Ngày mai - Phần III - Chương 10 phần 1

Phần
ba: Những vẻ bề ngoài

Ngày
thứ tư

10.
Bàn tay đưa nôi

Bàn tay đưa nôi là bàn tay thống trị thế giới.

William WALLACE

Boston

Ngày
22 tháng Mười hai 2010

11
giờ sáng

Thèm muốn.

Oán giận.

Ganh ghét.

Món cocktail cảm xúc mà Emma nếm trải khi lặng lẽ
chứng kiến hạnh phúc của gia đình Shapiro mang vị đắng cay.

Sáng Chủ nhật này, Matthew, vợ anh và cô nhóc Emily
đang dạo bước trên những lối đi tuyết phủ của Công viên Thành phố. Khu công
viên rộng rãi của Boston đang bị bao phủ dưới một lớp tuyết mỏng như rắc phấn
rơi từ lúc ngày vừa rạng. Trận tuyết đầu tiên của mùa đông đã khiến cảnh vật
trắng xóa và đem lại cho thành phố bầu không khí hội hè.

- Lại đây bố bế nào con yêu! - Matthew vừa hét vừa
nhấc bổng con gái lên để chỉ cho cô nhóc một con thiên nga lớn màu trắng bạc
đang đuổi theo một đàn vịt trên mặt nước hồ phẳng lặng.

Cách đó vài mét, ngồi trên một băng ghế, Emma quan
sát cảnh tượng mà không tìm cách giấu giếm sự có mặt của mình. Cô không thể bị
phát hiện bởi lẽ anh chàng “Matthew của năm 2010” chẳng hề biết mặt cũng như
biết đến sự tồn tại của cô. Cô gái thấy dường như tình huống éo le này vừa bất
khả thi vừa kích động. Nhờ chợp mắt được một chút mà cô cảm thấy bình tâm hơn
chút ít. Cô đã ngủ suốt đêm trên chuyến xe buýt Greyhound chạy tuyến Atlantic City - Boston. Hôm qua,
sau khi cô trúng giải độc đắc, ban quản lý sòng bạc đã bắt cô điền một số giấy
tờ. Một thủ tục cần thiết để tài khoản ngân hàng của cô nhận được số tiền cô đã
thắng bạc. Qua ô cửa kính khách sạn New Blenheim, cô nhìn thấy những bông tuyết
đầu tiên trên bầu trời Atlantic City. Vì không hề muốn lái xe hàng giờ liền
dưới làn tuyết rơi, cô đã giao lại chìa khóa chiếc xe thuê cho người gác cổng
khách sạn nơi cô bắt một chiếc taxi tới ga đường bộ, mua một vé xe buýt tới
Boston. Chiếc xe còn trống quá nửa rời Atlantic lúc 23 giờ 15. Tài xế cho xe
chạy với tốc độ ổn định suốt cả đêm. Cô gái đã mở hé mắt khi xe tạm dừng tại
Hartford và chỉ tỉnh hẳn khi chiếc Greyhound vượt qua cửa ô thủ phủ
bang Massachusetts vào lúc 8 giờ sáng.

Emma xuống xe tại Bốn Mùa, khách sạn lớn trông ra
công viên. Từ giờ trở đi, đó là điều cô có thể tự cho phép mình làm, với nhiều
triệu đô trong tài khoản. Cô đã gọi tới nhà hàng Thống Soái để báo mình bị ốm
và sẽ nghỉ làm cả tuần. Rồi cô đi tắm, mua vài thứ quần áo ấm tại cửa hàng
thuộc khách sạn sau đó ra bên ngoài để dạo bước trên những con phố quanh co của
khu Beacon Hill. Trong đầu cô không có kế hoạch cụ thể nào. Chỉ toàn những câu
hỏi. Cô có nên bắt chuyện với Matthew không? Để nói gì với anh? Và làm điều đó
như thế nào để không bị coi là một con điên?

Trước khi ra quyết định, cô muốn quan sát người đàn
ông đó. Cô biết địa chỉ nhà anh: một căn nhà mặt tiền ốp sành đỏ nằm ở ngã tư
quảng trường Louisburg giao phố Willow. Trên đường tới đó, cô bị hớp hồn trước
vẻ đẹp quyến rũ có một không hai của Beacon Hill. Khi dạo bước trên những vỉa
hè lát đá xiên xẹo, cô hình dung mình hóa thân vào một nhân vật nữ của Henry
James. Cả khu phố dường như ngưng đọng trong thế kỉ 19. Mặt trên các hàng quán
đều ốp gỗ sơn, những ngọn đèn đường chạy bằng khí đốt lan tỏa thứ ánh sáng của
một thời đại khác, trong khi những đường phố nhỏ hẹp chạy ngoằn ngoèo về phía
những khu vườn bí mật lấp ló vài tán cành sau những cánh cổng sắt rèn.

Cô dễ dàng tìm thấy ngôi nhà của gia đình Shapiro,
trang trí bằng những tràng hoa cùng những vành lá thông điểm thêm vài quả thông
và thắt dây ruy băng. Như đứng ngoài thời gian, cô đã đợi gần một tiếng đồng
hồ, với cảm giác duy nhất là mình đang sống dưới một quả cầu tuyết của thời thơ
ấu: một quả cầu thủy tinh khổng lồ mà người ta lắc trong đêm để một làn tuyết
lấp lánh rơi xuống những nếp nhà xây bằng gạch đỏ. Một mái vòm vô hình, bảo vệ
cô khỏi những cuộc tấn công và cơn điên loạn của thế giới…

Khoảng 10 giờ, cánh cửa bật mở và lần đầu tiên cô
nhìn thấy anh bằng xương bằng thịt. ANH, Matthew. Đầu đội chiếc mũ len, tay bế
con, anh thận trọng bước xuống những bậc thềm trơn nhẫy. Xuống đến bậc thềm
cuối cùng, anh vừa đặt Emily ngồi vào xe đẩy vừa lầm rầm hát cho cô bé nghe
đoạn điệp khúc của một bài đồng dao vui nhộn. Emma thấy anh còn quyến rũ hơn
những gì cô đã từng hình dung. Cô nhận ra ở anh nét đứng đắn, thẳng thắn và
vững vàng mà cô đã nhận thấy qua những bức mail anh gửi. Và cách anh chăm chút
cho con gái càng khiến anh thêm phần hấp dẫn.

Rồi cô nhận ra người ấy, CHỊ VỢ. Người phụ nữ kia là
Kate Shapiro. Một phụ nữ tóc vàng, vóc người cao ráo mảnh mai, không chỉ xinh
đẹp mà đơn giản là… hoàn hảo. Một vẻ đẹp cổ điển, hoàn toàn quý tộc, tỏa rạng
vầng hào quang của vẻ dịu dàng ở người mẹ và đầy huyền hoặc: đôi mắt to trong
vắt, hai gò má cao, một gương mặt với nước da sáng và đôi môi đầy đặn, búi tóc
hệt như nhân vật nữ trong phim của Hitchcook…

Sau khi đã ngấm đòn - Kate là mẫu phụ nữ nếu đứng
bên cạnh cô cảm thấy mình thật thảm hại - Emma đã bám theo gia đình nhỏ ấy đến
tận Công viên Thành phố, khu công viên như một gạch nối giữa Beacon Hill và
Back Bay.

- Nhìn này, con yêu! - Kate gọi con gái, chỉ cho cô
bé thấy một chú sóc đuôi xù đang di chuyển đằng sau một thân cây.

Cô bé leo ra khỏi xe đẩy để đuổi theo chú sóc nhưng
chỉ sau hai bước chạy, cô bé ngã sõng soài, sấp mặt xuống tuyết. Thấy phật ý
nhiều hơn là thấy đau, tuy vậy cô bé vẫn bật khóc nức nở.

- Thôi nào con yêu, lại đây với bố.

Matthew để cô bé ngồi lại vào xe đẩy rồi bộ ba tiếp
tục dạo chơi, băng qua phố Charles để tới Boston Common, nơi một sân trượt băng
được dựng lên trong những tháng mùa đông này. Để an ủi Emily, Kate mua một túi
hạt dẻ nóng ở chỗ người bán hàng rong. Họ cùng nhấm nháp hạt dẻ trong lúc quan
sát các tay trượt băng thực hiện thành thục những hình vẽ táo bạo hoặc ngã
phịch trên mặt băng. Trường hợp thứ hai khiến Emily đặc biệt thích thú.

- Nhìn những người khác ngã thì lúc nào cũng vui hơn
phải không cưng? - Người bố chọc cô bé.

Rồi họ chầm chậm di chuyển vào giữa bãi cỏ rộng
thênh thang nơi tập trung phần lớn những người đi dạo. Matthew công kênh con
gái trên vai mình. Đôi mắt sáng long lanh, cô bé ngắm nghía cây thông Giáng
sinh khổng lồ được trang trí tầng tầng lớp lớp mà hằng năm, thành phố Halifax vẫn
gửi tặng cho người dân Boston thể theo một truyền thống lâu đời.

Cách đó vài bước, Emma nhìn Emily không rời mắt. Đôi
mắt cô cũng lấp lánh hệt như cô bé con. Nhưng ngọn lửa cháy trong đó nhuốm màu
cay đắng.

Cô chưa từng biết đến niềm hạnh phúc gia đình này,
vẻ thanh thản toát ra từ họ, tình yêu đang tự do luân chuyển từ người này sang
người khác. Tại sao? Cô kém cạnh những người khác ở điểm nào mà không có được
niềm đại hạnh đó?

***

Boston

22
tháng Mười hai 2011

Giữa đêm

Mặc quần pyjama và áo phông của đội Red Sox, Matthew
bật hàng đèn chiếu viền quanh chiếc gương trong phòng tắm.

Không thể nhắm mắt. Cổ họng anh khô khốc, trống ngực
nện liên hồi và một cơn đau nửa đầu tồi tệ. Anh tìm hai viên thuốc giảm đau
trong tủ thuốc rồi nuốt chửng cùng một ngụm nước. Anh xuống cầu thang vào bếp.
Suốt ba tiếng qua anh trở mình liên tục trong giường, một ý nghĩ cứ bám riết
lấy anh. Một lẽ hiển nhiên dần dà thuyết phục anh. Một ý nghĩ điên rồ, quá hay
ho nên khó mà là thật, khiến anh chóng mặt: anh nên thử cố gắng bằng mọi cách
thuyết phục Emma ngăn chặn vụ tai nạn xảy ra cho Kate. Khi nghĩ đến khả năng
đó, một từ cứ trở đi trở lại trong tâm trí anh. Anastasis: người Hy Lạp dùng thuật ngữ này
để gọi tên hiện tượng người chết sống lại. Như trong một cuốn tiểu thuyết khoa
học viễn tưởng. Liệu có thực sự tồn tại cơ hội quay trở lại quá khứ để thay đổi
dòng đời của mình không nhỉ? Đó là một hi vọng mong manh, nhưng cũng là một cơ
may mà anh nên tận dụng triệt để.

Anh nghĩ tới giấc mơ điên rồ mà nhân loại đều mong
đạt được: ngược dòng thời gian, để sửa chữa những lầm lỗi của bản thân và những
bất công của cuộc đời. Anh nghĩ tới huyền thoại về chàng Orphée và tự thấy mình
trong lốt của nghệ nhân chơi đàn lia tìm đường xuống tận Âm phủ để van xin Diêm
vương trả lại cho mình người vợ quá cố. Kate là nàng Eurydice của anh, nhưng để
đưa cô trở về với cuộc sống, anh cần sự giúp đỡ của Emma Lovenstein đến tuyệt
vọng.

Trong bóng tối lờ mờ, anh bật dây đèn vách chạy dưới
kệ bằng gỗ sơn mài trong phòng bếp. Anh nhấc màn hình laptop lên, ngồi xuống
một chiếc ghế đẩu rồi viết cho Emma một bức mail nơi anh đã trút hết nỗi lòng
và gửi gắm toàn bộ niềm tin tưởng.

***

Boston

Ngày
22 tháng Mười hai 2010

Gia đình Shapiro đã rời bãi cỏ thuộc Boston Common
để di chuyển về phía Đông. Emma thận trọng bám theo, giữ khoảng cách hợp lý, cố
gắng xác định vị trí của mình và làm quen với thành phố. Boston lập tức khiến
cô thích thú: lịch sự hơn, văn minh hơn, đỡ thô ráp và nhộn nhạo hơn New York.
Ở mỗi ngã ba ngã tư đường, giữa kiến trúc cổ điển và lối xây dựng hiện đại,
dường như quá khứ và hiện tại hợp nhất trong một bản hòa âm êm tai.

Chẳng bao lâu sau, hương cà phê rang đã phảng phất
trong không khí khi North End - khu phố Ý - xích lại gần. Trên phố Hanover,
những khung cửa kính của các tiệm bánh ngọt và các tiệm bán đồ ăn chế biến sẵn
khiến khách hàng quen ứa nước miệng: pho phát mozzarella di
buffala,
actisô kiểu La Mã, bánh Gênes giòn tan, bánh struffoli ngọt
ngào mật ong, bánh cuộn cannoli ngồn ngộn kem tươi…

Matthew cùng vợ tay trong tay bước vào một nhà hàng
ốp kính toàn bộ, hẳn là nơi họ thường xuyên lui tới. The Factory là một nhà
hàng thời thượng với bầu không khí vừa gia đình, vừa sành điệu, khách quen của
nhà hàng bao gồm những sinh viên sành ăn và những ông bố bà mẹ trẻ trung vốn là
thị dân địa phương. Không kịp phản ứng, Emma theo chân họ bước vào nhà hàng rồi
gọi một bàn.

- Chị đi một mình thôi ư? - Nữ nhân viên phục vụ bàn
hỏi cô bằng giọng trách móc.

Emma gật đầu xác nhận. Lúc này vẫn còn sớm. Nhà hàng
bắt đầu đông dần nhưng rõ ràng vẫn còn chỗ.

- Chị cũng chưa đặt chỗ phải không ạ?

Lời trách móc thứ hai.

Lần này cô không trả lời, im lặng chịu đựng thái độ
kiêu căng của cô gái kia, vốn có các nét thanh tú, mái tóc dài cứng đờ và mặc
chiếc quần soóc siêu ngắn khoe cặp nhân tuổi đôi mươi.

- Chị làm ơn đợi một lát. Tôi sẽ xem liệu chúng tôi
còn bàn nào không?

Emma nhìn cô gái quay đi, băng qua phòng như thể
đang diễn trên sàn cat-walk. Để đỡ bối rối, cô tiến về phía quầy bar - một khối
phi brô xi măng với những chiếc ghế kim loại vây quanh - rồi gọi một ly
cocktail caipiroska.

Mặt trời đã lên cao. Một luồng sáng rực rỡ tràn ngập
căn phòng. Được bố trí thành nhiều tầng, nơi này nhắc Emma nhớ đến bầu không
khí của một vài quán bar New York, với một lối bài trí kiểu công nghiệp chuyên
dùng các sắc xám và gỗ mộc. Trên mặt quầy, một tảng giăm bông Parma tuyệt ngon
được bày như một tác phẩm nghệ thuật gần một máy xắt lát thủ công, trong khi ở
cuối phòng vang lên tiếng lửa cháy tí tách trong một lò nướng pizza cỡ lớn.

- Chị vui lòng đi theo tôi nhé, - cô nàng phục vụ
bàn đề nghị khi quay lại tìm cô.

Anh chàng phục vụ quầy bar nháy mắt ra hiệu cho Emma
rằng lát nữa anh ta sẽ mang ly cocktail cho cô ra tận bàn. May thay, cô được
xếp chỗ trên một băng ghế dài cách chỗ Matthew cùng vợ anh ta ngồi chưa tới
chục mét. Yên trí vì đã tìm được một vị trí quan sát lý tưởng, cô uống một hơi
cạn ly cocktail rồi gọi một ly khác kèm một suất cá tráp rưới nước xốt cải cay
cùng một chiếc pizzetta kèm actisô và cải lông.

Cô nheo mắt để quan sát nhà Shapiro kĩ hơn. Họ tạo
nên một gia đình hạnh phúc. Những câu chuyện đùa nổ như ngô rang, tâm trạng ai
nấy đều vui vẻ. Matthew làm hề cho con gái vui và Kate bật cười sảng khoái. Rõ
ràng là cặp đôi này được gắn kết với nhau bởi một thứ tình cảm đậm sâu và bền
chặt. Kiểu vợ chồng khiến người ta không khỏi thốt lên “họ thật xứng đôi”. Emma
quan sát tiếp cô nhóc Emily.

E-MI-LY. Ba âm tiết vang lên trong cô đầy lạ thường.
Trước giờ cô vẫn tự nhủ rằng đó chính là cái tên cô sẽ đặt cho
con gái mình nếu sau này làm mẹ. Sự trùng hợp này khơi lên một nỗi lo sợ và một
nỗi đau chưa lành sẹo.

Cô chưa từng nói với ai, kể cả với bác sĩ điều trị
tâm lý, nhưng trong vòng hai năm quan hệ gián đoạn với François, cô đã bí mật
cố gắng để mình đậu thai. Cô đã nói dối người tình, khiến gã tin rằng cô dùng thuốc
tránh thai. Nhưng ngược lại, cô tính hết sức chính xác các giai đoạn trong chu
kỳ của mình và mỗi lần có thể, cô lại quan hệ tình dục vào thời điểm thuận lợi.
Ban đầu, cô tự nhủ nếu mình sinh một đứa con cho François, gã sẽ quyết tâm bỏ
vợ. Rồi cô hiểu ra rằng chuyện đó không hề có chút tác động nào tới bản tính
thiếu quyết đoán của người tình, nhưng khát khao sinh con đã kịp bám rễ trong
cô.

Rủi thay, đứa trẻ hằng được mong đợi ấy chưa bao giờ
xuất hiện.

Cô đã không lo lắng quá mức. Nói cho cùng thì cô mới
có ba mươi ba tuổi. Nhưng một hôm, khi lật qua một tờ tạp chí Newsweek trong
lúc chờ khám bác sĩ tâm lý, cô đọc được một bài viết nhắc tới hiện tượng “mãn
kinh sớm”. Cô bị xáo trộn trước lời chứng của những phụ nữ cho thấy khả năng
sinh sản của họ đã bắt đầu suy giảm ngay khi bước vào lứa tuổi ba mươi. Thoạt
tiên, cô không có lý do đặc biệt để cảm thấy có liên quan: cô chưa bao giờ gặp
rắc rối với chu kỳ của mình và kinh nguyệt của cô đều đặn. Nhưng một nỗi lo âm
thầm đã giày vò cô sau khi đọc bài báo đó. Để quên đi những lo lắng này, rốt
cuộc cô đã mua một bộ thử nghiệm “đồng hồ sinh học” bán tại hiệu thuốc. Quy
trình hết sức nghiêm ngặt. Nó yêu cầu thực hiện lấy máu vào ngày thứ hai của kỳ
kinh. Sau đó mẫu được gửi tới phòng thí nghiệm để phân tích ba típ hoóc môn cho
phép đo lượng noãn bào và so sánh chúng với số lượng được trông đợi thông
thường ở một phụ nữ cùng lứa tuổi.

Một tuần sau thì Emma nhận được kết quả và phát hiện
ra rằng trữ lượng noãn bào ở cô tương đương trữ lượng noãn bào ở một phụ nữ hơn
bốn mươi tuổi! Điều phát hiện này khiến cô chán chường. Lẽ ra cô nên làm lại
thử nghiệm đó, hoặc đi khám phụ khoa; nhưng cô lại muốn chối bỏ thông tin ấy
hơn, và lúc này thì nó trở lại trong cô với sức mạnh hủy diệt của một chiếc
boomerang.

Emma nghe thấy nỗi sợ và nỗi giận dữ thình thịch
trong lồng ngực. Toàn bộ cơ thể cô run lên. Để gạt ký ức này sang một bên, cô
nhìn như đóng đinh vào chiếc bàn nơi gia đình Shapiro đang quầy quần.

Nhưng cơn giận dữ không thuyên giảm. Cô lại cảm thấy
cuộc đời đối với mình thật bất công, cô bị quấy nhiễu bởi những câu hỏi không
lời đáp. Tại sao một số người lại có được những cuộc hạnh ngộ thật đúng lúc
đúng chỗ? Tại sao một số người được hưởng tình yêu và có được một gia đình như
hậu phương vững chắc? Chuyện đó liên quan đến tài cán, đến cơ may, đến sự tình
cờ, đến số phận? Cô đã làm sai điều gì trong cuộc đời mình mà phải cô độc thế
này, dễ tổn thương thế này, và tuyệt đối tự ti thế này?

Cô ra hiệu cho người phục vụ dọn bàn dọn ghế rồi lấy
chiếc laptop ra khỏi túi xách. Boston là một thành phố có kết nối mạng cực tốt
và nhà hàng này đặt một trạm wifi cho khách hàng truy cập thoải mái. Cô mở hộp
thư ra kiểm tra, và đúng như cô trông đợi, cô đã nhận được một mail mới từ
Matthew.

Báo cáo nội dung xấu