Chiếc áo lặn và con bướm - Chương 4

Rèm cửa

Ngồi rúm ró trong chiếc xe lăn
Sylvie do mẹ hai đứa con tôi đẩy dọc hành lang, tôi lén quan sát chúng.
Trong khi tôi thành một thứ gần giống âm binh như thế này thì Théophile
và Céleste vẫn rất hiếu động, nghịch ngợm và ngang bướng. Tôi ngắm hai
đứa đi lại, chỉ đơn giản là bước đi cạnh tôi với vẻ tự tin che giấu nỗi
buồn đang đè nặng trên đôi vai bé nhỏ của chúng. Théophile vừa đi vừa
dùng khăn giấy lau từng sợi nước bọt chảy xuống từ đôi môi khép chặt của
tôi. Cử chỉ vụng trộm, nửa dịu dàng nửa lo sợ như đứng trước một con
thú không biết trước nó sẽ phản ứng như thế nào. Ngay khi chúng tôi đi
chậm lại, Céleste ôm siết lấy đầu tôi bằng hai cánh tay trần của con bé,
phủ lên trán tôi những nụ hôn kêu và lặp đi lặp lại: “Đây là bố mình,
đây là bố mình!” bằng giọng như đang niệm chú. Chúng tôi đang kỉ niệm
ngày lễ các ông bố. Trước khi tôi bị tai biến, chưa bao giờ chúng tôi
thấy cần ghi cái cuộc hẹn bắt buộc này vào lịch trình cảm xúc cả, nhưng
giờ đây, cả nhà lại ở cùng nhau suốt ngày lễ này để chứng nhận, rõ ràng,
rằng một bản phác, một cái bóng, một mẩu của ông bố vẫn là bố. Tôi bị
chia làm hai, một bên là niềm vui được thấy chúng sống, cử động, cười
hoặc khóc trong vài giờ với bên kia là nỗi sợ hãi rằng cảnh tượng buồn
phiền này, bắt đầu bằng chuyện của tôi, không phải điều kiện lý tưởng
cho một thằng bé 10 tuổi và con bé em tám tuổi của nó vui đùa, ngay cả
khi cả gia đình đã đi đến một quyết định khôn ngoan là không cố gắng xoa
dịu hoàn cảnh.

Chúng tôi tới Beach Club. Đó là tên tôi gọi một
cồn cát nhỏ mở đón nắng và gió, nơi chính quyền đã có lòng tốt bố trí
bàn ghế và ô, thậm chí cả gieo vài bông hoa khuy vàng mọc trong cát giữa
đám cỏ dại nữa. Trên chiếc du thuyền đậu bên sát mép bờ, có thể mơ tới
một bà tiên đến biến tất cả xe lăn thành xe trượt cát có buồm. “Bố chơi
đố chữ treo cổ không?” Théophile hỏi và tôi sẽ sẵn lòng trả lời nó rằng
toàn thân bất toại như thế này thôi đã đủ rồi, nếu cái hệ thống giao
tiếp của tôi cho phép những câu đối đáp cay chua như thế. Nét sắc sảo
tinh tế nhất cùn mòn đi và xẹp lép đi nếu cần tới vài phút để sửa sang
nó. Mới đầu, người ta sẽ không hiểu tại sao lại phải khó nhọc đọc chính
tả từng chữ cái một. Nguyên tắc ở đây là tránh mọi thứ dí dỏm không đúng
chỗ. Nó làm mất đi tính sắc sảo linh hoạt của cuộc nói chuyện, những từ
hay ho người ta ném đi ném lại như quả bóng đập vào tường rồi nảy lại.
Tôi coi sự thiếu hài hước bắt buộc này là một trong số những bất tiện mà
tình trạng này của tôi mang lại.

Cuối cùng, quay lại với trò đố
chữ treo cổ, môn thể thao quốc gia của học sinh lớp năm. Tôi tìm được
một từ, một từ nữa và dừng lại ở từ thứ ba. Thực ra tôi chẳng có đầu óc
nào để chơi cả. Một nỗi buồn xâm chiếm tâm trí tôi. Théophile, con trai
tôi, đang ngoan ngoãn ngồi kia, mặt nó chỉ cách mặt tôi chừng 50
centimét, tôi, cha nó, thậm chí không có cái quyền đơn giản nhất là luồn
tay vào mái tóc dày, nhéo chiếc cằm còn lông tơ, ôm siết lấy thân thể
nhỏ bé, trơn nhẵn và ấm áp của nó. Nói thế nào đây? Có quái gở, kỳ dị,
ghê tởm hay đáng sợ không? Đột nhiên, tôi không kiềm chế nổi nữa. Nước
mắt chảy dồn xuống và họng thắt lại phát ra một tiếng khàn khàn khiến
Théophile giật mình. Đừng sợ, con trai, bố yêu con. Thằng bé vẫn cắm cúi
với trò đố chữ và hoàn thành phần của mình. Thêm hai chữ cái, nó thắng
và tôi thua. Trên một góc trang giấy, nó đã vẽ xong giá treo, dây và kẻ
bị tử hình.

Còn con bé Céleste lại đang nhào lộn trên đụn cát. Tôi
không biết liệu có nên nhìn nhận hiện tượng bù trừ ở đây không nhưng từ
khi với tôi, nhấc một mí mắt lên cũng tương tự như chơi cử tạ thì con
bé lại trở thành một diễn viên nhào lộn thật sự. Nó trèo tường, trèo
cây, đi qua cầu trũng, lộn vòng và nhảy liên tiếp những cú nguy hiểm với
sự khéo léo của một con mèo. Con bé thậm chí đã thêm làm xiếc trên dây
vào danh sách dài dằng dặc những nghề nghiệp mà nó dự định làm trong
tương lai. Bằng những cú xoay minh của mình, mầm non nghệ sĩ tương lai
của chúng tôi đã chinh phục toàn bộ khán giả ở Beach Club và bắt đầu đi
một vòng ca hát trước nỗi thất vọng lớn lao của Théophile, người đặc
biệt ghét tất cả những gì người ta có thể làm để bị hay được chú ý. Em
nó càng cởi mở bao nhiêu thì thằng bé nhút nhát và khép kín bấy nhiêu.
Nó ghét cay ghét đắng cái ngày tôi yêu cầu để được kéo chuông ngày khai
giảng ở trường học của nó. Không thể nói trước Théophile sau này có sống
hạnh phúc hay không, nhưng chắc chắn nó sẽ sống khép kín.

Tôi tự
hỏi làm cách nào mà con bé Céleste có thể làm được cả một danh mục những
bài hát từ những năm sáu mươi như thế. Johnny, Sylvie, Sheila,
Clo-Clo(32), Francoise Hardy, không ngôi sao của thế hệ vàng nào bị bỏ
quên. Ngoài những bài rất thành công và nổi tiếng và những khuôn sáo lúc
nào cũng được ưa thích như chuyến tàu của Richard Antony suốt 30 năm
nay chưa lúc nào ngừng được huýt sáo bên tai chúng tôi, Céleste còn hát
những bài một thời nổi tiếng nhưng đã bị lãng quên, giờ trở lại mang
theo những đám mây kỷ niệm. Kể từ thời tôi nghe đi nghe lại không chán
đĩa nhạc 45 vòng của Claude Francois trên máy nghe đĩa từ hồi tôi 12
tuổi đến giờ, tôi chưa bao giờ phải nghe lại “Cô bé nhà giàu tội
nghiệp”. Thế nhưng, khi Céleste lầm rầm hát, khá lạc điệu, những nhịp
đầu tiên của bài hát nhàm tai đó trở lại trong đầu tôi, chính xác khó
tưởng tượng đến từng nốt nhạc, từng đoạn đổi nhịp, từng chi tiết hợp ca
hay phối khí, cho đến tiếng sóng vỗ dồn ở đoạn mở đầu. Tôi thấy lại
chiếc vionlin nhỏ, bức ảnh của ca sĩ cùng chiếc áo sơ mi kẻ sọc, vật
trước đây dường như là mơ ước không thể đạt được của tôi vì mẹ tôi cho
rằng kiểu áo đó thật tầm thường. Tôi thậm chí còn thấy hiện ra trước mắt
buổi chiều thứ năm khi tôi mua đĩa hát đó từ bác họ tôi, một người bác
có thân hình cao lớn nhưng rất dịu dàng, có cửa hàng nhỏ xíu trong tầng
ngầm ở ga Bắc, với điếu thuốc ngô không lúc nào rời nổi khoé miệng. “Cô
đơn biết bao trên bờ biển, cô bé nhà giàu tội nghiệp…”(33) Thời gian
trôi và mọi người đều biến mất. Mẹ mất đầu tiên, sau đó Clo-clo bị điện
giật chết và anh họ dễ thương, khi công việc kinh doanh có dấu hiệu phá
sản, đã tự tử, để lại khổ đau cho đám con cái và động vật anh nuôi. Tủ
của tôi đầy những đĩa hát có hình áo sơ mi cài cúc cổ. Tôi nhớ cửa hàng
đĩa nhỏ đó đã bị một chủ cửa hàng sôcôla mua lại. Vì tàu tới Berck đi từ
ga Bắc, hôm nào, có thể tôi sẽ nhờ ai đó đi qua xem lại hộ.

32. Tên thân mật của ca sĩ Claude Francis, nam ca sĩ vang bóng một thời của Pháp, mất năm 39 tuổi vi bị điện giật.

33. Lời bài hát “Pauvre Petite Riche” (Cô bé nhà giàu tội nghiệp) do nam ca sĩ Claude Francois thể hiện.

“Hoan
hô Céleste!” Sylvie kêu lên. “Mẹ, con chán lắm rồi”, Théophile càu nhàu
ngay lập tức. Đã năm giờ. Chuông nhà thờ mọi khi có vẻ rất hiền hòa với
tôi giờ mang vẻ như tiếng chuông báo tử, báo đã đến giờ chia tay. Gió
thổi bay tung chút cát. Biển đã lùi xa đến mức những người đang tắm chỉ
còn giống như những chấm nhỏ ở chân trời. Trước khi quay về, lũ trẻ chạy
làm nóng lại chân trên bãi biển, chỉ còn tôi và Sylvie, im lặng, tay
nàng siết chặt lấy những ngón tay trơ ì của tôi. Sau cặp kính đen phản
chiếu màu trời trong sáng, nàng lặng lẽ khóc cho cuộc đời bị vỡ toạc của
mỗi chúng tôi.

Mọi người tập trung lại trong phòng tôi cho những
biểu hiện tình cảm cuối cùng. “Bố ơi, bố có sao không?” Théophile hỏi.
Ông bố là tôi nghẹn họng, bàn tay rám nắng và xương cụt nát vụn vì phải
nằm quá lâu trên xe lăn nhưng đã có một ngày tuyệt vời. Còn các bạn trẻ,
các bạn giữ được gì từ những chuyến du hành vào nỗi cô độc bất tận của
tôi? Mọi người đã ra về. Xe phải đi nhanh về Paris. Tôi say sưa ngắm bức
tranh Céleste mang đến, bức tranh chúng tôi đã ngay lập tức treo lên
tường. Một dạng cá hai đầu với đôi mắt viền lông mi xanh dương và vảy
nhiều màu. Tuy nhiên, bức hình đặc biệt không phải vì những chi tiết ấy
mà vì hình dáng tổng thể của con cá, làm người ta bối rối vì nó giống
biểu tượng về ký hiệu vô cùng trong toán học. Mặt trời chan hòa qua ô
cửa sổ. Đến giờ ánh nắng chói chang rọi ngay xuống đầu giường tôi. Khi
chia tay, tôi quá xúc động mà quên không ra hiệu cho mọi người kéo hộ
tấm rèm. Nhưng phải có một y tá nào đó vào đây trước giờ tận thế chứ.

Paris

Tôi
đang rời xa. Chậm nhưng chắc chắn. Tựa như viên thủy thủ trên chuyến
tàu đi xa nhìn lại bờ biển nơi mình đã có những giờ phút vui tươi biến
mất dần, tôi cảm thấy quá khứ của mình đang dần mờ nhạt. Cuộc đời xưa
vẫn còn cháy trong tôi nhưng nó đang tàn lụi dần thành tro bụi của kỷ
niệm.

Từ khi “định cư” trong tấm áo lặn, tôi vẫn có hai chuyến đi
chóp nhoáng từ bệnh viện ở Berck tới bệnh viện ở Paris để thu nhận ý
kiến của các chuyên gia y tế hàng đầu trên thế giới. Lần đầu tiên, tôi
vô cùng xúc động khi chiếc cứu thương tình cờ đi ngang tòa nhà siêu hiện
đại nơi mới đây tôi vẫn còn làm công việc tội lỗi của một tổng biên tập
một tuần báo phụ nữ nổi tiếng. Ban đầu, tôi nhận ra tòa nhà cổ lỗ sĩ
bên cạnh từ thời những năm 60 sắp bị phá như thông báo trên tấm panô
treo tường, sau đó mới đến mặt ngoài hoàn toàn bằng gương phản chiếu mây
và máy bay bay ngang nơi tòa nhà chúng tôi làm việc. Ở khoảng sân phía
trước có một vài khuôn mặt quen thuộc, những người ngày nào ta cũng đi
ngang qua trong suốt 10 năm mà không thể gọi ra được một cái tên. Tôi
vặn ngược cổ để quay lại nhìn xem liệu còn thấy gương mặt nào quen thuộc
hơn ngang qua sau người phụ nữ búi tóc và một anh chàng vạm vở mặc áo
choàng xám dài không. Nhưng số phận không muốn vậy. Nhưng biết đâu ai đó
lại nhìn thấy cỗ tứ mã của tôi từ văn phòng tầng năm? Ngang qua quán
bar đôi khi vẫn vào ăn món đặc biệt trong ngày, tôi rơi vài giọt nước
mắt. Tôi có thể khóc khá kín đáo. Mỗi lần như vậy họ nghĩ vấn đề là do
mắt tôi thôi.

Bốn tháng sau, lần thứ hai tới Paris, tôi đã gần như
thờ ơ. Trên phố, không khí tháng Bảy tràn ngập, nhưng với tôi, vẫn đang
là mùa đông thôi, cảnh sắc kia chỉ là cảnh phim được chiếu lên kính xe
cứu thương. Trong điện ảnh, người ta gọi thế này là màn ảnh suốt: Ô tô
của nhân vật chính lao trên con đường dẫn thẳng tới bức tường studio.
Phương pháp này tạo nên chất thơ cho các bộ phim của Hitchcock ngay từ
khi nó còn chưa hoàn thiện. Chuyến đi ngang Paris lần này chẳng khiến
tôi nóng hay lạnh. Nhưng cũng không thiếu gì cả. Các bà nội trợ mặc váy
hoa và đám thiếu niên đi giày trượt. Tiếng xe bus chạy ầm ầm. Tiếng càu
nhàu của các nhân viên chạy việc vặt trên xe scooter. Quảng trường Nhà
hát Lớn bước ra từ tranh Dufy. Cây cối lấn vào mặt tiền các khu nhà và
một chút bông trên bầu trời xanh. Không thiếu gì cả, ngoài tôi. Tôi ở
ngoài những thứ đó.

Thực vật

Ngày
mùng Tám tháng Sáu, đã sáu tháng từ khi cuộc sống mới của tôi bắt đầu.
Thư các bạn gửi đến được dồn vào tủ, tranh thì treo trên tường và vi tôi
không thể trả lời từng người một, nên tôi đã nảy ra ý tưởng viết đám
tài liệu mật này để kể lại những ngày của tôi đã trôi qua thế nào, tiến
bộ và hi vọng. Ban đầu, tôi không muốn tin đã có chuyện xảy ra. Trong
trạng thái nửa tỉnh nửa mơ sau hôn mê, tôi nghĩ mình sẽ sớm quay lại với
nhịp sống quay cuồng của Paris dù vẫn sẽ chống hai cái nạng.

Đó
là những dòng đầu tiên trong lá thư đầu tiên gửi từ Berck hồi cuối mùa
xuân khi tôi quyết định viết cho bạn bè và người thân. Lá thư gửi đến 60
người nhận đã gây tiếng vang nhất định và sửa chữa đôi chút tác hại của
tin đồn. Thực tế, thành phố, con quỷ trăm miệng nghìn tai không biết mà
cái gì cũng nói được này đã quyết định kết liễu tôi luôn rồi. Trong
quán Flore, một trong những đại bản doanh của giới học đòi Paris, nơi
phát tán những lời đồn ác ý ra khắp nơi, người thân của tôi đã nghe thấy
những kẻ ba hoa không quen biết hau háu trao đổi với nhau với vẻ tham
lam của đàn kền kền khi phát hiện ra con linh dương bị mổ toang bụng,
“ông biết B. giờ chỉ còn sống thực vật được thôi chưa?”, một kẻ nói -
Tất nhiên, tôi biết mà. Thực vật, ừ, giờ chỉ như thực vật được thôi”. Từ
“thực vật” chắc phải mềm nhũn ra trong miệng của những nhà tiên tri này
vì nó được nhai đi nhai lại giữa hai miếng bánh mì rán phomát. về ngữ
điệu, nó ngụ ý chỉ những người kém tinh tế mới không biết là từ nay về
sau, tôi thuộc ngành buôn bán rau quả hơn là thuộc về xã hội loài người.
Chúng ta đang trong thời bình. Những kẻ phao tin nhảm không bị bắn. Nếu
muốn chứng minh tiềm năng trí tuệ của mình vẫn hơn cây diếp củ, tôi chỉ
có thể trông cậy vào bản thân mà thôi.

Vậy là sinh ra chuyện thư
từ với mọi người mà tôi thực hiện từ tháng này sang tháng khác, cho phép
tôi vẫn hòa họp với những người tôi yêu quý. Tội kiêu ngạo của tôi cũng
mang đến kết quả. Ngoài một số kẻ không khoan nhượng vẫn bướng bỉnh im
lặng, tất cả mọi người đều đã hiểu họ có thể đi qua chiếc áo lặn để gặp
tôi cho dù điều đó đôi khi dẫn tôi tới sát những vùng đất chưa từng khám
phá.

Tôi nhận được những lá thư tuyệt diệu. Người ta mở thư, mở
và đưa chúng ra trước mắt tôi theo một nghi thức cố định theo thời gian,
khiến mỗi lần nhận thư có dáng dấp của một buổi lễ im lặng và thiêng
liêng. Tôi tự đọc cẩn thận từng lá một. Một số khá nghiêm trọng, nói về ý
nghĩa cuộc sống, ưu thế của tâm hồn, về bí ẩn trong mỗi sự tồn tại và
tò mò thế nào, một hiện tượng đảo ngược bề ngoài, những người tôi có
quan hệ xã giao lỏng lẻo nhất lại là người tiến sát nhất đến những câu
hỏi trọng yếu này. Sự hời hợt của họ lại che giấu một tâm hồn sâu sắc.
Trước đây tôi có phải mù hay điếc hay cần phải có ánh sáng từ nỗi bất
hạnh mới rọi sáng được giá trị đích thực của một người?

Các bức
thư khác kể về những điều nhỏ nhặt đánh dấu thời gian. Đó là những đóa
hồng hái lúc hoàng hôn, vẻ uể oải của một Chủ nhật mưa, một đứa trẻ khóc
trước khi thiếp ngủ. Được bắt lấy từ cái hàng ngày, những mẩu nhỏ của
cuộc sống ấy, những miếng hạnh phúc ấy khiến tôi xúc dộng hơn hết thảy.
Ba dòng hay tám trang, từ Levant xa xôi hay từ Levallois-Perret, tôi giữ
tất cả chúng như báu vật. Một ngày nào đó, tôi có thể muốn dán chúng
nối tiếp nhau thành một dải ruy băng dài một kilômét phấp phới bay trong
gió như lá cờ đuôi nheo biểu trưng cho tình bạn.

Lá cờ sẽ tống bọn kền kền(34) ra xa.

34. Tên gọi chung của một nhóm các loài chim ăn thịt và ăn xác chết.

Đi dạo

Trời
nắng như đổ lửa. Nhưng tôi vẫn muốn ra ngoài. Nhiều tuần, có khi nhiều
tháng rồi tôi chưa bước chân ra khỏi bệnh viện để thực hiện nghi thức đi
dạo dọc bờ biển. Lần cuối cùng trời còn là mùa đông. Gió lốc lạnh buốt
thổi cát thành đám bay mù trời, chỉ còn vài kẻ rỗi hơi hiếm hoi quấn
mình trong áo khoác dày liêu xiêu bước ngược chiều gió. Hôm nay tôi muốn
được thấy Berck trong vẻ mùa hè, khi bãi biển mà tôi biết vốn vắng hoe
lại được nói là đông nghẹt và thấy đám đông uể oải của tháng Bảy. Để ra
đến phố, đi từ tòa nhà Sorrel, cần băng ngang ba bãi đỗ xe trải nhựa sần
sùi khiến mông phải trải qua thử thách đến là gian khổ. Tôi quên biến
mất chặng đường chiến đấu với nắp cống, ổ gà và ôtô đậu vỉa hè để được
đi dạo.

Biển đây rồi. Dù, ván trượt có buồm và một dãy người tắm
biển chắn ngang đường hoàn thành bức hình trên tấm bưu thiếp. Thật đúng
là biển mùa du lịch, nhẹ nhàng và hiền dịu. Chẳng có gì giống với khoảng
không vô tận ánh màu thép tôi vẫn thường lặng ngắm từ sân hiên bệnh
viện. Vậy mà vẫn những tiếng ầm ì ấy, vẫn những lớp sóng ấy, vẫn chân
trời mù sương ấy.

Chúng tôi đi dọc bờ biển trong dòng qua lại tấp
nập của kem ốc quế và đùi cháy đỏ. Tôi tưởng tượng cảnh mình khẽ quệt
viên kem vani lên lớp biểu bì đỏ rực vì nắng của một anh chàng trẻ tuổi.
Không ai thực sự chú ý đến tôi. Xe lăn ở Berck nhan nhản chẳng khác gì
Ferrari ở Monte-Carlos. Đâu đâu cũng gặp những kẻ khốn khổ như tôi, trật
xương và hay khạc nhổ vặt. Chiều nay, Claude và Brice đưa tôi đi. Một
người tôi mới quen 15 ngày và một người 25 năm. Cảm giác thật lạ lùng
khi nghe ông bạn già kể về mình cho cô gái trẻ hàng ngày đến cho tôi đọc
chính tả. Tính cách nóng nảy, niềm đam mê sách vở, nỗi ham thích vô độ
đối với đồ ăn ngon hay chiếc xe đỏ bỏ mui được của tôi, tất cả đều có
trong câu chuyện. Giống một người kể chuyện đang khai quật những truyền
thuyết của một thế giới đã bị phá hủy. “Tôi không thấy ông như vậy”
Claude nói. Từ giờ, thế giới của tôi chia đôi giữa những người biết tôi
từ trước và những người khác. Họ sẽ nghĩ trước đây tôi có thể là người
thế nào? Tôi chẳng có lấy một bức ảnh của mình trong phòng để cho họ
xem.

Chúng tôi dừng lại bên trên cầu thang rộng - đường đi lại cho
quán bar bãi biển và một dãy dài buồng thay đồ màu phấn, cầu thang gợi
tôi nhớ đến lối vào rộng rãi của ga tàu điện Porte- d’Auteuil, khi còn
nhỏ tôi đi từ bể bơi về nhà, mắt còn nhòa vì chất clo trong nước. Bể
Molitor đã bị phá cách đây vài năm còn cầu thang giờ đã thành đường cụt.

“Cậu
muốn về chưa?”, Brice hỏi. Tôi cương quyết phản đối bằng cách lắc đầu
theo mọi hướng. Làm gì có chuyện quay lại khi còn chưa đạt được mục đích
thực sự của chuyến du ngoạn này. Chúng tôi đi nhanh ngang qua vòng quay
ngựa gỗ kiểu cổ với tiếng nhạc dội thẳng vào tai tôi. Chúng tôi gặp
Fangio, “của hiếm” của bệnh viện, cậu ta nổi tiếng với biệt danh ấy. Lúc
nào cũng thẳng đơ như công lý, Fangio không ngồi được. Luôn luôn phải
đứng hoặc nằm, cậu ta di chuyển bằng cách nằm sấp trên chiếc xe bốn bánh
cậu ta tự vận hành nhanh một cách đáng kinh ngạc. Cậu ta là anh chàng
to lớn da đen dáng thể thao đang vừa đo đường vừa ầm ĩ: “Chú ý, Fangio
đây!” Cậu ta không nhận ra tôi. Rốt cuộc chúng tôi cũng tới được điểm
cuối của cuộc hành trình, tận đầu kia bãi. Tôi muốn đi đến hết đường
không phải vì muốn khám phá cảnh vật mới lạ mà vì muốn thỏa sức hít thở
thứ mùi bốc ra từ lán trại nhỏ xoàng xĩnh nơi cửa bãi. Họ đặt tôi dưới
ngọn gió và tôi cảm thấy cánh mũi mình run rẩy niềm vui được hít lấy thứ
mùi tầm thường, nhức đầu và cực ki khó chịu với đại đa số mọi người,
“ôi trời! một giọng nói phía sau tôi, mùi như mỡ khét ấy”.

Nhưng tôi hít mãi không chán cái mùi khoai tây rán này.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3