Lịch sử văn minh thế giới - Chương 06 - Phần 1

Chương VI: VĂN MINH TÂY ÂU THỜI TRUNG ĐẠI:

I. Hoàn cảnh hình thành nền văn minh Tây Âu Trung đại:

1.1. Sự hình thành các quốc gian phong kiến ở
Tây Âu:

Việc kinh thành La Mã bị
thất thủ vào năm 476 được coi là mốc đánh dấu sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã.
Trên đống hoang tàn của đế quốc La Mã, hàng loạt các quốc gia mới ra đời như
vương quốc Tây Gốt, Văngđan, Buôcgônhơ, Đông Gốt, Lômbad, Phrăng... Trong các
vương quốc mới ra đời đó, sự hình thành và phát triển của vương quốc Phrăng có
ảnh hưởng tới lịch sử Tây Âu lớn hơn cả.

Lãnh thổ của vương quốc
Phrăng lúc đầu chỉ tương đương miền bắc nước Pháp ngày nay. Nhưng dưới thời của
hoàng đế Saclơman, bằng những cuộc chiến tranh để mở rộng lãnh thổ, ông đã làm
cho đất đai của quốc gia Phrăng lớn gần tương đương vùng tây của đế quốc La Mã
trước kia.

Năm 814 Saclơman chết, con
là Louis “mộ đạo” lên kế vị. Năm 840 Louis “mộ đạo” chết thì trong các con của
Louis xảy ra sự tranh giành ngôi báu tới mức nội chiến. Cuộc nội chiến đã dẫn
tới một hòa ước kí ở Vecđoong năm 843. Theo hòa ước Vecđoong, đế quốc Saclơman
bị chia ra làm ba, đó là nước Pháp, Đức, Ý ngày nay.

Còn ở nước Anh ngày nay, từ
thế kỉ V đã hình thành nên nhiều tiểu quốc. Tới thế kỉ IX, Ecbe đã thống nhất
các nước nhỏ lập nên vương quốc Anh. Tây Ban Nha ra đời trên cơ sở hợp nhất
Cxtila và Aragôn, Bồ Đào Nha thì đã được ra đời trước đó.

Các vương quốc mới không đi
theo con đường chế độ nô lệ mà đi vào con đường phong kiến hoá. Vua Phrăng từ
thế kỉ V đã đem nhiều ruộng đất cướp được của các quý tộc La Mã cũ phân chia
cho các tướng lĩnh, bà con dòng họ và những người có công. Cùng với ruộng đất,
những người này còn được phong tước. Đất đai và tước hiệu được phân phong có
quyền cha truyền con nối, điều này đã tạo ra tầng lớp quý tộc lãnh chúa phong
kiến với những lãnh địa rộng lớn. Những người lính và nô lệ có công trong chiến
tranh cũng được chia một ít ruộng và họ trở thành những người nông dân tự do.

Nhưng cùng với thời gian, số
lượng nông dân tự do càng ít dần. Do nhiều nguyên nhân như thiên tai, mất mùa,
bệnh dịch... nhiều nông dân bị phá sản phải bán ruộng đất. Khi không còn ruộng
đất thì đương nhiên họ phải xin được nhận ruộng đất của lãnh chúa, cày cấy và
nộp tô. Họ cũng ở nhờ trên đất của lãnh chúa và lệ thuộc vào lãnh chúa. Đến đời
con cháu của họ thì sự lệ thuộc càng nặng hơn, không được tùy tiện bỏ đi nơi
khác nếu không được lãnh chúa cho phép. Vậy là con cháu họ còn mất một phần tự
do thân thể, một loại người nửa nô lệ, nửa nông dân, người ta gọi họ là nông
nô.

Nông nô cũng có gia đình
riêng, có một túp lều, và một ít tài sản. Lãnh chúa không thể bán họ. Nhưng
nông nô không được tự tiện bỏ trốn khỏi vùng đất của lãnh chúa. Sau này, muốn
bỏ đi ra thành thị làm ăn, họ phải chuộc một số tiền.

1.2. Sự ra đời của các thành thị trung đại:

Từ thế kỉ XI, kinh tế nông
nghiệp ở Tây Âu phát triển hẳn lên. Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho
thủ công nghiệp phát triển. Nhiều thợ thủ công khéo tay và các thương nhân đã
tìm tới ngã ba đường, ngã ba sông để mở quán làm ăn. Những nơi thuận lợi, các
cửa hàng, công xưởng ngày càng phát triển, dần dần hình thành nên các thành thị
trung đại.

Sự ra đời của các thành thị
trung đại, là biểu hiện cụ thể của nền kinh tế hàng hoá, nó báo nền kinh tế tự
nhiên đang bị tấn công. Nền kinh tế hàng hóa ngày càng đòi hỏi một thị trường
rộng lớn, nó tạo ra sự giao lưu thường xuyên giữa các địa phương. Chế độ phong
kiến phân tán được tạo ra bởi nền kinh tế tự nhiên sắp bị thay thế bởi một chế
độ trung ương tập quyền do đòi hỏi của nền kinh tế hàng hoá.

1.3. Vai trò của giáo hội La Mã:

Đạo Kitô ra đời ở Giêrudalem
vào khoảng đầu Công nguyên. Ban đầu đạo Kitô là một tôn giáo của những người
nghèo khổ. Sau này giới quý tộc ở đế quốc La Mã lợi dụng, đã công nhận đạo Kitô
được truyền bá công khai, và các hoàng đế La Mã còn ủng hộ đạo Kitô. Đến thế kỉ
IV, ở đế quốc La Mã đã có năm trung tâm giáo hội.

Do bất đồng trong sự giải
thích thuyết “tam vị nhất thể” và cả việc đụng chạm nhau về khu vực truyền đạo
nên đến năm 1054, giáo hội Kitô ở La Mã đã bị chia làm hai: giáo hội Thiên chúa
(giáo hội ở phương Tây, giáo hội La Mã) và giáo hội Chính thống (giáo hội ở
phương Đông, giáo hội Hy Lạp).

Giáo hội Thiên chúa có thế
lực rất lớn về cả kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng ở Tây Âu trong thời kì
trung đại.

II. Văn hóa Tây Âu từ thế kỷ V đến thế kỷ X:

2.1. Tình hình chung về văn hoá, giáo dục, tư tưởng:

Từ thế kỉ V đến thế kỉ X,
cùng với sự suy sụp của nền kinh tế, văn hóa Tây Âu một thời huy hoàng cũng bị
suy giảm, nghèo nàn theo.

Những cuộc xâm nhập của các
bộ tộc Giecman cũng đã làm hủy hoại khá nhiều những di sản của nền văn minh cổ
đại ở Tây Âu. Chỉ có nhà thờ và các tu viện của đạo Kitô là không bị xâm phạm.
Các vương quốc mới thành lập chưa có đủ điều kiện để chú trọng tới văn hoá,
giáo dục. Hơn thế nữa, chế độ phong kiến cát cứ, tản quyền, với nền kinh tế tự
cung tự cấp cũng bất lợi cho sự giao lưu văn hoá. Nông nô thì hầu hết là mù
chữ. Quý tộc lãnh chúa thì nhiều kẻ cũng không thèm biết chữ.

Trong các vương quốc, chỉ có
mỗi trung tâm văn hóa là các trường học thuộc hệ thống nhà thờ. Nội dung giảng
dạy ở các trường học tôn giáo này chủ yếu là thần học. Ngoài thần học, sinh
viên còn được học “bảy môn nghệ thuật tự do” gồm: âm nhạc, thiên văn học, ngữ
pháp, tu từ học, logic học, số học, hình học.

Việc giảng dạy cũng bị giáo
hội chi phối, quản lí chặt chẽ. Ngôn ngữ dạy trong các trường là chữ Latin. Môn
logic học được coi là “đầy tớ của thần học”, cùng với môn tu từ học, dạy người
học cách hùng biện để sau này đi truyền đạo. Môn thiên văn học thì lấy học
thuyết của Ptôlêmê (Ptolemy) để giảng dạy, thuyết này coi Trái Đất là trung tâm
của vũ trụ.

Chủ nghĩa khổ hạnh, cấm dục
cũng được tuyên truyền rộng rãi.

2.2. Văn hóa phục hưng Carôlanhgiêng (Carolingien):

Phong trào này ra đời dưới
thời Saclơman nhằm đào tạo quan lại, giáo sĩ để quản lí công việc của nhà nước
và truyền đạo ở những vùng mới chinh phục. Sáclơman rất chú trọng mở những
trường học ở cung đình, khuyến khích con em quý tộc vào học. Các trường này do
được sự tài trợ của triều đình nên mời được nhiều thầy giỏi ở Tây Âu, nhờ đó
văn hóa có phần nào được tạo điều kiện phát triển.

Thực chất phong trào này vẫn
lấy thần học làm nội dung giảng dạy chính, lấy việc phục vụ cung đình, nhà thờ
làm mục đích trung tâm. Vì vậy giai đoạn văn hóa phục hưng Carolingien tồn tại
rất ngắn ngủi, sau cái chết của Saclơman không lâu nó liền bị suy sụp.

III. Văn hóa Tây Âu từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV:

Từ thế kỉ X, nông nghiệp ở
Tây Âu đã bắt đầu phát triển. Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho thủ công
nghiệp phát triển. Nhiều thợ thủ công, thương nhân tìm đến ngã ba đường, ngã ba
sông để mở quán làm ăn. Lâu ngày, những nơi này dần hình thành ra các thành thị
trung đại.

Ơ thành thị trung đại, các
thị dân có điều kiện kinh tế hơn các nông nô. Họ cũng thấy giá trị phi vật chất
của văn hoá. Điều đó dẫn tới những trường học xuất hiện, những biểu hiện mới về
văn học, kiến trúc.

3.1. Sự ra đời của các trường đại học:

Nhu cầu tri thức của thị dân
ngày càng cao, họ đã thấy giá trị của những tài sản vô hình là văn hoá. Trường
học của nhà thờ không đáp ứng được nhu cầu về văn hóa đa dạng, thiết thực của
tầng lớp thị dân, điều đó đã dẫn tới sự xuất hiện các trường đại học ở Tây Âu
vào thế kỉ XII - XIII.

Tiêu biểu cho các trường đại
học xuất hiện giai đoạn này là trường Xoocbon, Tuludo, Oocleang, ở Pháp; Oxford, Cambridge,
ở Anh; Napoli, Palecmơ, ở Ý... Đến cuối thế kỉ XIV, ở Tây Âu đã có tất cả
khoảng bốn mươi trường đại học.

Ngôn ngữ sử dụng trong các
trường đại học vẫn là tiếng Latin. Phương pháp giảng dạy là giảng thuật. Sinh
viên lên lớp nghe giảng, ghi chép và thảo luận. Kết thúc khóa học, sinh viên
cũng làm luận văn và bảo vệ luận văn tốt nghiệp. Các học vị như cử nhân, tiến
sĩ cũng được sử dụng trong các trường đại học.

Về mặt tổ chức, các trường
thường gồm có hiệu trưởng, khoa trưởng của bốn khoa: Nghệ thuật (gồm cả văn
chương và khoa học), Thần học, Y học và Luật học.

Ngoài thần học, sinh viên
còn được học các môn học khác. Giáo sư là những người thế tục chứ không phải
chỉ là các giáo sĩ như trường học của nhà thờ. Như vậy, các trường đại học muốn
tìm cách thoát khỏi sự kiểm soát của giáo hội và hoạt động độc lập. Các trường
đại học đã trở thành trung tâm văn hoá, khoa học, nơi truyền bá những tư tưởng
tiến bộ. Vì vậy sau này, giáo hội lại tìm mọi cách để kiểm soát hoạt động của
các trường đại học.

3.2. Văn học:

Văn học Tây Âu giai đoạn này
cũng có những biểu hiện mới. Bên cạnh văn học dân gian và văn học Latin của nhà
thờ, thời kì này còn xuất hiện hai dòng văn học mới là: Văn học kị sĩ và văn
học thành thị.

Văn học kị sĩ thường bắt
nguồn từ những câu chuyện lưu truyền trong nhân dân, mà nhân vật trung tâm
thường có những tính cách được ca ngợi như thượng võ, trọng danh dự, kính chúa,
trung thành với chủ và một tính cách không thể thiếu là tôn sùng người đẹp. Văn
học kị sĩ gồm hai thể loại chủ yếu là anh hùng ca và thơ trữ tình. Bản anh hùng
ca tiêu biểu thời đó là Bài ca Roland, Bài ca Cid. Tác phẩm Tơrixtăng và Idơ là
một tác phẩm ca ngợi tình yêu lãng mạn kiểu kị sĩ.

Văn học thành thị cũng xuất
hiện để đáp ứng nhu cầu của tầng lớp thị dân ngày càng đông đảo và đang lớn
mạnh. Từ thế kỉ XII đã xuất hiện nhiều tác phẩm thuộc văn học thành thị mang
tính hài hước, đả kích chế độ phong kiến, giáo sĩ, và ca ngợi những người bình
dân. Tiêu biểu giai đoạn này là các tác phẩm: Di chúc của con lừa, Thầy lang
vườn...

3.3. Triết học kinh viện:

Triết học kinh viện (scholasticism)
là một thuật ngữ bắt nguồn từ chữ schola trong chữ Latin để chỉ triết học trong
nhà trường. Đây là một môn học rất quan trọng trong nhà trường lúc bấy giờ.
Triết học kinh viện được coi là triết học chính thức của giai cấp thống trị lúc
đó.

Đặc điểm nổi bật của triết
học kinh viện là rất trọng lôgic hình thức, với những phương pháp biện luận cực
kì rắc rối. Nói chung, các nhà triết học kinh viện cho rằng, đối với các hiện
tượng tự nhiên chỉ cần dùng phương pháp tư duy trừu tượng cũng có thể đi tới
chân lí, không cần đến những quan sát, thí nghiệm mất công sức.

Khi nghiên cứu những khái
niệm chung, các nhà triết học kinh viện đã chia làm hai phái, duy thực và duy
danh. Phái duy danh cho rằng khái niệm chung hình thành trong tư duy con người
có sau sự vật ; còn phái duy thực thì cho rằng trước khi có một vật thể nào đó,
thì khái niệm về sự vật đó đã có trong tư duy con người. Như vậy phái duy thực
thuộc trường phái duy tâm, còn phái duy danh mang nhân tố duy vật. Chính vì
vậy, tuy vẫn tin chúa nhưng các nhà duy danh vẫn thường bị nghi ngờ.

Các nhà triết học kinh viện
tiêu biểu thời kì đó là Anxenme, Guyom de Sampo, Roger Bacon, Thomas Aquinas.

Tới thế kỉ XIV, triết học
kinh viện bắt đầu suy thoái. Các nhà triết học kinh viện trở thành công cụ của
nhà thờ, chống lại những tư tưởng mới của giai cấp tư sản đang lên.

3.4. Nghệ thuật kiến trúc:

Nền kinh tế hàng hóa ở các
thành thị đang lên còn làm thay đổi cả bộ mặt kiến trúc ở các thành thị. Khoảng
nửa sau thế kỉ XII đến thế kỉ XIII, phong cách kiến trúc Roman dần dần được
thay thế bởi phong cách kiến trúc Gôtích.

Kiến trúc Roman là kiến trúc
chịu ảnh hưởng từ những công trình kiến trúc Roma. Kiến trúc Gôtích là kiến
trúc của người Gốt.

Buổi đầu thời trung đại, các
công trinh kiến trúc Tây Âu đều bị suy giảm, nghèo nàn theo sự suy giảm chung
của văn hoá. Đến cuối thế kỉ VIII, kiểu kiến trúc Roman có được khôi phục,
nhưng về nghệ thuật thì nó thô kệch, nặng nề chứ không được đẹp như các công
trình kiến trúc thời cổ đại. Kiến trúc Roman thời kì này thường được xây bằng
đá, cột thấp, tường dày, ít cửa sổ, mặt trước để phẳng, hầu như không có trang
trí gì. Bên trong các nhà thờ chỉ được trang trí một số bức tranh tô màu lòe
loẹt.

Đến nửa sau thế kỉ XII, ở
miền Bắc nước Pháp xuất hiện một kiểu kiến trúc mới được gọi là kiến trúc
Gôtích. Đặc điểm của kiến trúc Gôtích là vòm cửa nhọn, nóc nhà nhọn, cột cao,
tường mỏng, nhiều cửa sổ và được trang trí bằng nhiều loại kính màu. Mặt tiền
của các công trình lại được trang trí bằng những bức phù điêu rất sinh động.

Lối kiến trúc này làm tăng
thêm vẻ uy nghiêm của tôn giáo nên trước hết được áp dụng xây các giáo đường,
ngoài ra phong cách kiến trúc này còn được áp dụng để xây các công sở, dinh
thự. Với những tháp chuông cao vút xấp xỉ một trăm mét, với tầm cỡ bề thế, lại
tinh xảo của toàn bộ công trình, các công trình mang phong cách Gôtích không
những thể hiện sự giàu có của tầng lớp thị dân mà còn thể hiện bước tiến của kỹ
thuật xây dựng lúc bấy giờ. Do vậy, kiểu kiến trúc Gôtích nhanh chóng ảnh hưởng
sang Anh, Đức, Tây Ban Nha và cả Tiệp Khắc. Công trình tiêu biểu cho kiến trúc
Gôtích thời đó là nhà thờ Buôcgiơ được xây dựng vào cuối thế kỉ XII và nhà thờ
Đức Bà Pari được xây dựng vào thế kỉ XIII ở miền Bắc nước Pháp.

IV. Văn hóa Tây Âu thời phục hưng:

4.1. Hoàn cảnh ra đời:

Văn hóa Tây Âu thế kỉ V - X
dựa trên nền tảng nền kinh tế tự cung tự cấp, sự giao lưu trao đổi rất hạn chế,
văn hóa vì vậy cũng phát triển không đáng kể.

Tới thế kỉ XIV, với sự phát
triển kinh tế công thương ở các thành thị, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
dần dần hình thành và ngày càng lớn mạnh. Các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản
không còn chịu chấp nhận những giáo lý phong kiến lỗi thời, họ vận động khôi
phục lại sự huy hoàng của văn hóa Tây Âu thời cổ đại. Họ tìm thấy trong nền văn
hóa cổ đại những yếu tố phù hợp với mình, có lợi cho mình để đấu tranh chống
lại những trói buộc của nền văn hóa trung cổ.

Phong trào Văn hóa Phục hưng
xuất hiện đầu tiên ở Ý, vì ở đây thế kỉ XIV đã xuất hiện các thành thị tự do
như những quốc gia nhỏ. Quan hệ sản xuất tư bản đã chiếm địa vị chi phối đời
sống văn hoá. Ý lại là trung tâm của đế quốc Rôma cổ đại, vì vậy ở đây còn giữ
lại nhiều di sản văn hóa cổ đại của Hy Lạp - Rôma. Hơn ai hết, các nhà văn hóa Ý
có điều kiện khôi phục lại nền văn hóa trước tiên khi có điều kiện. Từ Ý, phong
trào lan sang Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức...

Tầng lớp giàu có ở các thành
thị muốn thể hiện sự giàu sang của mình qua các dinh thự và các tác phẩm nghệ
thuật, điều đó cũng tạo điều kiện cho các nhà văn hóa thể hiện tài năng.

Báo cáo nội dung xấu