Sói thảo nguyên - Chương 13

[38] Senõr (tiếng Tây Ban
Nha trong nguyên tác): ông.

Rồi Hermine được mời nhảy
hết bài này đến bài khác, còn tôi ngồi một mình bên ly trà, nghe nhạc, một loại
nhạc xưa nay tôi không ưa nổi. Chúa ơi, tôi thầm nghĩ, thế là giờ đây tôi được
hướng dẫn vào - và để trở thành quen thuộc - với một thế giới mà mình lạ lẫm,
ghê tởm, khinh bỉ xiết bao và cho đến nay vẫn thận trọng lánh xa, thế giới của
bọn la cà trác táng, thế giới của những cái bàn cẩm thạch bóng láng sao chép
vụng về, của nhạc Jazz, của gái điếm thượng lưu, của đám lái thương lưu động!
Tôi rầu rĩ nhấp trà, đăm đăm nhìn đám người thanh lịch nửa vời. Hai cô gái đẹp
thu hút ánh mắt tôi, cả hai đều nhảy giỏi, tôi khâm phục và ganh tị dõi theo;
bước nhảy của họ mới dẻo, đẹp, tươi và vững làm sao.

Rồi Hermine lại xuất hiện,
không hài lòng về tôi. Nàng xỉ vả rằng tôi đến đây đâu phải để mang bộ mặt như
thế và ngồi xụi lơ ở bàn uống trà, mà hãy vui lòng mạnh dạn khiêu vũ. Sao cơ,
tôi không quen ai à? Cần gì. Chẳng lẽ không có cô gái nào làm tôi thích ư?

Tôi chỉ cho nàng cái cô đẹp
nhất vừa đứng gần chúng tôi, thật dễ thương trong chiếc váy nhung xinh xắn, mái
tóc vàng ngắn và dày, đôi cánh tay tròn lẳn rất đàn bà. Hermine dứt khoát đòi
tôi phải tới mời cô nàng đó nhảy. Tôi tuyệt vọng phản đối.

“Anh không thể!” Tôi khổ sở
nói. “Ừ, phải chi anh là một gã xinh trai trẻ trung! Đằng này lại là một lão
già ngu ngốc cứng đờ, không hề biết nhảy - cô ta sẽ cười anh trẹo quai hàm
mất!”

Hermine khinh miệt nhìn tôi.

“Còn em cười anh thì dĩ nhiên
anh mặc kệ chứ gì. Anh thật hèn! Ai lân la làm quen với đàn bà con gái cũng đều
mạo hiểm, vì có thể bị cười; đó là cái giá phải trả. Harry ơi, hãy liều đi,
cùng lắm thì anh chịu bị cười thôi - bằng không em hết tin rằng anh tuân lời
em.”

Nàng không nhân nhượng. Tôi
bối rối đứng lên, bước tới chỗ cô gái xinh đẹp nọ, đúng lúc nhạc lại vừa trỗi
lên.

“Đúng ra có người mời em bài
này rồi,” nàng nói và tò mò nhìn tôi với đôi mắt to linh lợi, “nhưng người bạn
nhảy của em chừng như đã mọc rễ luôn nơi quầy rượu đàng kia. Nào, mời ông!”

Tôi ôm nàng, đi những bước
đầu tiên, lòng còn đang ngạc nhiên vì không bị nàng từ chối, thì nàng đã nhận
ra trình độ nhảy của tôi, liền đảm trách việc hướng dẫn. Nàng nhảy thật tuyệt
vời, dìu tôi theo; trong giây lát tôi quên bẵng mọi chuyện mình phải làm cùng
những quy tắc khi khiêu vũ, tôi cứ việc bơi theo, cảm thấy đôi hông căng, đôi
đầu gối mềm mại nhanh nhẹn của nàng; tôi nhìn vào khuôn mặt trẻ trung, rạng rỡ
của nàng, thú thật với nàng hôm nay là lần đầu tiên tôi khiêu vũ trong đời.
Nàng mỉm cười, khuyến khích tôi, khôn ngoan đáp lại ánh mắt hân hoan cùng những
lời tán tỉnh của tôi không phải bằng lời nói, mà qua những động tác nhẹ nhàng,
khiến chúng tôi thêm gần gũi và say đắm. Tay phải tôi ôm chặt eo nàng, sung
sướng và hăm hở theo những động tác của đôi chân, đôi tay, đôi vai nàng; tôi
sửng sốt vì không một lần giẫm lên chân nàng, rồi khi tiếng nhạc chấm dứt, hai
chúng tôi đứng lại, vỗ tay cho đến khi bản nhạc được chơi lại và một lần nữa
tôi hăm hở, kính ngưỡng, say mê hoàn tất nghi thức.

Khi bài khiêu vũ chấm dứt,
theo tôi là quá sớm, cô gái váy nhung ấy rút lui và Hermine - từ nãy vẫn nhìn
chúng tôi - đột nhiên xuất hiện bên cạnh tôi.

“Anh thấy gì chưa?” Nàng
cười khen ngợi. “Anh phát hiện chân cẳng đàn bà không phải là chân bàn rồi chứ?
Hoan hô! Anh nhảy Fox được rồi đấy, đội ơn Chúa, mai mình sẽ tập điệu Boston;
ba tuần nữa sẽ có khiêu vũ hóa trang tại sảnh đường Địa Cầu.”

Lúc đó nghỉ xả hơi, chúng
tôi ngồi vào bàn; tay Pablo đẹp trai, trẻ trung, cái gã thổi kèn saxophone ấy,
tới gật đầu chào rồi ngồi xuống cạnh Hermine. Xem ra y rất thân mật với nàng.
Còn tôi, xin thú nhận, hoàn toàn chẳng chút thích thú trong lần đầu gặp gỡ này.
Không thể chối cãi rằng y tốt mã, thân hình đẹp, bảnh trai, ngoài ra tôi chẳng
phát hiện thêm điểm nào hơn người ở y. Về mặt thông thạo nhiều thứ tiếng thì y
chẳng hề gặp khó khăn, vì y có nói năng gì đâu, ngoài những từ như không dám,
cám ơn, đúng vậy, hẳn rồi, hallo và đại loại mà tất nhiên y có thể nói những từ
ấy bằng nhiều thứ ngôn ngữ. Không, Senõr Pablo này chẳng nói năng gì sất và y,
tay caballero[39] điển trai này, dường như cũng không suy
nghĩ nhiều nữa cơ. Công việc của y là thổi kèn saxophone trong dàn nhạc Jazz và
dường như y nhiệt thành say mê nghề ấy, nên đôi khi đang chơi nhạc y đột nhiên
vỗ tay hoặc tự cho phép lớn tiếng bật ra như thể ca hát những âm thanh bày tỏ
lòng hâm mộ: “Ô ô ô ô, ha ha, hallo!” Ngoài ra, rõ ràng y chẳng có nhiệm vụ gì
khác trên thế gian này hơn là đẹp trai, làm cho phụ nữ hài lòng, đeo cổ cồn
cùng ca vát kiểu mới nhất và mang thật nhiều nhẫn. Y giúp vui bằng cách ngồi
vào bàn chúng tôi, mỉm cười với chúng tôi, nhìn đồng hồ đeo tay và vấn thuốc
lá, việc mà y rất khéo. Đôi mắt đẹp sẫm màu của người Creole[40],
mái tóc xoăn đen chẳng cho thấy y có được chút lãng mạn hay ưu tư hoặc suy nghĩ
gì - nhìn gần thì tay á thánh đẹp trai có sức quyến rũ đặc biệt này chẳng qua
chỉ là một thanh niên vui nhộn, hơi được nuông chiều, biết cách cư xử, thế
thôi. Tôi nói với y về thứ nhạc cụ y đang sử dụng và về những âm điệu trong
nhạc Jazz, để y biết là đang đụng phải một kẻ thưởng thức lão luyện và am hiểu
về những chuyện liên quan đến âm nhạc. Nhưng y không đi vào những chuyện ấy;
rồi trong lúc vì lịch sự tôi nói gì đấy với y, đúng ra với Hermine, như thể
biện minh về mặt lý thuyết cho nhạc Jazz, y chỉ mỉm cười vô thưởng vô phạt,
chẳng ăn nhập gì đến tôi cũng những nỗ lực của tôi, chừng như y hoàn toàn không
biết rằng trước khi có nhạc Jazz và ngoài nó ra còn có vài ba thứ nhạc khác
nữa. Y khả ái, khả ái và nhã nhặn, mỉm cười dễ thương từ đôi mắt to chẳng chứa
đựng gì; nhưng giữa y và tôi dường như không có điều gì chung - chẳng điều gì
quan trọng và thiêng liêng đối với tôi, chúng tôi sinh ra từ những vùng đất đối
nghịch, ngôn ngữ không có được một từ giống nhau. (Nhưng về sau Hermine kể tôi
nghe một điều khác thường. Nàng cho biết sau buổi trò chuyện này Pablo bảo nàng
cần đối xử ân cần với tôi, vì tôi thật rất bất hạnh. Khi nàng hỏi y căn cứ vào
đâu, y đáp: “Ông ấy là một con người khốn khổ. Cứ nhìn vào mắt ông ấy khắc rõ!
Ông ấy không biết cười.”)

[39] Caballero (tiếng Tây
Ban Nha trong nguyên tác): con người hào hoa.

[40] Con cháu những người
lai Âu - Phi ở Trung và Nam Mỹ.

Khi gã mắt đen này cáo biệt
chúng tôi và nhạc lại trỗi lên, Hermine đứng dậy. “Harry, bây giờ anh lại có
thể nhảy với em đấy. Hay anh không muốn nữa?”

Ngay cả với nàng giờ đây tôi
nhảy cũng dễ dàng hơn, phóng khoáng và vui vẻ hơn, tuy không thật thoải mái và
đắm say như với cô gái nọ. Hermine để tôi dìu đi, nàng theo bước chân tôi, mềm
mại và nhẹ nhàng như một cánh hoa; rồi tôi cũng cảm thấy cả ở nàng những vẻ
duyên dáng lúc sát lại gần, lúc rời xa, cả nàng cũng tỏa mùi hương đàn bà và
tình yêu, cả lối khiêu vũ của nàng cũng trìu mến và tha thiết hát lên bài ca
thanh nhã và quyến rũ của giới tính - thế mà tôi lại không thể hoàn toàn tự do,
hân hoan đáp lại tất cả những điều ấy, không thể toàn tâm dâng hiên. Hermine
quá gần gũi với tôi; nàng là bạn học, là em gái, nàng tương tự tôi, giống tôi
và giống Hermann, người bạn thuở thiếu thời của tôi, kẻ say mê nhiệt thành, nhà
thơ, bạn đồng hành sôi nổi trong những đeo đuổi về tinh thần và những thái quá
của tôi.

Sau đó, khi tôi nói với nàng
những điều này, nàng bảo “Em biết, em biết rất rõ. Tuy em sẽ vẫn cứ làm cho anh
phải lòng em, nhưng chuyện ấy chẳng vội gì. Trước hết mình là bạn, mình mong
muốn trở thành bạn thân, vì mình đã chấp nhận nhau. Bây giờ mình muốn học hỏi
lẫn nhau và cùng nhau chơi đùa. Em cho anh thấy cái sân khấu bé nhỏ của em, em
dạy anh khiêu vũ, vui chơi một tí và ngớ ngẩn một tí, còn anh chỉ bảo cho em
những tư tưởng và đôi chút kiến thức của anh.”

“Chà, Hermine ơi, anh đâu có
gì nhiều để chỉ bảo, em biết nhiều hơn anh chứ. Em là một người thật kỳ lạ đấy,
cô bé ơi! Em hiểu anh trong mọi chuyện, em vượt xa anh. Anh có đáng kể gì với
em không đấy? Anh không làm em nhàm chán sao?”

Nàng sa sầm nhìn xuống đất.

“Em không thích nghe anh nói
thế đâu. Hãy nhớ lại buổi tối anh kiệt sức và tuyệt vọng trốn chạy đau khổ lẫn
cô đơn, tình cờ gặp em, rồi thành bạn đồng hành của em! Theo anh nghĩ thì tại
sao lúc ấy em có thể nhận biết và hiểu được anh chứ?”

“Tại sao thế, Hermine? Nói
anh biết đi!”

“Vì em giống như anh. Vì em
cũng cô đơn y hệt anh, em cũng không mấy yêu thương và coi trọng cuộc sống,
không mấy coi trọng con người ta cùng bản thân em, giống như anh vậy. Bao giờ
cũng có một vài kẻ đòi hỏi cuộc đời điều tối đa, chứ không thể chấp nhận sự ngu
xuẩn và thô bạo của nó.”

“Em ơi, em!” Tôi kêu lên đầy
kinh ngạc. “Bạn ơi, anh hiểu em, không ai hiểu em bằng anh. Thế mà em vẫn là
một điều bí ẩn đối với anh. Em sẽ vượt qua cuộc đời dễ như bỡn, em biết trân
trọng khác thường những điều nhỏ nhặt và những thú vui, em là một nghệ sĩ như
thế đấy trong cuộc sống. Làm sao em có thể đau khổ vì nó? Làm sao em có thể
tuyệt vọng được?”

“Em không tuyệt vọng, Harry
ạ. Nhưng đau khổ vì cuộc sống thì có đấy, em kinh nghiệm chuyện đó mà. Anh ngạc
nhiên rằng em không hạnh phúc, trong khi em biết nhảy nhót và rành rẽ những
chuyện hời hợt của cuộc đời. Còn em, bạn ơi, em ngạc nhiên thấy anh thất vọng
đến thế về cuộc đời, trong khi anh lại rất quen thuộc với những điều đẹp đẽ
nhất, sâu xa nhất, trong tinh thần, nghệ thuật và tư tưởng! Chính vì thế mình
đã thu hút lẫn nhau, chính vì thế mình là anh em. Em sẽ dạy anh khiêu vũ, vui
chơi và cười đùa, nhưng vẫn không thỏa mãn. Và anh sẽ dạy em suy nghĩ cùng hiểu
biết, nhưng vẫn không thỏa mãn. Anh có biết rằng hai đứa mình là con của quỷ
không?”

“Anh biết, đúng thế đấy. Quỷ
là tinh thần, còn mình là những đứa con bất hạnh của nó. Mình rơi khỏi thiên
nhiên, lơ lững giữa tầng không. Nhưng anh chợt nhớ ra điều này: trong tập Luận
thuyết về Sói Thảo Nguyên
mà anh đã kể với em có nói rằng việc Harry
tin hắn có một hoặc hai linh hồn, hắn được tạo ra từ một hoặc hai nhân cách chỉ
là tưởng tượng của hắn thôi. Mọi người đều hình thành với mười, với cả trăm, cả
nghìn linh hồn.”

“Em rất thích điều này,”
Hermine kêu lên. “Chẳng hạn ở anh phần tâm linh đã phát triển rất cao, thành ra
bù lại anh lạc hậu trên mọi nghệ thuật sống cỏn con. Nhà tư tưởng Harry đã trăm
tuổi, còn gã vũ nam Harry chưa được nửa ngày tuổi. Bây giờ mình sẽ làm cho gã
vũ nam này tiến xa hơn, cùng với lũ anh em cũng nhỏ bé, ngu muội và chưa trưởng
thành như hắn.”

Nàng mỉm cười nhìn tôi, rồi
đổi giọng dịu dàng hỏi:

“Còn anh thích Maria thế
nào?”

“Maria? Ai vậy?”

“Cô nàng anh vừa cùng nhảy đó.
Một cô gái đẹp, rất đẹp. Nếu em không nhầm thì anh đã hơi phải lòng nàng rồi.”

“Em biết cô ấy à?”

“Biết chứ, chúng em rất thân
nhau mà. Anh mến nàng lắm phải không?”

“Anh mến cô ấy và rất mừng
vì cô ấy đã khoan dung cho trình độ khiêu vũ của anh.”

“A, nếu chỉ có thế thôi! Anh
phải tán tỉnh nàng một chút, Harry ạ. Nàng rất xinh, nhảy giỏi, còn anh đã phải
lòng nàng rồi. Em tin anh sẽ thành công.”

“Ái chà, anh không tham vọng
thế đâu.”

“Anh hơi nói dối đấy nhé. Em
được biết anh có đâu đấy trên thế gian này một người tình và xuân thu nhị kỳ
mới gặp, để rồi cùng nàng cãi cọ. Anh đúng là rất đàng hoàng, nếu muốn trung
thành với cô bạn lạ kỳ ấy, nhưng cho em được phép không tin lắm! Em hoàn toàn
không tin rằng anh rất mực coi trọng tình yêu. Anh có thể như thế, anh có thể
yêu theo kiểu lý tưởng của anh, nhiều như anh muốn; đó là chuyện của anh, em
chẳng cần phải lo. Nhưng điều em phải quan tâm là giúp anh học thuần thục hơn
chút ít những nghệ thuật và trò chơi nho nhỏ, nhẹ nhàng trong cuộc đời. Trong
lĩnh vực này em là cô giáo của anh và sẽ giỏi hơn cô người tình lý tưởng của
anh, anh cứ tin đi! Sói Thảo Nguyên ơi, lại đến lúc anh cần ngủ với một cô gái
đẹp rồi đấy!”

“Hermine,” tôi khổ sở kêu
lên, “nhìn anh này, anh là một lão già!”

“Anh là một cậu bé. Anh đã
quá lười không chịu học nhảy như thế nào để đến nỗi suýt quá muộn thì anh cũng
quá lười học yêu đương như thế. Bạn ơi, yêu đương kiểu lý tưởng và bi thảm thì
chắc chắn anh xuất sắc rồi, em không hề hoài nghi, mà xin bày tỏ lòng kính
trọng! Giờ đây anh sẽ học cách yêu đương hơi bình thường và con người hơn. Bước
đầu đã xong, chẳng bao lâu nữa em có thể để anh đi dự vũ hội được rồi. Trước
hết anh còn phải học điệu Boston nữa, mai mình bắt đầu. Em sẽ đến vào
lúc ba giờ. Nhân thể hỏi luôn, anh thấy nhạc ở đây thế nào?”

“Tuyệt.”

“Anh thấy chưa, đó cũng là
một tiến bộ anh học thêm được đấy. Trước đây anh không chịu nổi mọi thứ nhạc
khiêu vũ và nhạc Jazz, anh thấy chúng không nghiêm trang và quá hời hợt. Bây
giờ anh đã thấy ta chẳng cần phải coi trọng nó mà nó vẫn có thể rất dễ thương,
rất hay. Nói thêm, nếu thiếu Pablo thì ban nhạc chẳng còn gì nữa. Anh ấy dẫn
dắt nó, bơm nhiệt tình vào nó.”

Cái máy quay đĩa đã làm vẩn
đục bầu không khí khổ hạnh trong phòng làm việc của tôi như thế nào, những điệu
khiêu vũ của Mỹ đã thâm nhập một cách lạc lõng vào thế giới âm nhạc mà tôi dày
công chăm chút, đã gây khó chịu, thậm chí hủy hoại như thế nào, thì những điều
mới mẻ, những điều đáng sợ, những điều gây tan rã cũng đã từ mọi phía lấn vào
cuộc sống của tôi, cho đến nay vẫn được phân định rạch ròi và hết sức tách
biệt. Tập luận thuyết về Sói Thảo Nguyên và Hermine đã có lý với thuyết về
nghìn linh hồn, vì ngày ngày lại thêm vài linh hồn mới xuất hiện trong tôi, bên
cạnh hết thảy những linh hồn cũ; chúng đưa yêu sách, gây náo loạn và nay tôi
thấy cái ảo giác về nhân cách của mình rõ rành rành như một tấm hình ngay trước
mắt. Tôi đã chỉ chú tâm đến dăm ba khả năng và kỹ xảo mà mình ngẫu nhiên có
được chút tài, đã vẽ nên hình ảnh một tay Harry và đã sống cuộc đời của hắn, kẻ
thật ra chẳng là gì khác hơn một chuyên gia được đào tạo rất lơ mơ về thơ văn,
âm nhạc và triết lý[41] - còn tất cả những gì sót lại nơi cá
nhân mình, cái đống hỗn mang những khả năng, bản năng, khát vọng tôi đều coi là
phiền nhiễu và gán cho cái nhãn Sói Thảo Nguyên.

[41] Năm 16
tuổi Hesse đã đi học nghề; kiến thức ông có được là do tự học.

Tuy nhiên, sự thay đổi cách
suy nghĩ này về ảo giác của tôi, sự xóa bỏ này về nhân cách của tôi hoàn toàn
không phải một việc phiêu lưu thoải mái và thú vị; ngược lại nó thường vô cùng
đau đớn, thường gần như khôn kham. Cái máy quay đĩa thường vang lên thật khủng
khiếp ngay giữa môi trường này, nơi mọi thứ được bố trí hòa hợp với những thanh
âm khác hẳn. Và đôi lúc, khi tôi nhảy điệu Onestep giữa những kẻ chơi bời trác
táng và những kẻ khoe khoang bịp bợm thanh lịch trong một nhà hàng thời thượng,
tôi cảm thấy như đã phản bội lại tất cả những gì từng là đáng trọng và thiêng
liêng đối với mình trong đời. Giả dụ Hermine bỏ tôi lẻ loi chỉ tám ngày thôi,
hẳn tôi sẽ ngay lập tức thoát khỏi những trò thử gian lao và lố bịch nhằm trở
thành một kẻ ăn chơi phóng đãng. Nhưng Hermine lại luôn có mặt; tuy không phải
ngày nào tôi cũng gặp nàng, nhưng nàng luôn theo dõi, hướng dẫn, giám sát, kiểm
định tôi - nàng mỉm cười, vì đọc được cả những ý tưởng phản kháng dữ dội và
trốn chạy trên gương mặt tôi.

Cùng với sự hủy hoại dần dần
cái mà trước đây tôi gọi là nhân cách của mình, tôi cũng bắt đầu hiểu tại sao
bất chấp mọi tuyệt vọng mình lại phải sợ chết khủng khiếp đến thế và bắt đầu
nhận ra rằng ngay cả sự sợ hãi đến mức kinh tởm và hèn hạ này trước cái chết
cũng là một phần sự hiện hữu trưởng giả, giả dối trước kia của tôi. Cái ông
Haller này, cho đến nay là nhà văn có năng khiếu, kẻ am hiểu Mozart và Goethe,
tác giả của những chiêm nghiệm đáng đọc về sự siêu hình của nghệ thuật, về
thiên tư và sự bi thảm, về nhân loại, nhà ẩn cư sầu muộn trong căn phòng đầy
sách vở của mình, đã buộc phải tự phê bình từng điểm một và chẳng điểm nào
không thiếu sót. Cái ông Haller tài hoa và lôi cuốn này tuy đã rao giảng về lý
trí và lòng nhân đạo, đã phản đối sự tàn bạo của chiến tranh, nhưng trong lúc
thế giới chém giết lẫn nhau ông lại không chịu để bị lôi ra xử bắn nơi pháp
trường, như đúng ra đó là hệ quả tất nhiên từ những tư tưởng của ông, mà lại
tìm ra một giải pháp thích nghi nào đấy, đương nhiên hết sức đúng đắn và cao
cả, song dẫu sao vẫn chỉ là nửa vời thôi. Ngoài ra, ông còn là kẻ thù của quyền
lực và sự bóc lột, nhưng ông lại gửi ngân hàng nhiều cổ phiếu của các hãng kỹ
nghệ và ông cứ việc tiêu pha số tiền lãi từ các cổ phiếu ấy mà chẳng hề thấy
lương tâm cắn rứt. Mọi chuyện khác cũng đều như thế. Tuy Harry Haller đã giả
trang tuyệt vời thành kẻ có lý tưởng, kẻ khinh miệt thế gian, thành kẻ ẩn xư âu
sầu và nhà tiên tri phẫn nộ, nhưng thực chất hắn là một kẻ trưởng giả, coi lối
sống như của Hermine là đáng chê trách, hắn bực dọc vì những đêm uổng phí trong
quán ăn, về những đồng tiền hắn đã vung vít cũng chính ở đấy, hắn bị lương tâm
cắn rứt nhưng lại hoàn toàn không khao khát sự giải thoát và toàn thiện, mà
ngược lại vô cùng khao khát trở về với quãng đời thoải mái trước kia, khi những
trò trí thức vặt vãnh của hắn còn khiến hắn thú vị và đem lại cho hắn vinh
quang. Y hệt như vậy, những độc giả nhật báo bị hắn khinh miệt và nhạo báng
cũng khao khát quay về với thời kỳ lý tưởng trước chiến tranh, vì như thế thoải
mái hơn là học hỏi từ những điều họ đang phải hứng chịu. Trời đánh thánh vật
lão Haller này, hắn làm tôi muốn nôn mửa! Tuy thế tôi vẫn bám chặt lấy hắn hay
đúng hơn bám vào cái mặt nạ đã rã rời của hắn, vào thói làm duyên làm dáng của
hắn với trí tuệ, vào nỗi sợ hãi kiểu trưởng giả của hắn trước sự hỗn loạn và
ngẫu nhiên (cái chết cũng thuộc vào đây), và tôi so sánh một cách giễu cợt và
đầy đố kỵ tay Harry mới hình thành này, cái gã vụng về hơi nhút nhát và lố bịch
của các phòng khiêu vũ, với hình ảnh lý tưởng giả dối trước kia của hắn, trên
đấy hắn đã phát hiện - sau lần ở nhà ông giáo sư - chính mọi đặc điểm đáng căm
ghét mà ngày đó tấm hình Goethe đã khiến hắn vô cùng bực bội. Chính hắn, tay
Harry trước đây, từng y hệt một ông Goethe được lý tưởng hóa kiểu trưởng giả
như thế, một người hùng của trí tuệ như thế với ánh mắt rất mực quý tộc, sáng
ngời - như được phết dầu láng - sự cao cả, đầu óc sắc sảo, lòng nhân đạo và gần
như mủi lòng trước chính tâm hồn quý phái của mình! Quỷ thần ơi, hình ảnh đẹp
đẽ này chẳng may đã lỗ chỗ thảm hại, cái ông Haller lý tưởng này đã bị hạ bệ
thảm thương! Trông hắn cứ như một kẻ quyền cao chức trọng bị lũ cướp đường trấn
lột sạch, còn mỗi cái quần te tua; lẽ ra hắn nên khôn ngoan học đóng vai kẻ lam
lũ rách rưới, nhưng hắn lại cứ khoác mớ giẻ rách ấy như thể trên đó vẫn lủng
lẳng huân chương và tiếp tục nức nở đòi lại phẩm cách đã mất.

Tôi thường hay gặp lại gã
nhạc công Pablo nọ; chính vì Hermine quá mến y, thiết tha bầu bạn với y, nên
tôi phải xét lại đánh giá của mình về y. Ấn tượng Pablo đã để lại trong tôi là
một con số không xinh xắn, một gã đẹp trai nhỏ nhắn, kiêu căng đôi chút, một
đứa trẻ vui nhộn và không gây phiền toái, hớn hở thổi chiếc kèn trompet ở chợ
phiên, dễ bảo nếu biết cách phỉnh phờ hoặc dùng bánh kẹo. Nhưng Pablo không
quan tâm đến nhận xét của tôi; y dửng dưng về chuyện ấy cũng như đối với những
lý thuyết về âm nhạc của tôi. Y lịch sự và thân mật nghe tôi nói, thường xuyên
mỉm cười, nhưng không bao giờ trả lời nghiêm túc. Mặc dù vậy, chừng như tôi đã
khơi được sự chú ý của y, vì rõ ràng y cố gắng làm tôi vui lòng và tỏ ra thiện
cảm với tôi. Có lần, khi tôi bực mình và gần như lỗ mãng tại một trong những
buổi trò chuyện chẳng tới đâu ấy, y sửng sốt và buồn bã nhìn vào mặt tôi, nắm
lấy bàn tay trái của tôi vuốt ve, rồi móc gì đấy từ một chiếc hộp nhỏ mạ vàng
mời tôi hít, bảo rằng nó sẽ làm tôi dễ chịu. Tôi đưa mắt hỏi Hermine, nàng gật
đầu nên tôi đã nhận và hít thử. Quả thật chỉ lát sau tôi liền thấy tỉnh táo và
sinh động hơn, chắc hẳn trong thứ bột ấy có cocain. Hermine kể với tôi rằng
Pablo có nhiều loại thuốc như thế này, nhận qua những lối bí mật; thỉnh thoảng
y đem mời bạn bè; y là bậc thầy trong việc trộn và định liều lượng: thuốc để
giảm đau, để ngủ, để tạo những giấc mơ đẹp, để tinh thần vui tươi và để kích
động tình yêu.

Có lần tôi gặp y ngoài
đường, trên bến cảng, y nhập bọn với tôi ngay, không dùng dằng. Rốt cuộc, lần
ấy tôi đã khiến y chịu nói.

“Ông Pablo này,” tôi nói
trong lúc y đang nghịch với một cây ba toong mảnh dẻ màu đen ánh sắc bạc, “ông
là bạn của Hermine, đấy chính là lý do khiến tôi chú ý đến ông. Nhưng phải nói
rằng ông đã không tạo điều kiện dễ dàng để tôi cùng ông trò chuyện. Tôi đã
nhiều lần thử nói với ông về âm nhạc - tôi muốn được nghe ý kiến, phản bác,
nhận xét của ông; nhưng ông không thèm trả lời tôi dù chỉ một lời.”

Y chân thành cười và lần này
không tránh né mà bình thản đáp: “Thưa ông, theo ý tôi thì trò chuyện về âm
nhạc chẳng có ý nghĩa gì. Tôi không bao giờ nói về âm nhạc. Thế thì tôi nên trả
lời gì đây về những lời lẽ rất thông minh và xác đáng của ông? Mọi điều ông nói
ra đều rất có lý. Nhưng ông thấy đấy, tôi là một nhạc công, không phải bậc trí
giả và tôi tin rằng việc có lý trong âm nhạc chẳng có chút giá trị nào. Trong
âm nhạc, việc có lý hay có khiếu thẩm mỹ hoặc có học vấn và đủ mọi thứ chẳng
đáng kể gì.”

“Ra thế. Nhưng như vậy cái
gì mới đáng kể?”

“Phải chơi nhạc, ông Haller
ạ, phải chơi thật nhiều, thật hết mình! Thế đấy, thưa Monsieur[42].
Nếu trong đầu tôi chứa toàn bộ tác phẩm của Bach và Haydn và tôi có thể nói
thao thao bao điều thông thái về chúng, thì cũng chẳng giúp ích được ai. Nhưng
khi lôi cây kèn của mình ra, chơi liên miên một bài Shimmy, thì dù dở hoặc hay,
nó chắc chắn vẫn làm cho người ta vui, nó thấm vào máu họ, khiến chân họ rậm
rật. Chỉ điều đó mới đáng kể. Ông cứ nhìn thử một lần những khuôn mặt trong
phòng khiêu vũ vào lúc tiếng nhạc trỗi lại sau một lúc nghỉ khá dài mà xem -
ông sẽ thấy chúng tươi cười, thấy những cặp mắt sáng lên, những đôi chân rậm
rật như thế nào! Chính vì điều ấy nên người ta chơi nhạc!”

[42] Monsieur (tiếng Pháp
trong nguyên tác): ông.

Báo cáo nội dung xấu