Con tầu trắng - Chương 22

- Đứng im! Giơ tay lên! – Từ ngưỡng cửa, Kulubêc ra lệnh, giọng hăm doạ, tay chĩa tiểu liên.

Tất cả đều bàng hoàng. Họ ngây ra vì sợ, ai ngồi đâu nguyên đấy. Những miếng thịt mắc trong cổ họng họ. Tay nhờn mỡ cầm những khúc xương đang gặm, má và miệng nhờn mỡ, thịt no rượu say, họ thậm chí không động cựa được nữa.

- Này, đứng lên, tên súc sinh! – Kulubêc gí tiểu liên vào thái dương Ôrôzơkun. Còn y run như cầy sấy, sụp xuống chân Kulubêc, nói lắp bắp.

- Xi-xi-in rủ lòng-lòng thư-ương, xin đừng-đừng gi-giết t-tôi!

Nhưng Kulubêc một mực không khoan nhượng.

- Đi ra, đồ súc sinh! Mày đến ngày tận số rồi! – Anh đá một cú trời giáng vào cái mông béo mỡ của Ôrôzơkun, buộc y phải đứng dậy, ra khỏi nhà.

Tất cả những người có mặt đều hoảng sợ và im thin thít, theo ra sân.

- Đứng sát vào tường! – Kulubêc ra lệnh cho Ôrôzơkun. – Vì mày đã giết Mẹ Hươu Sừng, vì mày đã chặt cổ sừng mẹ dùng để mang chiếc nôi, mày phải chết.

Ôrôzơkun ngã nhào xuống đất bụi. Y bắt đầu bò lê, rú lên, rên rỉ:

Xin đừng giết tôi, tôi chẳng có con cái gì cả. Tôi chỉ có một một mình trên đời. Tôi chẳng có con trai, cũng chẳng có con gái…

Thói kiêu ngạo, vênh váo của y biến đâu mất rồi! Một tên hèn nhát thảm hại, mạt hạng. Thứ người như thế thậm chí người ta không bõ giết…

- Thôi được, ta chẳng thèm giết hắn làm gì, - Thằng bé nói với Kulubêc. – Nhưng phải đuổi hắn cút xéo khỏi nơi đây và bảo hắn không bao giờ được quay trở lại nữa. Ở đây không cần đến hắn. Đuổi hắn đi.

Ôrôzơkun đứng lên, xốc lại quần, và không dám ngoái nhìn lại, lật đật chạy đi, thân hình béo ị, phục phịch, chiếc quần galifê xệ xuống. Nhưng Kulubêc chặn y lại:

- Đứng lại! Chúng ta nói với ngươi một lời cuối cùng. Ngươi sẽ không bao giờ có con. Ngươi là kẻ độc ác và vô dụng. Ở đây chẳng ai ưa ngươi. Rừng không ưa ngươi, không một cái cây nào, thậm chí không một ngọn cỏ nào ưa ngươi. Ngươi là tên phát xít. Cút đi và không bao giờ được vác mặt về đây nữa. Xéo nhanh chân lên!

Ôrôzơkun chạy thẳng một mạch, không hề ngoái cổ lại.

- Snen! Snen! – Kulubêc cười ha hả tống tiễn y đi và để doạ y, anh bắn chỉ thiên một tràng tiểu liên.

Thằng bé vui sướng và hoan hỉ. Khi Ôrôzơkun mất dạng, Kulubêc nói với tất cả những người khác đang đứng ở cửa, xem ra họ có vẻ bối rối:

- Sao các ông các bà lại chung sống với một kẻ như thế? Các ông các bà không thấy hổ thẹn sao?

Thằng bé cảm thấy nhẹ nhõm. Thế là đã thực hiện được một việc xét xử công bằng. Và nó tin vào mơ ước cảu mình đến nỗi nó quên bẵng nó đang ở đâu, nhân dịp gì mà người ta đánh chén trong nhà Ôrôzơkun.

… Tiếng cười rộ lên lôi nó trở lại từ trạng thái khoan khoái ấy. Thằng bé mở mắt, lắng nghe. Ông Mômun không còn ở trong phòng. Ông ra ngoài, chắc là đi đâu có việc gì đó. Đàn bà thu dọn bát đĩa. Người ta chuẩn bị bưng trà lên. Xâyđăcmat đang lớn tiếng kể chuyện gì không rõ. Những người ngồi đấy cười, nghe anh ta kể.

- Rồi sao nữa?

- Kể đi!

- Này, nghe đây, cậu kể đi, kể lại lần nữa đi, - Ôrôzơkun cười lăn lộn, yêu cầu. – Lão nói về việc ấy như thế nào? Cậu doạ lão ra sao. Ôi, tôi không sao nhịn được cười!

- Thế này nhé. – Xâyđăcmat vui lòng kể lại câu chuyện lần nữa. – Chúng tôi vừa mới cho ngựa đến gần những con hươu Maran, còn chúng đứng ở rìa rừng, ba con cả thảy. Chúng tôi vừa buộc ngựa vào cây xong thì ông già chộp lấy tay tôi. Ông cụ nói: “Chúng ta không thể bắn hươu Maran được.

Chúng ta là người Bugu, con cháu của Mẹ Hươu Sừng mà!” Ông cụ nhìn tôi, nom cụ cứ như đứa trẻ thơ. Mắt cụ van vỉ. Còn tôi, thật buồn cười đến chết được, chỉ muốn cười lăn ra. Nhưng tôi không cười. Trái lại, tôi làm bộ nghiêm trang, nói: “Sao thế, bố? Bố muốn vào tu chắc?” – “Không.” – ông cụ nói. “Bố nên biết rằng những chuyện hoang đường ấy người ta bịa ra từ thời tăm tối dưới quyền thống trị của các bai, chỉ cốt để doạ dân nghèo đấy thôi!” Thế là ông cụ há hốc mồm ra: “Anh nói gì lạ thế?” Tôi đáp: “Chính thế đấy, bố vứt quách câu chuyện đó đi, không thì con sẽ không nể bố già cả nữa đâu, con sẽ viết đơn tố cáo bố với cơ quan có trách nhiệm”.

- Ha-ha-ha! – Những người ngồi đây nhất loạt phá lên cười.

Ôrôzơkun cười nhiều hơn ai hết. Y cười hô hố, khoái chí ra mặt.

- Thế rồi chúng tôi lên đến gần. Loài thú khác thì đã nhảy biến đi từ lâu, không còn tăm tích đâu nữa, còn những con hươu Maran dỡ khôn dở dại này chẳng chạy gì cả, dường như chúng không sợ chúng tôi. Ờ được, càng tốt, - Xâyđăcmat say rượu kể chuyện, ra chiều khoe khoang. – Tôi cầm súng đi trước. Ông già đi sau. Tôi bỗng cảm thấy nghi ngại. Cả đời tôi chưa hề bắn lấy một con chim sẻ. Mà đây là việc quan trọng. Tôi mà bắn trượt thì chúng sẽ rông tuốt vào rừng, có mà tìm khướt. Có giỏi thì cứ đuổi theo chúng. Chúng sẽ vượt đèo sang bên kia cho mà xem. Làm thế ích gì cho ai, mồi săn như thế mà bỏ lỡ hay sao? Ông già của chúng ta là người đi săn, hồi xưa ông đã từng hạ một con gấu. Tôi bèn bảo ông cụ: “Cụ ơi, súng đây, cụ bắn đi!” Ông cụ nhất định không chịu! Ông cụ bảo: “Anh bắn đi”. Tôi bảo ông cụ: “Nhưng con đang say rượu mà”. Tôi lảo đảo, tuồng như đứng không vững. Thì chính ông cụ đã thấy lúc kéo được cây gỗ dưới sông lên, tôi cùng với các bác đánh ngã một chai rượu mà. Vì thế tôi mới giả vờ say.

- Ha-ha-ha!...

- Tôi nói: “Con bắn thì thế nào cũng trượt, hươu Maran sẽ chạy mất, nó không trở lại lần thứ hai nữa đâu. Mà ông con ta không nên trở về tay không. Chính ông biết đấy. Về tay không thì coi chừng. Chúng ta được phái đến đấy để làm gì?”. Ông cụ lặng thinh, nhưng không cầm lấy súng. Tôi nói: “Thôi tuỳ ông”. Tôi bỏ súng xuống và làm như định bỏ đi. Ông cụ theo tôi. Tôi nói: “Con thì con chẳng cần, Ôrôzơkun có đuổi con thì con xin vào làm ở nông trường quốc doanh. Còn ông, ông đi đâu lúc tuổi già này?”. Ông cụ lặng thinh. Thế là, để cho mùi mẫn hơn nữa, tôi khe khẽ hát:

Từ dãy núi màu hung, màu hung.

Tôi cưỡi con ngựa sắc hung đi tới Ôi hỡi thương gia áo hung, mở cửa ra!..

- Ha-ha-ha!...

- Ông cụ tin là tôi say thực. Ông cụ đi lấy súng. Tôi cũng quay lại. Trong lúc chúng tôi cãi cọ, hươu Maran đã ra xa hơn một chút. Tôi nói: “Này, ông cẩn thận đấy, kẻo chúng bỏ đi thì đuổi không kịp đâu. Bắn đi, nhân lúc chúng còn chưa hoảng sợ”. Ông già cầm lấy súng. Chúng tôi bắt đầu lên đến gần. Còn ông cụ vẫn lẩm nhẩm như người dở dại: “Tha thứ cho con, hỡi Mẹ Hươu Sừng, xin Mẹ tha thứ cho con…” Còn tôi nhắc lại với ông cụ:

“Cẩn thận đấy nhé, ông mà bắn trượt thì ông cứ chạy theo hươu Maran đi đâu thì đi, tốt hơn hết là đừng trở về nữa”.

- Ha-ha-ha!

Trong không khí chuyếnh choáng giữa những người say rượu đang cười hô hố, thằng bé càng cảm thấy nóng bức và ngột ngạt hơn, cơn đau nở phình ra, không chứa vừa trong đầu làm cho đầu muốn vỡ toác ra. Nó có cảm giác như có kẻ nào dùng chân đá vào đầu nó, có kẻ nào dùng rìu bổ vào đầu nó.

Nó có cảm giác như có kẻ nào vung rìu chực bổ vào mắt nó, và nó nguẩy đầu, cố tránh né. Đang mệt lả vì nóng, nó bỗng thấy mình ở trong dòng sông lạnh giá. Nó đã biến thành cá. Đuôi, thân, vây, tất cả đều là cá, chỉ có đầu vẫn là đầu nó, mà lại đau nhức. Nó bơi trong khoảng mát lạnh dìu dịu tăm tối ngầm dưới nước và nghĩ rằng bây giờ nó sẽ mãi mãi là cá và không bao giờ trở lại núi nữa. “Ta sẽ không trở về, - Nó tự nói với mình. – Làm cá còn hơn, làm cá còn hơn…”

Không ai nhận thấy thằng bé từ trên giường tụt xuống và ra khỏi nhà.

Nó vừa kịp rẽ vào góc nhà là ói mửa liền. Thằng bé vịn vào tường, rên rỉ, khóc qua làn nước mắt, nó nức nở nghẹn ngào, lẩm bẩm:

- Không, thà làm cá còn hơn. Ta sẽ bơi đi nơi khác. Thà ta làm cá còn hơn.

Còn trong nhà Ôrôzơkun, phía trong cửa sổ, người ta cười hô hố và gào thét bằng giọng say rượu. Tiếng cười man rợ ấy làm thằng bé ù tai, khiến nó đau đớn và khổ sở không thể chịu nổi. Nó tưởng chừng như nó buồn nôn vì nghe thấy tiếng cười hô hố quái đản ấy. Lát sau trấn tĩnh lại, nó đi qua sân.

Sân vắng tanh. Cạnh cái bếp đã tắt, thằng bé bất chợt thấy ông Mômun say như chết. Ông già nằm đây, trong bụi đất, cạnh cỗ sừng đã bị chặt của Mẹ Hươu. Con chó đang gặm một ảnh đầu hươu. Ngoài ra không có ai.

Thằng bé cúi xuống gần ông, lay vai ông.

- Ata, ông cháu ta về nhà đi, - Nó nói. – Về đi.

Ông già không đáp, ông không nghe thấy gì, ông không thể ngẩng đầu lên được. Vả lại, bây giờ ông biết trả lời thế nào, biết nói gì?

- Dậy đi, ata, ông cháu ta về nhà đi, - Thằng bé nài nỉ.

Nào ai biết, với đầu óc trẻ thơ của nó, nó có hiểu được chăng, hay không hề ngờ rằng ông nó nằm đây để đền nợ về câu chuyện hoang đường của mình về Mẹ Hươu Sừng, rằng do bị cưỡng ép, ông đã giết chết những gì mà chính ông đã gieo vào tâm hồn thằng bé khiến nó suốt đời không quên – ông đã xúc phạm đến lòng tôn kính tổ tiên, đến lương tâm và những lời dạy bảo của chính ông, nó có biết chăng rằng ông làm việc đó là vì người con gái khốn khổ của ông, là vì nó, đứa cháu trai của ông…

Và bây giờ, ngã gục vì đau xót và nhục nhã, ông già nằm như người bị giết, mặt úp sấp, không đáp lời thằng bé.

Thằng bé ngồi xuống cạnh ông, thử lay ông.

- Ata, ông cất đầu lên đi, - thằng bé nài. Nó nom tái mét, cử động yếu ớt, tay và môi run run. – Ata, cháu đây mà. Ông có nghe thấy không?. – Nó nói. – Cháu khó chịu trong người lắm. – Nó oà khóc. – Cháu nhức đầu, nhức nhối lắm.

Ông già rên lên, động đậy, nhưng không thể tỉnh lại.

- Ata, thế chú Kulubêc sẽ đến chứ? – Thằng bé bỗng hỏi qua hàng nước mắt. – Ông nói đi, chú Kulubêc sẽ tới chứ? – Nó sờ mó khắp người ông.

Nó làm cho ông phải trở mình nằm nghiêng và nó giật nảy người khi khuôn mặt ông già say rượu quay về phía nó, khuôn mặt bết bùn và bụi đất, với chòm râu thảm hại rối bù, và lúc ấy thằng bé tưởng như thấy cái đầu hươu Maran trắng vừa nãy bị Ôrôzơkun vằm nát bằng rìu. Thằng bé sợ hãi lùi lại, dời khỏi ông và thốt lên:

- Cháu sẽ thành cá. Ông nghe thấy không, ata, cháu sẽ bơi đi. Khi nào chú Kulubêc tới, ông bảo chú ấy rằng cháu đã thành cá, ông nhé.

Ông già không trả lời gì cả.

Thằng bé lần bước đi tiếp. Nó ra sông. Và bước thẳng xuống nước…

Chưa ai biết thằng bé đã thành cá bơi đi trong dòng sông. Ở sân vang lên tiếng hát của người say:

Từ dãy núi gù, núi gù Ta cưỡi con lạc đà có bướu đi tới.

Ơi hỡi thương nhân gù, mở cửa ra, Chúng ta sẽ uống rượu vang đắng!...

Em đã bơi đi. Em không chờ được Kulubêc. Đáng tiếc là em không chờ được Kulubêc. Tại sao em không chạy lên đường cái. Giá như em chạy một lúc lâu trên đường cái thì thế nào em cũng gặp chú ấy. Em sẽ nhận ra ô-tô của chú ấy từ xa. Chỉ cần em giơ một tay lên là chú ấy sẽ dừng lại ngay.

- Cháu đi đâu đấy? – Kulubêc sẽ hỏi.

- Cháu đến tìm chú! – Em sẽ đáp.

Chú ấy sẽ đỡ em lên buồng lái. Rồi hai chú cháu sẽ ngồi xe cùng đi. Em và Kulubêc. Còn phía trước, Mẹ Hươu Sừng phóng bước tên đường cái mà không ai nhìn thấy. Nhưng em nhìn thấy.

Vậy mà em đã bơi đi. Liệu em có biết rằng không bao giờ em có thể biến thành cá hay không. Em sẽ không thể bơi tới Ixxưc-kun, không thấy được con tầu trắng, và không thể nói với nó: “Chào ngươi, con tàu trắng, tao đây mà!”.

Giờ đây tôi chỉ có thể nói một điều: Em đã gạt bỏ cái mà tâm hồn trẻ thơ của em không chịu chấp nhận. Đấy là niềm an ủi của tôi. Em đã sống như một tia chớp, loé lên một lần rồi tắt lịm. Nhưng những tia chớp do bầu trời làm toé ra. Mà bầu trời thì vĩnh cửu. Đó cũng là niềm an ủi của tôi.

Còn một niềm an ủi nữa: tâm hồn trẻ thơ trong con người như cái mầm trong hạt, không có mầm thì hạt không bao giờ mọc lên được. Và bất kể những gì đang chờ đợi chúng ta ở trên đời, sự thật vẫn đời đời bất diệt, chừng nào con người còn sinh ra và mất đi…

Để vĩnh biệt em, tôi xin nhắc lại những lời của em, hỡi chú bé: “Chào ngươi, con tàu thuỷ trắng, ta đây mà!”.

Hết

Báo cáo nội dung xấu