫn. Đừng để anh ấy
lâm vào cảnh gấp gáp như thế.” Ông đã
hiểu tâm tính tôi khá rõ, nhưng ông cũng biết là tôi có một mục đích nghiêm túc
trong cuộc sống và kiên quyết đạt cho bằng được nó.
Nhận
được bằng tốt nghiệp, chúng tôi thực hiện một kỳ nghỉ 10 ngày, lần này chúng
tôi du lịch khắp nước Anh và Scotland trên một toa xe lửa. Nhưng chúng tôi chưa
hoàn tất việc nghiên cứu ngành luật của mình. Để hành nghề ở Singapore, chỉ một
bằng cấp ở đại học Cambridge không thôi là chưa đủ. Chúng tôi phải làm mọi cách
để đủ tiêu chuẩn là một cố vấn pháp luật hay một luật sư ở Anh. Vì vậy chúng
tôi gia nhập vào Middle Temple, là một trong bốn Cơ sở Pháp đình (Inn of Court)
có đặc quyền dạy và sát hạch sinh viên trước khi thu nhận vào Luật sư đoàn. Khi
chúng tôi du lịch về, chúng tôi thử sống ở London và thuê ngay một căn phòng
không xa chỗ trọ cũ của tôi trên đại lộ Fitzjohn. Nhưng về phần Choo, việc nội
trợ và việc học khó có thể dung hòa nhau, nên chúng tôi quyết định bỏ những bài
giảng ở Inn of Court và lưu lại ở Tintagel tại Cornwall để tự nghiên cứu và
chuẩn bị cho kỳ thi ra nghề luật sư.
Chúng
tôi đã có vài kỳ nghỉ tại đó, trong một trang trại xưa do bà Mellor cai quản
với sự giúp đỡ của ba người con trai. Bà ta cho chúng tôi ăn ngon, và là một
người biết điều và tử tế. Chúng tôi chiếm toàn bộ căn nhà trừ mùa hè khi có
thêm vài người khách. Chúng tôi đi dạo thật lâu dọc theo những con đường làng
và được hưởng những cơn gió Tây Nam ấm áp và ẩm ướt. Việc tiêu khiển duy nhất
của chúng tôi là nghe đài BBC bằng chiếc radio Pye tôi mua ở Cambridge. Nó cho
chúng tôi nhiều giờ thư giãn và vui vẻ. Để tập thể dục và giải trí, tôi bắt đầu
chơi gôn, phần lớn thời gian là chơi một mình, trên một cái sân chín
lỗ tại Khách sạn King Arthur’s Castle lúc nào cũng vắng trừ mùa nghỉ
lễ. Sân có nhiều gò đồi và lộng gió, và sôi động vì một kẻ ngớ ngẩn như tôi. Nó
giúp tôi giữ sức khoẻ. Choo và tôi tốn nhiều thời gian để tìm mấy trái banh gôn
bị lạc của tôi, thường thì tìm được những trái khác tốt hơn nhiều. Choo cũng
thường đi hái nấm hoang, và bà Mellor sẽ nấu cho chúng tôi. Chúng thật ngon.
Chán
nhất là những bữa ăn mà chúng tôi buộc phải ăn ở Middle Temple. Để được trở
thành luật sư, chúng tôi phải “ăn bữa ăn của mình” trong ký túc xá ba lần trong
một học kỳ, như một bắt buộc đối với mọi sinh viên. Điều đó có nghĩa là một
cuộc hành trình bằng xe lửa dài bảy giờ đến nhà ga Paddington. Nhưng đó là một
cơ hội để gặp những người bạn Malaysia và Singapore ở Malaysia Hall tại quảng
trường Bryanston. Chúng tôi say sưa nói về cách thức mà những sinh viên ở
London đến từ tất cả các vùng thuộc địa đang thực hành, về cuộc đấu tranh giành
tự do sắp đến của chúng tôi.
Vài
người bạn tôi từ Đại học Raffles rất năng động về chính trị. Trong số đó có Goh
Keng Swee, trợ giảng trước đây của tôi về môn kinh tế, người đang lấy bằng đầu
tiên BSc tại LSE, và Toh Chin Chye, người đang học lấy bằng BSc ngành sinh lý
học ở London University. Họ và vài người nữa lập thành một nhóm gọi là tổ chức Malaysian
Forum (Diễn đàn Malaysia), mục tiêu của nó là gây ý thức chính trị và đấu tranh
cho nền độc lập của Malaysia, bao gồm cả Singapore. Những thành viên của nó
thuộc mọi chủng tộc – Malay, Trung Quốc, Ấn Độ, những người Á lai Âu – và nó
trung lập, không theo cánh tả mà cũng không ngả về cánh hữu. Nó chống chủ nghĩa
thực dân, nhưng theo đường lối bất bạo động để tách bạch với Đảng Cộng sản Malaysia
(MCP), đảng đã phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại người Anh ở Malaysia
vào tháng 6/1948. Các thành viên của nó tổ chức những cuộc họp, đôi khi có sự
tham gia của các chính khách Anh – những viên chức cấp thấp trong chính phủ của
đảng Lao động như Woodrow Wyatt hoặc các dân biểu thuộc đảng Tự do và Bảo thủ –
như những diễn giả được mời. Ấn Độ và Pakistan đã giành được độc lập hồi tháng
8/1947, Miến Điện và Sri Lanka năm 1948. Con đập của chủ nghĩa đế quốc đã bị
chọc thủng, đế quốc Anh đang rút lui, và hầu hết chúng tôi đều tin chắc rằng
chúng tôi, rồi cũng sẽ giành được độc lập cho mình. Chúng tôi có cảm giác rằng
dân tộc Anh và những người lãnh đạo của họ đã mất đi ý chí muốn đè nén những
người dân thuộc địa của họ.
Sau
khi nói chuyện chán chê, chúng tôi kéo đi khắp các quán rượu từ Malaysia Hall
đến Marble Arch và dọc theo đường Edgware. Bia là thứ “rượu bia đắng” của Anh,
nặng và dở tệ. Thậm chí nhiều năm sau tôi cũng không bao giờ ưa được nó. Nhưng
lúc đó bọn sinh viên túng thiếu chúng tôi không thể có đủ khả năng để uống thứ
khác, loại bia nhẹ thì quá đắt, whisky thì giá trên trời.
Ngập trong bia, chúng tôi nói về những việc lớn lao mình sẽ làm khi về nước.
Sau này, tôi khám phá rằng rất ít người vẫn còn theo đuổi cuộc đấu tranh. Nhiều
bà vợ phản đối việc ông chồng họ liều sự nghiệp của mình vào việc chống đối
chính quyền thuộc địa Anh, và bản thân nhiều người, khi đói mặt với thực tế
lạnh lùng và những sự lựa chọn gian khó, đã mất hết nhuệ khí chiến đấu. Trong
khi vẫn còn những người khác dấn thân vào cuộc chiến. Ở một thái cực là những
kẻ xu thời chính trị, những kẻ trí thức hưởng nền giáo dục Anh.
Ở thái cực kia là những người cộng sản và mặt trận liên hiệp của họ được
tổ chức tốt và hiển nhiên nhận được sự ủng hộ từ mọi lực lượng then chốt của xã
hội, từ trường học đến các nghiệp đoàn báo chí và Phòng Thương mại của người
Hoa.