Em phải đến Harvard học kinh tế - Chương 04 - Phần 1
CHƯƠNG 4
3 – 6 TUỔI: PHÁT TRIỂN TRÍ LỰC
TOÀN DIỆN
(Lời
tự thuật của Lưu Vệ Hoa)
--------------------------
CÓ NÊN NÓI VỚI ĐÌNH NHI VỀ VIỆC
BỐ MẸ ĐÃ LY HÔN?
Ăn
tối xong, ông bà ngoại lên đường đi Hồ Bắc, tôi và Đình Nhi cũng ngược dòng
Trùng Khánh trở về Thành Đô.
Suốt
dọc đường tôi luôn băn khoăn suy nghĩ: Có nên nói với Đình Nhi về chuyện bố mẹ
đã ly hôn hay không?
Với
khả năng quan sát của Đình Nhi, tôi không thể hi vọng rằng, nó sẽ có đủ khả
năng để quan sát sự khác biệt giữa gia đình mình với gia đình của các bạn nhỏ
khác. Suy nghĩ kĩ tôi cho là chỉ có thể theo nguyên tắc: làm thế nào để có lợi
nhất cho sự phát triển tâm lý lành mạnh của Đình Nhi. Theo kinh nghiệm bản
thân tôi thấy rằng, biết chuyện ly hôn của cha mẹ, tuổi càng nhỏ thì càng ít bị
tác động tâm lý hơn. Năm tôi mới 4 tuổi, tôi đã biết chuyện ly hôn của cha mẹ
tôi vì lúc lấy cha tôi bị kết tội “phần tử phái hữu phản cách mạng”. Trong tâm
lý ngày thơ của tôi, ly hôn là một việc lạ mà cũng rất bình thường. Nó lạ và
bình thường như mặt trời mọc vào buổi sáng và mặt trăng mọc về ban đêm. Anh
trai tôi lớn hơn tôi 2 tuổi, và em trai bé hơn tôi 3 tuổi tiếp nhận việc ly hôn
của cha mẹ cũng hồn nhiên như vậy. Thời “cách mạng văn hóa”, một số bạn bè tiểu học của tôi thường
chửi tôi là con của “một tên phản cách mạng”, và của “một người mẹ bỏ chồng”
lúc đó tôi chỉ thấy chúng nói đúng sự thật, không cảm thấy sự đau xót.
Nếu
lúc ấy đã 15 tuổi mà nghe người ta chửi mình, thì chắc rằng tôi sẽ hiểu được sự
thật về cha mẹ mình ly hôn, và sẽ đau khổ lắm. Tốt nhất cứ để cho Đình Nhi cũng
giống như mẹ nó ngày xưa, biết sự thật chuyện ly hôn của cha mẹ khi tuổi nó còn
chưa hiểu được “ly hôn là cái gì”, chắc rằng nó sẽ thấy bình thường như việc
mặt trời và mặt trăng mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây.
Vậy
nên nói với cháu thế nào đây?
Theo
kinh nghiệm bản thân, đối với trẻ thơ, thái độ của người lớn trước một sự việc
không vui bao giờ cũng có tác động mạnh hơn đối với tâm lý trẻ con so với thực
chất việc đó. Vì chuyện ly hôn của mẹ mà tôi đã tuyệt vọng đến mức mấy lần định
tự tử, nhưng trước mặt chúng tôi mẹ luôn tỏ ra bình tĩnh. Theo trí nhớ của tôi,
mẹ chưa bao giờ tỏ ra đau khổ và oán hận vì chuyện ly hôn. Chúng tôi cũng chưa
từng thấy những cảnh tượng khủng khiếp: cha mẹ cãi, đánh nhau. Trước đó cha tôi
đã bị đi tù, mẹ tôi và bà bảo mẫu – bà Diêu, không hề giải thích gì về chuyện
đó. Cứ như vậy, mẹ tôi đã bình tĩnh và mơ hồ tiếp nhận việc “ly hôn”, mà dường
như không hề cảm thấy cuộc sống của mình có gì thay đổi (khi đó ba anh em chúng
tôi đang ở nhờ nhà bà bảo mẫu họ Diêu). Giờ đây nhớ lại, tôi vô cùng biết ơn
mẹ: bà đã cô nén không để bóng đen của việc ly hôn bao trùm lên tâm hồn thơ dại
của chúng tôi. Đã vậy, tôi cũng sẽ bình tĩnh và mơ hồ thông báo chuyện ly hôn
này cho con gái tôi Đình Nhi, như mẹ tôi đã làm trước đây.
Quyết
định như vậy, khi con thuyền vừa rời khỏi đất Tam Hiệp, tôi đã nói chuyện ly
hôn của ba mẹ cho Đình Nhi với thái độ vô cùng bình tĩnh. Đúng như tôi dự đoán,
Đình Nhi tỏ vẻ không quan tâm lắm về những sự việc ngoài tầm hiểu biết của
mình. Sau khi nghe tôi nói: “Mẹ sẽ mãi mãi ở với Đình Nhi”. Con gái tôi không
hỏi gì thêm. Đối với Đình Nhi, chỉ cần ngày ngày được sống bên người thân yêu,
được nghe mẹ kể chuyện và dạy bảo, là đã thỏa mãn lắm rồi.
Đối
với tôi, để Đình Nhi biết được chuyện ly hôn của cha mẹ mà không làm tổn thương
đến tâm lý và tình cảm của nó, đó mới chỉ là “bước khởi đầu trên con đường vạn
dặm”. Cả một cuộc thử thách khắc nghiệt đang chờ đợi tôi ở phía trước: từ hôm
nay tôi sẽ phải đơn độc nuôi dạy con gái, phải làm như thế nào để dạy dỗ Đình
Nhi trở thành một nhân tài cho đất nước trong hoàn cảnh hiện nay.
Có lẽ
những nhà tiên phong trong sự nghiệp giáo dục từ sớm xưa nay chưa ai gặp phải
cảnh ngộ như tôi. Họ đều có được
một gia đình giàu có
và đầy đủ, vợ chồng hòa thuận, họ đều coi không khí gia đình tốt đẹp là điều
kiện tất yếu để giáo dục con cái nên người.
Nhưng
tôi lại nghĩ, cha mẹ song toàn chưa chắc đã là một điều kiện tất yếu tạo ra
“không khí gia đình tốt đẹp”, có khi lại là một yếu tố bất lợi, nhất là khi
người lớn thường cãi nhau, hay có sự không thống nhất trong việc dạy dỗ con
cái. Gia đình đơn chiếc cũng có cái hay riêng của nó – không có mâu thuẫn trong
phương pháp dạy con. Chỉ cần biết phòng ngừa những ảnh hưởng bất lợi của một
gia đình không toàn vẹn đối với sự trưởng thành của con cái, chỉ cần kiên trì
thực hiện những lý luận, nguyên tắc trong giáo dục từ sớm đối với con. Tôi hoàn
toàn có thể dạy dỗ Đình Nhi trở thành một con người có đầy đủ những tố chất ưu
tú, có nhân cách kiện toàn và có năng lực tạo ra một cuộc sống hạnh phúc.
Cụ
thể là, điều bất lợi lớn nhất của một gia đình không toàn vẹn là dẫn đến sự
khiếm khuyết, thiếu hụt trong tâm lý con cái. Nếu người lớn do quá nuông chiều
hoặc trong lòng luôn tức giận, mà đối xử với con cái mình trong một trạng thái
tâm lý không bình thường (hoặc là vì bố mẹ ly hôn mà nuông chiều, nhượng bộ con
cái đủ điều, hoặc là luôn chửi rủa đánh đập, hoặc thả lỏng cho tự do vì cho rằng
con cái chỉ là một gánh nặng đối với mình… Nếu vậy, thì có thể sẽ tạo ra những
khiếm khuyết không thể nào bù đặp nổi trong tâm lý con cái. Để tránh được những
bi kịch như vậy, tâm lý của người bố hoặc mẹ trong gia đình đơn chiếc phải thật
kiện toàn và lành mạnh, phải cố gắng hết sức để con cái mình thấy được gia đình
đơn chiếc nhà mình cũng chẳng khác gì với những gia đình cha mẹ song toàn, mình
cũng bình thường như mọi đứa trẻ khác.
Nếu
Đình Nhi lại là một đứa con trai, gia đình thiếu vắng một người cha làm tấm
gương để bồi dưỡng phẩm chất của một người đàn ông thì sự việc sẽ khó khăn hơn
nhiều. Đình Nhi lại là một cháu gái. Tôi tin rằng mình có đủ khả năng làm một
tấm gương cho con. Tôi dự định ban ngày khi đi làm, sẽ đưa con đến nhà trẻ.
Thời gian còn lại từ lúc từ nhà trẻ trở về đến khi cháu đi ngủ, tôi sẽ tận dụng
để phát triển trí tuệ và bồi dưỡng tính cách cho con. Sau khi con đã đi ngủ
rồi, tôi sẽ tranh thủ thời gian tự học theo chương trình đại dọc do Đài truyền
hình hướng dẫn. Việc tự học này không chỉ do nhu cầu trong công tác biên tập
của tôi, mà còn do nhu cầu của việc giáo dục Đình Nhi. Tôi cần phải không ngừng
bồi dưỡng tri thức thì mới có thể tiếp tục dẫn dắt con gái, cùng con gái trưởng
thành.
GHI ÂM CÁC CÂU CHUYỆN ĐỂ LÀM
PHẦN THƯỞNG CHO CON - MỘT VIỆC LÀM CÓ NHIỀU TÁC DỤNG
Về
đến khu tập thể của Liên hiệp hội văn nghệ tỉnh đã vào cuối tháng 2 năm 1984.
Sau khi dọn dẹp qua loa nhà cửa tôi vội dẫn con đi tìm một người bạn đồng
nghiệp hỏi về việc tôi nhờ ông tìm giúp nhà trẻ con Đình Nhi.
Ông
đã liên hệ một nhà trẻ kiểu mẫu thuộc Sở giáo dục tỉnh. Đó là Nhà trẻ số 3 ở
Thành Đô, chủ nhiệm và bí thư đều là người quen của ông. Các bà ấy đều nói
rằng, việc cho Đình Nhi vào học trong Nhà trẻ số 3 này không có vấn đề gì. Chỉ
có điều đang là đầu năm dương lịch chưa đưa vào được, phải chờ đến tháng 9, khi
bắt đầu nhập học thì mới thu nhận.
Như
vậy lại gặp khó khăn rồi! 70 đồng tiền lương tháng của tôi cộng thêm 20 đồng
phụ cấp nuôi Đình Nhi hằng tháng của cha cháu, chỉ đủ mua lương thực và sách vở
cho hai mẹ con, muốn may thêm một chiếc áo mới cũng không có tiền, lấy đâu ra
tiền để thuê bảo mẫu, tôi không thể nghỉ không lương cả nửa năm trời để ở nhà
trông nom Đình Nhi, chỉ còn cách đem theo con đến nơi công tác. Cũng may chính
lúc đó, lãnh đạo cơ quan sắp xếp cho tôi được nghỉ công tác hai tháng để tham
dự một lớp “chỉnh Đảng”. Thế là Đình Nhi hằng ngày đều dự một lớp học “chỉnh
Đảng”.
Tổng
biên tập lúc đó là thầy Lý Lũy
- một người lãnh đạo rất tốt, sống có tình người. Để tiện việc cho tôi chăm sóc
giấc ngủ trưa của Đình Nhi, cuộc họp các buổi chiều, thầy bố trí tại phòng
khách nhà tôi. Như vậy Đình Nhi có thể ngủ một mạch đến 3 giờ chiều. Sau khi
ngủ dậy vẫn có thể tùy ý uống nước hoặc ăn hoa quả. Ngoài ra, Đình Nhi còn có
thể mở tai nghe để nghe các câu chuyện đã ghi âm. (Thời đó, ở phòng làm việc
người ta không bố trí ổ cắm điện).
Cuộc
sống của Đình Nhi lúc đó thật là khó khăn, nhưng chưa bao giờ cháu dám quấy rầy
tôi trong những giờ họp. Có lẽ, vì tôi rất quan tâm không để Đình Nhi cảm thấy
“bị trống trải trong cuộc sống tinh thần”. Tôi luôn tạo cho Đình Nhi thấy có
những việc cần làm, không tự do lêu lổng, hoặc quấy rối làm nũng mẹ trong các
cuộc họp, hoặc lang thang nghịch ngợm ở ngoài sân. Buổi sáng hằng ngày khi đến
hội họp tại phòng làm việc, tôi đã đem theo rất nhiều truyện tranh và các đồ
dùng để vẽ. Lúc thì bảo Đình Nhi đọc sách, lúc thì bảo cháu tập vẽ, cũng có lúc
cho Đình Nhi ra vườn hoa nhỏ ngoài sân, hoặc ngắm nhìn bầy kiến gió. Các bạn
đồng nghiệp trong Hội Văn nghệ thấy vậy ai cũng khen cháu “biết vâng lời và
ngoan ngoãn”!.
Sự
ngoan ngoãn của Đình Nhi còn có phần quan trọng bởi “chính sách khen thưởng”
cho cháu. Cứ mỗi lần cháu làm một việc tốt đều được thưởng. Thời gian “chỉnh
Đảng” tôi đã ra điều kiện cho Đình Nhi: “Nếu con biết chơi ngoan trong những
lúc mẹ đang họp, tối về mẹ sẽ đọc sách, ghi âm lại các câu chuyện cho con
nghe”. Để có “phần thưởng nghe kể chuyện”, Đình Nhi đã bắt đầu biết tự giác
kiềm chế mình.
Khi
màn đêm buông xuống, là giờ phút hạnh phúc nhất của Đình Nhi. Đêm nào cũng vậy,
tôi đều ôm cháu vào lòng, đọc cho nó nghe một vài quyển truyện tranh liên hoàn,
vừa đọc, vừa ghi âm: những cuốn băng kể chuyện mà Đình Nhi thường nghe đều do
tôi kể và ghi lại. Trong khi ghi âm, mỗi lần gặp một từ mới mà Đình Nhi chưa
biết, tôi đều dừng lại giảng giải cho cháu hiểu, mỗi lần kể xong một câu chuyện
tôi đều hướng dẫn cháu kể lại vắn tắt câu chuyện đó. Chiều hôm sau, cho Đình
Nhi vừa nghe băng vừa lật sách xem tranh.
Làm
như vậy sẽ có năm cái
lợi. Một là để cho Đình Nhi trước khi đọc chữ đã có thể hiểu được các câu
chuyện bằng tranh. Hai là tiết kiệm được thời gian của người lớn, chỉ cần một
lần, Đình Nhi sẽ được nhiều lần nghe kể chuyện. Ba là để bồi dưỡng ngữ cảm cho
Đình Nhi, trong quá trình nghe đi nghe lại nhiều lần, Đình Nhi sẽ hiểu được chỗ
nào cần lên cao hoặc hạ giọng, nhằm nhanh chóng nâng cao khả năng đọc sách của
con. Bốn là làm tăng vốn từ cho trẻ, những từ ngữ, những mẫu câu đã được nghe
nhiều lần tự nhiên đọng lại trong trí nhớ của trẻ, rất lợi cho việc biểu đạt ý
nghĩ của trẻ một cách chuẩn xác và mẫu mực. Năm là để bồi dưỡng những tình cảm
và đạo đức cao thượng cho trẻ, những câu chuyện tôi chọn để ghi âm phần lớn đều
là những câu chuyện nổi tiếng trong nước và nước ngoài, những tình cảm và tư
tưởng cao đẹp của nhân loại sẽ ngấm dần, ngấm sau, tạo nên một tâm hồn cao đẹp
và phong phú cho trẻ.
Ngoài
năm mục đích trên, bằng cách nghe kể chuyện qua băng, tôi còn muốn cho Đình Nhi
nhanh chóng học được tiếng phổ thông chuẩn mực. Ở với bà ngoại, Đình Nhi sớm đã
học được kiểu ngữ âm rất lạ: nửa là giọng Hà Nam, một nửa là giọng Hồ Bắc và cộng thêm một chút
tiếng phổ thông không được chuẩn xác lắm. Rời Hồ Bắc, tôi lập tức chỉnh lại ngữ
âm cho Đình Nhi, và bắt cháu phải nói với tôi bằng tiếng phổ thông. Tôi cho
rằng, sớm dạy tiếng phổ thông cho những đứa trẻ sống ở những vùng quen dùng
tiếng địa phương là rất quan trọng. Bởi vì, được nghe tiếng phổ thông quá muộn,
trẻ con sẽ cho rằng “Đó không phải thứ tiếng của mình”, nên trẻ không muốn nói,
mà có nói thì cũng khó mà lưu loát được. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến việc
đọc sách thời kỳ đầu của trẻ, mà còn làm chậm quá trình biến ngôn ngữ sách vở
thành ngôn ngữ tư duy, rất không có lợi cho việc phát triển trí tuệ cho trẻ.
Tôi
chọn cách tự mình ghi âm các câu chuyện cho con nghe, không chỉ vì thời đó chưa
có bán các loại băng từ ghi lời kể chuyện, càng quan trọng hơn là, xét về mặt
tâm lý học, giọng nói của mẹ bao giờ cũng thân thiết, cũng thu hút sự chú ý của
trẻ con hơn là giọng nói trong băng từ xa lạ. Một chuyên gia về tâm lý học nhi
đồng người Mỹ, ông Rawans Saple cho rằng, kể chuyện là phương thức tốt nhất để
phát triển tư duy cho trẻ con. Bởi vì nghe đọc truyện, trẻ con thường không
biết chán, có sự tham gia của bạn nữa thì sức lôi cuốn không gì so sánh nổi. Để
cho những câu chuyện tôi kể ngày càng có sức hấp dẫn hơn đối với Đình Nhi, tôi
đã cố gắng kể thật diễn cảm. Cứ đến đoạn đối thoại của các nhân vật tôi cố gắng
bắt chước gần như thật bằng các giọng trầm bổng, khàn đục hay thanh thoát. Về
tốc độ, tôi cố gắng không nhanh cũng không chậm, nhanh quá, trẻ con sẽ phản ứng
không kịp, chúng nghe không hiểu và thế không còn hứng thú, chậm quá, các khái
niệm từ ngữ sẽ rời rạc không chỉ làm trở ngại cho việc hiểu nội dung câu
chuyện, mà còn ảnh hưởng đến tốc độ tư duy của trẻ.
Thời
gian đó, tôi đã ghi lại cho con hàng loạt những câu chuyện rất hay, có truyện
tranh liên hoàn, có cả những chuyện không có tranh. Có những câu chuyện được
chia thành nhiều tập như: “Những câu chuyện đồng thoại về thế giới muôn màu”,
“Cuộc chu du trong thế giới côn trùng”, “Ngàn lẻ một đêm”, “Những chuyện lạ
lùng về chú ngốc”, “Chiếc hòm đá của con công”… Có những truyện chỉ in trong
một quyển như: “Thần bút Mã Lương”, “Chú mèo đeo chuông”, “Hồ thiên nga”,
“Người con gái của biển cả” và “Chuyện lạ kỳ về một ông vua nhỏ”… Những cuốn
sách và những câu chuyện ấy giống như một kho báu vô cùng quý giá đối với tuổi
thơ, ở đó chứa đầy các của cải tinh thần không bao giờ cạn kiệt. Trước khi Đình
Nhi biết đọc biết viết, cháu đã được nghe đi nghe lại những câu chuyện bổ ích
ấy, và từ đó đã hấp
thụ biết bao nguồn dinh dưỡng tinh thần.
Các
nhà giáo dục nhi đồng thường nói, nghe nhiều, đọc nhiều những câu chuyện mà nội
dung hấp dẫn và phong phúc, ngôn ngữ chuẩn mực và trong sáng sẽ nhanh chóng
nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ của trẻ con. Đó chính là những thu hoạch đầu
tiên sau khi Đình Nhi nghe kể chuyện. Thường thường những câu chuyện vừa được
ghi âm tối hôm trước,
sáng hôm sau, những từ ngữ và những cách nói trong câu chuyện ấy đã được Đình
Nhi vận dụng. Tôi còn nhớ, sau khi nghe kể chuyện “Người con gái của biển cả”,
ngày hôm sau lúc bước lên thang gác, Đình Nhi nói: “Con sẽ bước nhẹ nhàng như
bong bóng nước”. Ngày kẻ niệm sinh nhật Đình Nhi tròn ba tuổi, cháu đã biết gộp nhiều câu chuyện kể
thành một câu chuyện dài tới hơn 800 chữ, mà giọng kể rất diễn cảm.

