Sói thảo nguyên - Chương 08
[13] Loại chim lông sặc sỡ ở
một số rừng nhiệt đới Á châu.
Ta thử hình dung một khu
vườn với hàng trăm loại cây, hàng nghìn loại hoa, hàng trăm loại trái, hàng
trăm loại rau cỏ. Giả dụ người làm vườn chỉ phân biệt nổi chúng thành loại “ăn
được” và “cỏ dại”, thì y sẽ chẳng biết nên làm gì với chín phần mười thửa vườn,
y sẽ nhổ phăng những bông hoa tuyệt trần nhất, sẽ đốn trụi những cây quý nhất,
hoặc sẽ ghét bỏ và lườm nguýt chúng. Sói Thảo Nguyên cũng cư xử y như thế với
hàng nghìn đóa hoa trong tâm hồn hắn. Cái gì không thích hợp với phạm trù “con
người” hoặc “sói” hắn đều không nhìn thấy. Và còn có gì mà hắn chẳng xếp vào
cho “con người”! Tất cả những trò hèn nhát, ngớ ngẩn như khỉ, mọi trò ngu muội
và bần tiện hắn đều gán cho “con người”, miễn không có vẻ sói, cũng như hắn quy
cho con sói mọi thứ mạnh mẽ và cao quý, chỉ vì hắn chưa thành công trong việc
làm chủ được nó.
Chúng ta tạm biệt Harry ở
đây, để mặc hắn một mình đi tiếp con đường của hắn. Giả thử hắn tới được cõi
những người bất tử rồi, giả thử hắn đã đạt đến đích mà con đường khó nhọc của
hắn dường như hướng tới thì hắn sẽ kinh ngạc ra sao khi nhìn lại con đường
quanh co khúc khuỷu mà hắn đã hết đi tới lại đi lui, lung tung, do dự và hắn sẽ
động viên, trách mắng, cảm thông, cười cợt con sói ấy như thế nào!
Đọc xong, tôi sực nhớ mấy
tuần trước có lần đã viết một bài thơ khá kỳ lạ cũng nói về Sói Thảo Nguyên,
nên lục tìm trong đống giấy má trên cái bàn đầy nhóc. Thấy rồi tôi liền đọc:
Ta, Sói Thảo Nguyên, ruổi
rong, rong ruổi
Thế gian đầy tuyết,
Từ cây bạch dương con quạ vỗ
cánh bay lên,
Nhưng chẳng thấy đâu một
bóng thỏ, một dáng nai!
Ta vốn khoái nai tơ,
Phải chi vớ được một con!
Ta sẽ ghì nó trong nanh,
quặp nó trong chân,
Chẳng còn gì tuyệt vời hơn
thế.
Ta sẽ hết lòng trân trọng
con thú yêu kiều,
Ta bập thật sâu vào bắp chân
mảnh khảnh,
Uống no nê dòng máu đỏ tươi,
Để rồi sau đó ta cô đơn tru
suốt đêm trường.
Dù chỉ vớ được một con thỏ
thôi, ta cũng hài lòng,
Trong đêm tối, thịt nó ấm
nên vẫn ngọt.
Chao ơi, chẳng lẽ mọi thứ
đều đã rời bỏ ta,
Những thứ khiến cuộc đời vui
thêm chút ít?
Lông đuôi ta đã bạc rồi,
Mắt ta cũng không còn thật
tinh tường nữa,
Vài năm trước vợ yêu của ta
đã lìa đời.
Giờ đây ta lang thang và mơ
đến những con nai,
Lang thang và mơ đến những
con thỏ,
Nghe gió hú trong đêm đông,
Ta nuốt tuyết hầu làm dịu
họng ta cháy bỏng,
Và mang cho quỷ dữ linh hồn
khốn khổ của ta.
Thế là tôi có trong tay hai
bức chân dung của chính mình, một bức tự họa qua những vần thơ nghe như chọc
vào tai, buồn rầu và hãi sợ như bản thân tôi, bức kia lạnh lùng, mang vẻ hết
sức khách quan của một kẻ ngoài cuộc, nhìn từ bên ngoài lẫn bên trên, viết do
một người biết nhiều song lại ít hơn tôi biết về chính mình. Cả hai bức chân
dung này, bài thơ u buồn, ấp a ấp úng của tôi lẫn bài khảo cứu sáng suốt của
một kẻ ẩn danh, đều làm tôi đau đớn; cả hai bài đều chí lý, đều lột trần sự
hiện hữu thê lương, đều vạch rõ tình trạng khôn kham và bất ổn của tôi. Gã Sói
Thảo Nguyên này phải chết, hắn phải tự tay kết liễu sự hiện hữu đáng ghét của
mình hoặc - do tan chảy trong lò lửa luyện ngục của sự tái chiêm nghiệm mình -
hắn phải biến cải, gỡ bỏ mặt nạ và thực hiện công cuộc trở thành một Cái Tôi
mới. Chao ơi, quy trình này nào phải mới mẻ hay xa lạ gì đối với tôi; tôi biết
nó mà, tôi đã trải qua nhiều lần rồi, lần nào cũng đều trong những giai đoạn
tuyệt vọng tột cùng. Lần nào Cái Tôi ở thời kỳ ấy cũng vỡ tan thành muôn mảnh,
khi sự cố bị đào xới tàn tệ; lần nào nó cũng đều bị những sức mạnh sâu kín lung
lay và hủy hoại, lần nào cũng có một khoảng đời được chăm chút và đặc biệt yêu
dấu của tôi phản bội tôi, bỏ đi không tăm tích. Một lần tôi đã mất đi cái thanh
danh trưởng giả cùng tài sản của mình và đã phải học khước từ lòng kính trọng
của những kẻ cho đến lúc ấy vẫn ngả mũ chào tôi. Một lần khác, chỉ trong một
đêm cuộc sống gia đình của tôi sụp đổ; người vợ bị bệnh tâm thần của tôi[14] đã
xua đuổi tôi ra khỏi mái nhà êm ấm; tình yêu và lòng tin cậy đột nhiên biến
thành thù hận và cãi nhau chí tử; láng giềng nhìn theo tôi thương hại và khinh
bỉ. Sự cô đơn của tôi bắt đầu từ ngày ấy. Rồi sau nhiều năm, sau nhiều năm vô
cùng cay đắng, trong sự cô đơn ghê gớm và kỷ luật tự giác gian khổ tôi xây dựng
được cho mình một cuộc sống cùng lý tưởng khổ hạnh và trí thức mới, đời tôi đã
lại đi lên và đạt một mức bình yên nào đấy, tôi say mê luyện tập suy nghĩ trừu
tượng và nhập định theo quy tắc nghiêm ngặt, thì cung cách sống mới này cũng
lại sụp đổ và đột nhiên mất đi ý nghĩa cao cả của nó; tôi lại bị lôi kéo vào
những chuyến du lịch rất căng thẳng trên thế gian này, đau khổ mới và tội lỗi
mới chất chồng. Và lần nào cũng thế, trước khi một mặt nạ bị lột bỏ, một lý
tưởng sụp đổ, tôi đều phải trải qua tình trạng trống rỗng và thanh thản rùng
rợn này, sự siết chặt chết người, nỗi cô đơn và sự không có quan hệ này, cái
địa ngục hoang vu trống trải này của sự không có tình yêu và tuyệt vọng, như
giờ đây tôi lại phải vượt qua.
[14] Năm 1919, người vợ đầu
của Hesse bị bệnh tâm thần phân liệt.
Không thể phủ nhận là cứ mỗi
khi cuộc đời mình bị chấn động như thế thì rốt cục tôi cũng đều đã đạt được
chút gì đấy, một chút tự do, trí tuệ, thâm trầm, cả sự cô quạnh nữa, cả tình
trạng không ai hiểu mình và sự nguội lạnh. Nhìn từ phía kẻ trưởng giả thì cuộc
đời tôi sa sút không ngừng, từ lần chấn động này qua lần chấn động khác, ngày
càng cách xa cái bình thường, cái được phép, cái lành mạnh. Suốt nhiều năm tôi
trở thành kẻ vô nghề nghiệp, không gia đình, không quê hương, sống bên ngoài
mọi phe nhóm, mọi giới xã hội, đơn độc, chẳng ai yêu thương, bị nhiều kẻ nghi ngờ,
không ngừng xung đột gay gắt với công luận cùng đạo đức và mặc dù vẫn sống
trong khuôn khổ trưởng giả, tôi vẫn là kẻ xa lạ ngay giữa thế giới này do tất
cả cách rung cảm và suy nghĩ của mình. Tôn giáo, Tổ quốc, gia đình, Nhà nước
đều đã mất giá trị đối với tôi và chẳng liên quan gì tới tôi nữa; sự quan trọng
hóa của khoa học, của những phường hội, của các nghệ thuật làm tôi ghê tởm;
những quan điểm của tôi, những thị hiếu, mọi suy nghĩ của tôi, những điều ngày
trước từng khiến tôi nổi bật là một kẻ tài hoa và được hâm mộ, nay bị nghi ngờ,
trở nên tàn lụi. Cứ cho là tôi đã gặt hái được một điều gì vô hình và không thể
cân đong qua mọi cuộc hóa thân đau khổ đến thế của mình, thì tôi cũng đã phải
trả giá đắt và cuộc đời tôi càng trở nên gian khổ hơn, khó khăn hơn, cô đơn hơn
và hiểm nghèo hơn từ lần này qua lần khác. Thật ra tôi chẳng có lý do gì để ước
mong tiếp tục theo con đường này, nó chỉ dẫn tôi tới những bầu không khí loãng
hơn, giống như làn khói trong bài thơ Herbstlied - Ca khúc mùa thu của
Nietzsche.
À vâng, tôi biết những sự
kiện này, những sự hóa thân này, những thứ mà định mệnh dành cho bầy con đã gây
cho nó nhiều lo âu, bầy con khó nuôi của nó, tôi biết chúng rõ lắm. Tôi biết
chúng như một kẻ đi săn, đầy tham vọng nhưng thất bại, có thể biết về những
chặng đường của cuộc săn, như một người chơi chứng khoán lão luyện có thể biết
về những giai đoạn của việc đầu cơ, của lợi nhuận, của thị trường bất ổn, của
biến động giá cả và của sự phá sản. Tôi có nên thực sự trải qua một lần nữa mọi
điều ấy không? Lại trải qua mọi giày vò ấy, mọi cùng quẫn kinh hoàng ấy, mọi
điều trông thấy về sự thấp hèn và vô tích sự của bản ngã tôi, mọi khủng khiếp
trước sự thua cuộc, mọi sợ hãi trước cái chết? Chẳng phải là khôn ngoan và đơn
giản hơn ư, khi ta lẩn tránh? Hẳn rồi, như thế là khôn ngoan và đơn giản hơn.
Mặc cho những điều viết về những “kẻ tự sát” trong tập sách mỏng về Sói Thảo
Nguyên đúng hay sai, không ai có thể ngăn cản tôi thú vui dùng thán khí, dao
cạo hay súng ngắn để khỏi phải lập lại một quy trình mà quả thật tôi đã phải
nếm trải quá thường và quá nhiều sự giày vò cay đắng của nó. Không, quỷ thần
ơi, chẳng thế lực nào trên thế gian này có thể đòi hỏi tôi phải chịu đựng thêm
lần nữa những ớn lạnh chết người của cuộc gặp gỡ chính mình, thêm một lần tái
tạo mới, một sự đầu thai mới mà mục tiêu và cứu cánh của nó không phải là yên
bình và thư thái, mà luôn chỉ là sự tự hủy diệt mới, luôn chỉ là sự tự tạo dựng
mới! Mặc cho việc tự sát là ngu xuẩn, hèn nhát và đáng khinh, mặc cho nó là một
lối thoát không vẻ vang và đầy nhục nhã, để ra khỏi luyện ngục của sự đau khổ
này thì mọi lối thoát, dù hèn hạ nhất cũng đáng được tha thiết ước ao; nơi đây
không còn chỗ nào nữa cho vở kịch mang tính hào hiệp cao thượng và chủ nghĩa
anh hùng, nơi đây tôi bị đặt trước một chọn lựa đơn giản giữa sự đau đớn nhỏ
nhoi, thoáng qua và nỗi khổ đau vô hạn, nóng bỏng không tưởng tượng nổi. Trong
cuộc đời gian khổ và cuồng điên đến thế của mình tôi đã quá thường đóng vai Don
Quichotte[15] cao quý, đã chuộng danh dự hơn thoải mái, chủ
nghĩa anh hùng hơn lý trí. Đủ rồi và phải chấm dứt thôi!
[15] Nhân vật chính trong
tiểu thuyết cùng tên nổi tiếng của nhà văn Tây Ban Nha Miguel de Cervantes
Saavedra (1574-1616).
Cuối cùng, khi tôi đi nằm,
buổi sáng đã lấp ló qua khung kính cửa sổ, cái buổi sáng màu chì, đáng nguyền
rủa của một ngày mưa gió mùa đông. Tôi mang theo vào giường điều quyết định của
mình. Nhưng tệ hại thay, đúng lúc tôi vừa thiếp đi, thì ở ranh giới cuối cùng
của ý thức, cái đoạn lạ lùng nói về “những kẻ bất tử” chợt lóe lên một tích tắc
trong tôi, khiến tôi nhớ lại trong chớp mắt rằng thỉnh thoảng - và vừa mới đây
thôi - tôi cảm thấy đã đủ gần những kẻ bất tử để cùng thưởng thức trong một
nhịp của khúc nhạc cổ điển tất cả sự thông tuệ lạnh lùng, sáng láng cùng nụ
cười khắt khe của họ. Điều tôi nhớ lại ấy hiện ra, ngời sáng, rồi tắt ngấm và
giấc ngủ đè lên trán tôi như một quả núi nặng nề.
Quãng gần trưa tôi thức dậy
thì cái tình trạng đã được làm sáng tỏ kia lại ập ngay đến với tôi; tập sách
nhỏ cùng với bài thơ của tôi nằm trên chiếc bàn ngủ; cái quyết định - đã định
hình trọn vẹn và chắc chắn trong giấc ngủ hồi đêm - vui vẻ và điềm tĩnh nhìn
tôi từ sự hỗn loạn trong cuộc sống mới đây của tôi. Gấp gáp nhưng không vội
vàng! Quyết định tự sát của tôi không phải chuyện bốc đồng trong một giờ, mà là
một trái chín, để lâu được; nó lớn từ từ và nặng dần, khẽ đung đưa theo ngọn
gió định mệnh và sẽ rụng rơi trong làn gió sắp tới.
Tôi có trong túi thuốc du
lịch một phương tiện tuyệt vời để làm dịu đớn đau: thuốc phiện được pha chế cực
mạnh mà tôi thường giữ cả tháng, rất hiếm khi dám đụng tới; tôi chỉ dùng thứ
thuốc gây mê nặng này khi bị những đau đớn thể xác hành hạ tới mức chịu không
nổi. Nhưng tiếc thay nó lại không thích hợp để tự tử; nhiều năm trước tôi đã có
lần thử rồi. Hồi đó, khi lại bị tuyệt vọng bủa vây, tôi đã nuốt một lượng kha
khá, đủ để giết sáu người, thế mà nó chẳng giết được tôi. Tuy tôi có thiếp đi
và hoàn toàn mê man trong nhiều giờ, nhưng cực kỳ thất vọng khi mơ màng tỉnh
dậy vì bao tử quặn thắt dữ dội, tôi nôn ra hết thứ thuốc độc kia, song không
tỉnh hoàn toàn và lại thiếp đi; mãi trưa hôm sau mới tỉnh hẳn, tỉnh táo khủng
khiếp, đầu óc trống rỗng, cháy rụi và hầu như mất sạch trí nhớ. Nhưng chất độc
này chẳng để lại di chứng nào, trừ một thời kỳ tôi bị mất ngủ và những cơn đau
bao tử làm tình làm tội.
Nghĩa là không thể dùng thứ
thuốc ấy được rồi. Nhưng bây giờ tôi quyết định cụ thể như sau: ngay khi lại
xảy ra tình trạng khiến phải dùng đến thứ thuốc chế biến từ nha phiến này, thì
thay vì một sự giải thoát ngắn ngủi tôi sẽ cho phép mình nhâm nhi sự giải thoát
lớn, đó là cái chết, và phải là một cái chết đảm bảo, chắc chắn, bằng một viên
đạn hay lưỡi dao cạo. Như thế tình trạng đã sáng tỏ! Phải chờ đến sinh nhật thứ
năm mươi của mình, theo cái cách kỳ dị của tập sách về Sói Thảo Nguyên, tôi
thấy thật quá lâu, còn những hai năm nữa! Dù thực hiện quyết định này trong một
năm, trong một tháng hay ngay ngày mai thì cánh cửa cũng đã rộng mở rồi!
Tôi không thể nói rằng
“quyết định” này đã thay đổi nhiều cuộc đời mình. Nó khiến tôi thờ ơ hơn đôi
chút trước những đau đớn, bệnh tật, ít ưu tư hơn khi dùng thuốc phiện và rượu,
tò mò hơn một chút về giới hạn của sự chịu đựng, tất cả chỉ có thế. Những sự
kiện khác tôi đã trải qua buổi tối hôm ấy mới thật có hậu quả mạnh hơn. Thỉnh
thoảng tôi vẫn đọc lại hết tập luận thuyết về Sói Thảo Nguyên, khi thì say mê
và với lòng hàm ơn như thể biết có một nhà ảo thuật vô hình hướng dẫn định mệnh
của tôi một cách sáng suốt, lúc lại chế giễu và khinh miệt sự nhạt nhẽo của tập
luận thuyết mà theo tôi nó dường như không hiểu tâm trạng và căng thẳng đặc
biệt của tôi. Những điều viết trong ấy về lũ sói thảo nguyên và những kẻ tự sát
có thể rất hay ho và sáng suốt đấy, đúng cho chủng loại đó, mẫu người đó, quả
là một sự trừu tượng đặc sắc; còn ngược lại, theo tôi thấy, cái lưới thưa như
thế thật khó chụp bắt nổi cá nhân tôi, tâm hồn thật sự cùng số phận độc nhất cá
biệt của tôi.
Nhưng điều khiến tôi bận tâm
trí hơn mọi điều khác là cái ảo giác trên bức tường ngôi nhà thờ nọ, là lời
tuyên cáo đầy dự báo của những chữ bằng ánh sáng nhảy nhót lung linh phù hợp
với những ám dụ của tập luận thuyết. Ở đó tôi đã được hứa hẹn nhiều, những
giọng nói của cái thế giới xa lạ nọ đã khơi dậy mãnh liệt trí tò mò của tôi,
tôi thường đắm chìm hàng giờ ngẫm nghĩ về nó. Và lời cảnh báo của hàng chữ ấy
không ngớt nói với tôi mỗi lúc một rõ ràng hơn: “Không phải ai muốn vào xem
cũng được!” và “Chỉ dành cho những người điên!” nghĩa là tôi phải điên và khác
biệt hẳn “bất cứ ai” nếu những tiếng nọ đến được với tôi và những thế giới nọ
nói được cùng tôi. Chúa ơi, chẳng lẽ tôi chưa xa cách đủ với đời sống của mọi
người, với sự hiện hữu và tư duy của những kẻ bình thường từ lâu rồi ư, chẳng
lẽ tôi chưa tách biệt và quá điên rồ từ lâu rồi ư? Vậy mà tôi hiểu rất rõ trong
tận đáy lòng lời kêu gọi kia, lời đòi hỏi trở thành kẻ điên, vất bỏ lý trí,
ngần ngại, lối sống trưởng giả, hiến mình cho thế giới buông thả không bị kềm
tỏa của tâm hồn, của trí tưởng tượng.
Một ngày nọ, sau khi uổng
công thêm một lần nữa lùng khắp các đường phố cùng quảng trường tìm kiếm người
đàn ông vác thanh gỗ gắn tấm bích chương, sau nhiều lần tạt qua bức tường với
cái cổng vô hình và để ý rình, tôi gặp ở khu ngoại ô St.Martin một đám ma. Khi
quan sát những gương mặt của tang chúng lê bước sau chiếc xa hòm, tôi nghĩ: “Trong
thành phố này, trong thế gian này, đâu là kẻ mà cái chết của người ấy sẽ là một
mất mát đối với ta? Và đâu là kẻ mà cái chết của ta sẽ có chút ý nghĩa nào đấy
với người đó?” Ờ thì, có Erika đấy, người tình của tôi; nhưng từ lâu rồi chúng
tôi sống trong mối quan hệ rất hời hợt, hiếm khi gặp nhau mà không cãi vã và
bây giờ tôi chẳng biết đến cả nàng đang ở đâu. Thỉnh thoảng nàng tìm đến tôi,
hoặc tôi tới với nàng và vì hai chúng tôi đều là người cô đơn và khó tính,
trong tâm hồn và trong tâm bệnh thoảng có chút gì giống nhau, nên tuy vậy vẫn
còn giữ được sự gắn bó. Nhưng có thể nào nàng không thở dài nhẹ nhõm khi được
tin tôi chết chăng? Tôi không biết, cũng chẳng rõ cảm nhận của mình có đáng tin
cậy không. Người ta phải sống trong trạng thái bình thường và khả thể mới mong
biết gì đấy về những điều này.
Trong lúc đó, chiều theo
tính bốc đồng, tôi nhập vào đám tang và lững thững theo sau những người đang
đau buồn nọ tới nơi chôn cất, một nghĩa trang hiện đại, tráng xi măng, được
phép có lò thiêu cùng mọi thứ tiện nghi khác. Nhưng họ không thiêu kẻ quá vãng
này mà quan tài được hạ xuống trước một cái huyệt đơn sơ; tôi quan sát ông mục
sư cùng những kẻ kiếm ăn trên xác chết - các nhân viên của một xí nghiệp mai
táng - cử hành nghi lễ; vì cố nặn ra một vẻ thật trang trọng và sầu thảm, nên
họ đã ra sức đóng kịch; sự lúng túng và vẻ giả dối khiến họ đâm ra khôi hài;
tôi thấy những nếp gấp trên bộ đồng phục đen của họ chảy xuống và họ cố tạo một
bầu không khí buồn rầu để buộc những người đưa đám phải khấu đầu trước vẻ uy nghi
lẫm liệt của thần Chết. Nhưng chỉ hoài công, chẳng ai thương khóc, dường như
tất cả đều không thấy thiếu vắng người đã khuất. Cũng chẳng thuyết phục được ai
nảy chút lòng sùng tín, nên khi ông mục sư luôn miệng “thưa các tín hữu Cơ Đốc
giáo quý mến,” mọi khuôn mặt kinh doanh lầm lì của những thương gia, của những
chủ lò bánh mì cùng các bà vợ đều cúi gằm, cố nặn vẻ nghiêm trang, những bối
rối và giả trá; chẳng có gì khiến những khuôn mặt ấy lộ nét cảm kích hơn là
buổi lễ tang không chút thoải mái này chấm dứt sớm. Khi tang lễ kết thúc, hai
người đứng hàng đầu trong số các tín hữu Cơ Đốc giáo bắt tay ông mục sư, rồi họ
tới vệ cỏ gần đó cọ giày cho sạch lớp bùn nhão nhoét, thứ bùn mà họ đã chôn
người chết; gương mặt họ tức thì trở lại bình thường, ra dáng con người. Chợt
tôi thấy một người trong đám ấy có vẻ quen quen, dường như đó là người đàn ông
ngày nọ đã vác tấm bích chương và ấn vào tay tôi tập sách mỏng kia.
Đúng lúc tôi ngỡ là nhận ra
ông ta, thì ông ta quay người, cúi xuống kiểu
cách xắn chiếc quần đen lên
khỏi giày rồi nhanh nhẹn bước đi, cây dù kẹp dưới nách. Tôi chạy theo, bắt kịp,
gật đầu chào, nhưng dường như ông ta không nhận ra tôi.
“Hôm nay không có giải trí
buổi tối à?” Tôi vừa hỏi vừa nháy mắt, giống những kẻ đồng lõa biết được điều
bí mật vẫn làm với nhau. Nhưng đã lâu lắm rồi, từ cái thời tôi rành rẽ lối ra
hiệu bằng điệu bộ và nét mặt, lối sống của tôi đã khiến tôi gần như quên mất
thế nào là nói năng và trò chuyện, thành ra chính tôi cũng cảm thấy mình chỉ
nặn được một vẻ mặt nhăn nhó ngớ ngẩn.
“Giải trí buổi tối à?” Người
đàn ông vừa lầu bầu vừa nhìn tôi như một kẻ lạ hoắc. “Cha nội ơi, nếu có nhu
cầu thì cứ đến quán Đại Bàng Đen.”
Quả thật tôi không còn dám
chắc ông ta chính là người mình muốn tìm. Tôi thất vọng tiếp tục đi, chẳng rõ
tới đâu, không mục đích, nỗ lực hay nhiệm vụ nào. Cuộc đời cay đắng đến ghê
tởm; tôi cảm thấy sự chán ghét ngày một tăng đã từ lâu nay đạt tới cao điểm và
cuộc đời xua đuổi, ruồng bỏ tôi như thế nào. Tôi giận dữ chạy qua thành phố xám
xịt, thấy mọi thứ dường như toát ra mùi đất ẩm ướt và mùi mai táng. Không, ngày
chôn cất tôi sẽ không một con chim báo tử khoác áo thụng thầy tu nào lảm nhảm
những lời ủy mị với tín hữu Cơ Đốc giáo được phép đứng bên huyệt của tôi! Chao
ơi, mặc lòng tôi nhìn về đâu, mặc lòng tôi hướng suy nghĩ về đâu, chẳng nơi nào
chờ đợi tôi với niềm vui, không nơi nào vẫy gọi tôi, không nơi nào thoảng chút
hơi hướm của sự dụ dỗ; tất cả đều nồng nặc mùi hao mòn thối rữa, mùi thỏa mãn
tạm bợ hôi rình, tất cả đều cũ mèm, tàn tạ, xám ngoét, bơ phờ, kiệt quệ. Chúa
ơi, sao lại thế được? Sao tôi lại có thể lâm vào một hoàn cảnh như thế được -
tôi, gã thanh niên được chắp cánh, thi sĩ, bạn của những nữ thần thơ ca, kẻ
ngao du khắp thế gian, kẻ mộng mơ cuồng nhiệt? Làm thế nào mà nó luồn vào tôi
từ từ như thế được, cái sự tê liệt ấy, niềm thù hận ấy đối với bản thân tôi và
tất cả, sự tắc nghẽn ấy của mọi cảm giác, sự bất mãn sâu xa cay độc ấy, cái địa
ngục bẩn thỉu ấy của trái tim trống rỗng và niềm tuyệt vọng?
Lúc đi ngang qua thư viện,
tôi gặp một ông giáo sư trẻ mà trước đây tôi thỉnh thoảng vẫn trò chuyện, thậm
chí vài năm trước, trong lần cuối cùng cư ngụ tại thành phố này, tôi từng nhiều
lần đến tận nhà thăm, cùng ông mạn đàm về thần thoại phương Đông, một lĩnh vực
tôi rất quan tâm hồi đó. Đi ngược chiều tôi, nhà học giả dáng người cứng đơ và
cận thị khá nặng, chỉ kịp nhận ra tôi khi tôi sắp đi qua khỏi. Ông nhảy bổ vào
tôi với cả tấm chân tình, còn tôi nửa vui nửa không vì lòng đang rầu rĩ. Ông
mừng rỡ, sôi nổi hẳn lên, nhắc lại những chi tiết từ các buổi mạn đàm ngày
trước của chúng tôi, đoan chắc rằng ông rất hàm ơn những gợi ý của tôi và vẫn
thường nhớ đến tôi; kể từ dạo ấy ông ít khi có được những buổi tranh luận hào
hứng và phong phú đến thế với các đồng nghiệp. Ông hỏi tôi tới thành phố này
bao lâu rồi (tôi nói dối: mới vài ngày) và sao không đến thăm ông. Tôi nhìn vào
khuôn mặt học giả hiền lành của con người dễ mến ấy, thấy khung cảnh hơi nực
cười, nước dãi ứa đầy vòm họng khô khốc, tình cảm khiến hắn mềm lòng dù hắn
không muốn. Đúng thế, cho nên tôi mồm năm miệng mười nói dối rằng chỉ ở tạm đây
thôi, vì chuyện nghiên cứu, và tại trong người không khỏe, bằng không tất nhiên
thế nào tôi cũng đến thăm ông chứ. Rồi khi ông chân thành mời tôi thế nào cũng
phải đến chơi ngay buổi tối ấy, tôi liền cám ơn nhận lời và nhờ ông chuyển lời
chào đến bà vợ; việc nói cười hăm hở này khiến hai bên má tôi đau dần, vì chúng
không còn quen phải gắng sức như thế nữa. Và trong lúc tôi, Harry Haller này,
đứng đấy trên đường phố, hoàn toàn bất ngờ vì được tâng bốc nên đã lễ độ và vồn
vã mỉm cười với khuôn mặt hiền lành cận thị của con người dễ mến này, thì gã
Harry kia đứng ngay bên cạnh cũng cười luôn, gã vừa đứng vừa cười, nghĩ tôi
đúng là một thứ anh em quái gở, lươn lẹo và dối trá; mới hai phút trước tôi còn
nhe răng phẫn nộ với cả thế gian khốn kiếp, thế mà giờ đây chỉ nghe một tiếng
gọi, một lời chào hỏi vô thưởng vô phạt của một kẻ trưởng giả thật thà đáng
trọng đã liền cảm kích, hăm hở đồng tình và tận hưởng chút thiện cảm, sự trọng
thị và vẻ ân cần chẳng khác một con heo sữa đằm mình trong bùn. Hai gã Harry
này, hai nhân vật cực kỳ mất thiện cảm, đứng đối diện như thế đấy với ông giáo
sư lịch thiệp; chúng chế giễu nhau, xét nét nhau, nhổ toẹt trước mặt nhau và
một lần nữa tự hỏi, như từng luôn xảy ra trong những hoàn cảnh tương tự, rằng
đó đơn thuần là sự ngu muội và nhu nhược của con người, số phận con người nói
chung, hay tính ích kỷ ủy mị này, sự thiếu cá tính này, tính không nghiêm chỉnh
và lá mặt lá trái này của cảm giác chỉ là một khí chất riêng của lũ sói thảo
nguyên. Nếu thứ đê tiện này là của con người nói chung thì lòng khinh bỉ thế
giới của tôi có thể nhào lên nó với một sức mạnh mới; còn nếu đó chỉ là sự hèn
mọn của riêng tôi, thì đấy sẽ là dịp để tôi mặc sức tự khinh bỉ mình.

