Thế Giới Kỳ Bí Của Ngài Benedict (Tập 1) - Chương 19
Chương 19: Mọi việc đang diễn ra
đúng như chúng nên thế
Trước bữa tối của
ngày hôm sau, Hội Benedict Thần Bí, với hy vọng tìm được chút manh mối nào đó,
đã leo lên ngọn đồi phía sau khu nhà tập để có thể quan sát xung quanh. Ngọn
đồi khá cao, nhưng nếu di chuyển với một vận tốc đủ nhanh - mà Kate thì luôn
luôn đi nhanh kể cả khi đang cõng Constance trên lưng - bạn chỉ mất vài phút
men theo con đường ngoằn ngoèo để lên đến tận đỉnh đồi. Quả thực là Kate đã làm
thế, bỏ mặc hai cậu bạn đang hổn hển cố sức để không bị bỏ lại quá xa. Khi
Reynie và Sticky lên được đến đỉnh đồi thì Kate đã đang quan sát xung quanh với
cái ống nhòm của mình rồi.
Reynie đưa tay quệt
mồ hôi trên trán. “Thấy gì không?”
Kate nhún vai. “Những
bãi cỏ, và đá, những bụi cây và đá, cây dây leo, và đá, cát, và đá. Rất nhiều
đá,” cô bé nói, và hướng ống nhòm xuống thấp hơn một chút. Rồi như chưa bao giờ
thản nhiên đến thế, cô bé thêm, “tớ cũng tìm thấy thêm một cái bẫy nữa.”
“Một cái bẫy?” Sticky
nói, nhìn khắp xung quanh, cứ như là cái bẫy tự nó đang tiến lại gần và sắp túm
lấy cậu bé vậy.
“Đừng lo lắng, nó ở
tận dưới kia kia mà, trong một bãi cỏ nhỏ phía sau Nhà Điều hành. Cậu không thể
nhìn thấy nó từ bất kỳ nơi nào khác đâu, trừ khi hướng cái ống nhòm qua phía
trên mái nhà khu lớp học.” Kate đưa cái ống nhòm cho Sticky, nhưng cậu bé từ
chối. Sticky chẳng dám nhìn thêm bất kỳ một cái bẫy nào nữa. Reynie làm theo,
và từ vị trí này cậu bé chỉ nhìn thấy bóng dáng của thảm hoa kép và những khối
đá cuội kết ở phía sau tòa nhà.
Reynie trả lại chiếc
ống nhòm cho Kate. “Tớ đang phân vân, tại sao cả hai cái bẫy đều ở ngay cạnh
những khối đá nhỉ.”
“Có phải là cậu đang
nghĩ những tảng đá sẽ giúp những cái bẫy khó bị phát hiện hơn không?” Kate nói.
“Dù là ban ngày hay ban đêm, những cây hoa kép kia cũng sẽ luôn luôn nằm trong
bóng tối.”
“Láu cá thật,”
Constance nói.
“Nếu thế thì những
cây hoa kép có vẻ là lựa chọn lý tưởng đấy,” Sticky nói. “Đó là một loài cây ưa
bóng râm.”
“Giấu cái ống nhòm
đi,” Reynie thì thầm. “Chúng ta có bạn đấy.”
Hai Người giúp việc
vừa xuất hiện ở con đường bên dưới, mỗi người vác theo hai cái xô đựng đầy
những dụng cụ làm vườn. Họ đang từ từ tiến lên đỉnh đồi, vừa đi vừa dọn sạch cỏ
dại và các mảnh vụn. Khi bọn trẻ đi đến gần, cả hai im lặng bước vội ra lề
đường để không làm phiền đến chúng.
“Xin chào,” Reynie
nói. Cậu quên mất rằng mình vẫn thường tránh chào hỏi những Người giúp việc.
Reynie đã quá căng thẳng về chiếc ống nhòm và muốn tỏ ra càng tự nhiên càng
tốt.
Hai Người giúp việc,
một người đàn ông và một người đàn bà, nhìn Reynie với ánh mắt sợ sệt. Để giảm
bớt sự lo lắng ở họ, Reynie mỉm cười thân thiện và đưa tay lên vẫy - rồi ngay
lập tức cảm thấy hối hận vì hành động của mình. Những Người giúp việc cảm thấy
bắt buộc phải đáp lại, nên dừng chân, bỏ hai cái thùng xuống để có thể rảnh
rang vẫy tay đáp lại Reynie.
“Mấy cái thùng đẹp
đấy ạ,” Kate nói.
“Cảm ơn cô. Chúng khá
có ích,” người đàn ông béo phục phịch trông rất giống một chú ễnh ương, và
giọng ông ta đáp lại thì càng giống tiếng kêu của một chú ễnh ương hơn.
Vừa nghe thấy giọng
nói đó, Reynie giật nảy mình. Người đàn ông này, cậu biết! Cậu tiến lại gần hơn
một chút để nhìn được rõ hơn gương mặt ông ta. Nhưng người đàn ông vội lùi lại,
ngoảnh mặt đi.
“Chú Bloomburg?”
Reynie nói. “Cháu suýt chút nữa đã không nhận ra chú.”
Có vẻ khá lúng túng,
người đàn ông quay lại nói với cộng sự của mình, một người phụ nữ nhỏ thó và
lúc nào cũng như muốn giấu mình sau mái tóc dài lòa xòa. “Nó đang nói với cô
đấy à?”
“Anh điên à?” người
phụ nữ rít lên, hết nhìn chằm chằm người đồng nghiệp của mình, lại quay sang
toe toét với bọn trẻ, một nụ cười méo mó. Cô ta phải rất cố gắng mới giữ được
bình tĩnh: “Nó nói là Chú kia mà. Đúng không, chàng trai trẻ? Thêm nữa là tên
tôi cũng chẳng phải là Bloomburg.”
“Đó cũng đâu phải tên
tôi,” người đàn ông trả lời, rồi, nhìn xuống khu đất quanh chân Reynie và nói,
“Đừng có phật lòng đấy, nhưng tên chú là Harry Harrison.”
“Chú không phải là
Bloomburg sao ạ?”
“Chú không muốn làm
cháu thấy khó chịu,” Harry Harrison nói (trong khi Người giúp việc còn lại có
vẻ như đang rất hăng máu muốn được phát biểu ý kiến), “nhưng không phải.”
Những đứa trẻ còn lại
không thể rời mắt khỏi Reynie, còn cậu thì đang cực kỳ bối rối. “Nhưng… nhưng…
chú làm việc ở đây bao lâu rồi ạ?”
Người đàn ông liếc
sang người đồng nghiệp của mình. “Cũng khá lâu rồi, cô sẽ không nói gì chứ,
Mary?”
“Tôi biết là tôi đã ở
đây được một thời gian dài rồi,” người phụ nữ nói, cúi gằm mặt xuống đất, “và
anh cũng đã ở đây được khoảng chừng ấy thời gian.”
“Được rồi chứ,” Harry
nói.
“Nhưng chính xác là
bao lâu?” Reynie nhấn mạnh.
“Chú rất tiếc,” Harry
nói, có vẻ như anh ta đang thực tâm cảm thấy có lỗi. “Nhưng chú không nghĩ là
chú có thể nhớ được chính xác ngày hôm đó. Cô có nhớ không, Mary?”
“Ngày tháng chính
thức, tôi cũng không nhớ. Nhưng chắc chắn là cũng lâu rồi.”
Reynie gõ tay lên
trán. “Chú chưa bao giờ đến Nhà tế bần Thành phố Đá?”
“Cháu đang hơi lo
lắng thái quá rồi đấy,” Mary tỏ vẻ lo lắng. “Cô xin lỗi nếu đã làm cháu buồn.
Cả anh cũng thế, phải không Harry?”
“Thực sự là rất thấy
có lỗi” Harry khổ sở. “Cô chú không định làm cháu thấy phiền lòng như thế.”
“Không đâu ạ,” Reynie
trả lời, nhưng giọng nói thì thực sự buồn bã. “Nhưng cô chú không thấy băn
khoăn là tại sao mình lại chẳng thể nhớ được chính xác mình đã đến đây vào thời
gian nào hay sao ạ?”
Cả hai Người giúp
việc đều lắc đầu và nói, “Chỉ là mọi việc vẫn đang diễn ra đúng như chúng nên
thế.”
Bọn trẻ tròn mắt ngạc
nhiên, nhưng hai Người giúp việc thì dường như chẳng hề nhận ra sự kỳ cục trong
câu nói vừa rồi của mình. Họ chỉ đang chờ để được đi khỏi đây thôi, và hi vọng
những đứa trẻ này sẽ không lợi dụng hay gây phiền hà cho mình.
Cuối cùng, Reynie
đành nói, “Cháu rất vui khi được biết điều đó ạ.” Cậu dường như đã trấn tĩnh
trở lại. Thậm chí còn có thể gắng gượng để nở một nụ cười và nói, “Cháu xin
lỗi, cháu ngốc quá. Chú chỉ rất giống chú ấy... người cháu đã từng quen thôi ạ.
Chắc là có nhầm lẫn rồi. Rất vui được nói chuyện với cô chú ạ.”
Những Người giúp việc
cuối cùng cũng thoát. “À, ừ, thật ra thì … rất vui,” cả hai nói và đeo những
chiếc thùng lên vai rồi vội vã đi xuống phía nửa kia của ngọn đồi.
“Được rồi, tóm lại
thì chuyện này là thế nào?” Kate hỏi khi chắc chắn rằng những Người giúp việc
đã đi đủ xa để không nghe được chúng nói gì.
Reynie nhíu mày tập
trung suy nghĩ. “Đó chính xác là chú Bloomburg, không nghi ngờ gì cả. Khuôn mặt
đó, dáng người đó, và cả cái giọng nói như tiếng kêu của ễnh ương đó nữa. Nhưng
chú ấy giả vờ như không biết tớ - và giả vờ không phải là mình nữa. Sao chú ấy
làm thế?”
“Có thể chú ấy là một
đặc vụ bí mật,” Constance nói. “Cậu biết đấy, cũng giống như Milligan vậy. Và
cậu thì lại cứ cố để bóc mẽ chú ấy.”
“Chú Bloomburg á?”
Reynie nói. “Tớ không tin lắm.’
“Dù thế, đúng là chú
ấy có làm tớ nghĩ đến chú Milligan,” Sticky nói. “Các cậu có ai nhìn thấy chú
ấy buồn thế nào không? Có nhận ra là cả hai đều buồn thế nào không? Ý tớ là từ
ánh mắt của các chú ấy. Trước đó tớ chưa từng có cơ hội được nhìn kỹ mắt của
những Người giúp việc, vì họ lúc nào cũng tránh ánh mắt của bọn mình. Nhưng với
cô chú vừa nãy thì tớ có thể thấy rõ được nỗi buồn trong mắt họ.”
“Đúng đấy,” Kate đồng
tình. “Tớ không nghĩ là mình đã từng gặp một người nào đó buồn như chú Milligan
đâu, trừ hai Người giúp việc khi nãy. Reynie, cậu có nghĩ là... Reynie, có
chuyện gì thế?”
Khuôn mặt Reynie
trắng bệch. Cậu bé cứ đứng lặng im nhìn vô định về phía xa.
“Cậu không sao đấy
chứ?” Sticky nói.
Reynie không trả lời.
Nhưng cuối cùng, cậu cũng đã hiểu được một việc mà đáng lẽ đã phải quá rõ ràng
ngay từ đầu nếu không có cái vẻ ngoài bất khả thi như thế: Milligan, những
chuyên viên bị mất tích, chú Bloomburg - tất cả đều đã bị ăn cắp ký ức.
Đến đây, những mảnh ghép
rời rạc như đã tìm về được vị trí của chúng. Lúc bị bắt, Milligan đã nhầm tưởng
ngài Curtain đã phát hiện ra chứng hay quên của chú ấy, trong khi thực ra chính
ông ta lại là nguyên nhân của nó. Vì thế, ngài Curtain đã tức giận biết mấy khi
Milligan nói trí nhớ của chú ấy khá ổn. Ngài Curtain muốn ăn trộm hết những ký
ức của chú ấy, hoặc là xóa chúng đi - hoặc là làm bất cứ việc gì tương tự với
chúng - để sau đó có thể đào tạo Milligan trở thành một Người giúp việc. Giống
như ông ta đã làm với các chuyên viên khác. Ngài Curtain đã biến tất cả những
người này thành nhân công của riêng ông ta, và họ chẳng hề nhận thức được điều
đó.
Những Người giúp việc
như được lập trình để tin rằng “mọi việc vẫn đang diễn ra đúng như chúng nên
thế.” Nhưng, từ những đôi mắt ấy, bạn vẫn có thể nhìn thấy được cuộc sống đã
mất của họ, gia đình của họ - có gì đó bên trong những con người ấy đang cồn
cào nhớ về những thứ đã bị đánh mất đó.
“Reynie, cậu đang làm
bọn tớ thấy lo lắng đấy,” Kate nói. “Có vấn đề gì thế? Reynie!”
Cuối cùng ánh mắt
Reynie cũng hoàn hồn trở lại. Cậu trở về với những người bạn của mình, kể cho
chúng nghe những điều cậu vừa mới hiểu ra.
Kate, Sticky,
Constance chết lặng không nói nên lời - cố gắng đấu tranh, cũng giống như trước
dó Reynie đã làm, để có thể chấp nhận rằng những việc như thế có thể xảy ra. Và
một khi bạn đã tin được điều đó, sẽ có rất nhiều điều được làm sáng tỏ. Cuối
cùng thì bọn trẻ cũng giải thích được thái độ bình thản của những Thành viên
mới, đặc biệt ngay cả khi vì bị bắt cóc nên chúng mới tới đây: Các bạn ấy đã bị
bắt cóc, điều này chính xác, nhưng lại không hề nhớ gì về việc đó cả. Và
Charlie Peters! Anh ấy trông u u mê mê - rất giống với biểu hiện của những
thành viên mới đặc biệt trong ngày đầu tiên họ đến đây - và anh ấy đã thấy phiền
toái đến thế nào lúc mấy cậu bé hỏi về những đặc quyền bí mật. “Anh không thể
nói được.” Thật ra, anh ấy thấy phiền toái là bởi vì thực sự anh ấy không thể
nói - hay đúng ra là không thể nhớ.
“Việc này nghe có vẻ
điên rồ, nhưng tất cả lại khớp với nhau,” Kate nói, đi dần về phía con đường
mòn. “Ngoại trừ việc không hiểu sao những trường hợp tuyển dụng đặc biệt lại
không sầu não như những Người giúp việc. Ngược lại, các bạn ấy thậm chí còn có
vẻ hạnh phúc được đến đây nữa.”
“Và Charlie nữa, anh
ấy cũng không có cái vẻ buồn khổ đó,” Sticky thêm vào. “Anh ấy buồn, nhưng
không đến mức cực đoan. Có khi lại có một cách giải thích khác ngoài cái chứng
quên cục bộ đó ấy. Có lẽ là...”
“Đợi một phút,”
Constance cắt ngang. “Nói lại bằng tiếng người đi xem nào.”
“Chứng quên cục bộ á?
Có nghĩa là bạn không thể nhớ được một sự kiện cụ thể nào đó.”
“Đây, đây chính là
cách lý giải,” Reynie nói. “Bạn sẽ chỉ đau khổ khi không thể nhớ được bất cứ
điều gì thân thuộc. Nếu chỉ bị mất một chút ký ức thôi, cảm giác của bạn chỉ là
sự bối rối thoáng qua thôi - bối rối chứ không phải là buồn nhé.”
“Tớ cũng đang nghĩ
chính xác như thế đấy,” Kate nói. “Chú Bloomburg là ai thế Reynie? Sao chú ấy
lại ở đây?”
“Đó là một chuyên
viên kiểm tra các giáo cụ trong trường học. Cứ khoảng sáu tháng chú ấy lại đến
nhà tế bần của bọn tớ. Thầy Rutger sợ chú Bloomburg lắm - sợ chú ấy tìm ra cái
gì đó bị hỏng hóc và rồi nhà tế bần sẽ phải bỏ tiền ra để sửa chữa - nhưng chú
Bloomburg lại rất tốt bụng. Cười nói suốt ấy. Chỉ cần có người chịu lắng nghe là
chú ấy sẽ hào hứng trò chuyện ngay. Rồi còn cho lũ trẻ bọn tớ bánh gừng nữa.
Tóm lại là một người thân thiện, tốt bụng...”
Giọng Reynie nhỏ dần.
Cậu đứng lặng nhìn về phía bên kia eo biển, về đất liền. Chẳng biết nhìn như
thế có đưa cậu trở về được vùng đất đó, và trở về với quãng thời gian trước
đây, khi Reynie chẳng hề có chút ý niệm nào về những thứ đang ở trong đầu cậu
bây giờ.
“Chú ấy kể gì?” Kate
hỏi.
“Về những đứa con,”
Reynie nói.
“Ồ,” giọng Kate chùng
xuống.
“Chú ấy yêu con mình
lắm,” Reynie nói. “Bây giờ thì nhìn chú ấy đi, sợ tất cả những đứa trẻ mình
gặp. Chỉ mới chưa đầy một năm thôi, kể từ lần gần đây nhất tớ gặp chú ấy.”
Kate chắp nối lại các
thông tin. “Như vậy là chú Bloomburg đến Học viện để tiến hành một cuộc kiểm
tra, và không vui với những gì mình thấy...”
“Và ngài Curtain muốn
đảm bảo rằng chú ấy sẽ không bao giờ quay trở về được nữa,” Reynie hoàn thành ý
của Kate.
“Nhưng làm cách nào
chú Bloomburg có thể quên đi các con của mình?” Sticky vẫn chưa chịu tin. “Điều
đó thực sự có thể sao? Liệu có cái nào trong tất cả những chuyện này là có thể
không?”
Reynie không đáp lại.
“Tớ không thể tin
được điều đó,” Sticky nói, và cầu mong rằng mình thực sự có thể không tin.

