Bị thiêu sống - Chương 15

NHỮNG GÌ CÒN THIẾU

Tôi
rất muốn học viết chữ. Tôi biết đọc, nhưng chỉ đọc được những chữ in. Tôi không
hiểu được chữ viết tay, vì tôi chỉ đọc chữ bằng cách đọc báo. Nhưng tôi cũng
hay vấp phải những chữ khó. Mỗi lần như thế, tôi hỏi hai đứa con gái tôi.

Thoạt
đầu ông Kaiser và Jacqueline đã thử dạy tôi một vài khái niệm cơ bản. Tôi muốn
học để được như những người khác. Vào khoảng hai mươi bốn tuổi tôi bắt đầu đi
làm, tôi có thể theo học một khóa ba tháng. Tôi rất vui. Cũng thật khó khăn vì
tiền học mà tôi phải đóng cao hơn tiền lương của tôi. Antonio liền bảo tôi: “Không
sao, anh có thể giúp em.” Tôi trả lời: “Không. Em muốn tự mình lo tiền học.”

Tôi
muốn tự mình làm được việc đó, với tiền tôi kiếm ra. Sau ba tháng, tôi phải
dừng việc học nhưng khóa học đó đã giúp tôi rất nhiều. Người ta đã đã dạy tôi
cầm bút chì như dạy một đứa trẻ mẫu giáo và tôi viết tên tôi. Tôi không biết
làm sao để viết chữ a, chữ s, tôi không biết gì cả. Vì vậy tôi học bảng chữ cái,
chữ này tiếp theo chữ kia và đồng thời học luôn ngôn ngữ. Sau ba tháng đó, tôi
mò mẫm đọc được vài chữ trên báo.

Thế
là tôi bắt đầu đọc mục tử vi vì có ai đó nói tôi thuộc cung Thiên Xứng! Ngày
nào tôi cũng giải mã tương lai của tôi. Những điều tôi hiểu thường không được
rõ ràng nhưng đầu tiên tôi cần đọc những mẩu tin ngắn và những câu không quá
dài. Trong những mẩu tin ngắn cũng có những đoạn tin cáo phó. Chưa có ai đọc kĩ
những đoạn ấy như tôi! “Gia đình X vô cùng thương tiếc báo tin: Bà X đã từ
trần. Cầu xin linh hồn bà được yên nghỉ!”

Tôi
cũng đọc cả những dòng tin rao vặt tìm đối tượng hôn nhân, bán xe nhưng chỉ ít
lâu sau tôi bỏ không đọc nữa vì tôi không hiểu nghĩa của những chữ viết tắt.
Tôi muốn đặt mua dài hạn một tờ báo bình dân nhưng Antonio lại cho rằng điều đó
thật ngốc nghếch và lố bịch... Thành thử mỗi ngày, trước khi đi làm, tôi xuống
phố và tôi vừa uống cà phê vừa đọc báo. Tôi rất thích quãng thời gian đó. Đối
với tôi, đó là thời điểm tốt nhất để học. Và dần dần, khi mọi người xung quanh
bàn tán về sự kiện nào đó, tôi có thể trả lời rằng tôi đã biết, tôi đã được đọc
trên báo. Mọi người đi du lịch, đi đây đi đó, nhắc đến biển, nhà hàng, khách
sạn, bãi biển. Họ nói đến toàn thế giới và trước kia tôi không thể góp chuyện
với họ về những điều đó. Nhưng bây giờ thì tôi có thể.

Tôi
đã biết đôi chút về địa lí châu Âu, biết các thủ đô lớn và vài thành phố nhỏ.
Tôi đã nhìn thấy Rome, Venise và Portofino. Đến Tây Ban Nha, tôi đã thăm
Barceloe với bố mẹ nuôi của tôi, nhưng tôi chỉ ở đấy năm ngày.

Đó
là những ngày đi nghỉ trong dịp hè. Trời rất nóng và tôi có cảm tưởng làm cho
bố mẹ nuôi không được ra bãi biển và bắt họ phải ru rú trong phòng như tôi. Vì
thế, tôi quay về và họ ở lại. Đối với tôi, một bộ áo tắm, đó là một thứ khó có
thể nghĩ đến. Muốn mặc thì phải kèm theo điều kiện chỉ có mình tôi trên bãi
biển như những lúc tôi ở trong phòng tắm.

Tôi
biết khá ít về thế giới. Tôi biết đó là một quả cầu tròn nhưng không ai dạy cho
tôi biết về nó. Chẳng hạn tôi biết Hoa Kỳ, đó là châu Mỹ nhưng tôi không biết
châu Mỹ là ở đâu trên quả cầu tròn. Ngay đến miền Cisjordanie tôi cũng không
xác định được vị trí của nó.

Tôi
đã thử xem sách địa lí của các con tôi, nhưng tôi không biết phải bắt đầu từ
đâu để tưởng tượng ra tất cả các nước. Tôi không xác định được khoảng cách.
Chẳng hạn nếu có ai đó hỏi tôi: “Chúng ta hẹn nhau ở chỗ cách nhà chị năm trăm
mét”, tôi cũng không thể xác định được khoảng cách năm trăm mét ấy trong đầu.
Tôi vẫn phải lấy một con đường hay một cửa hàng quen thuộc nào đấy làm mốc để
tìm phương hướng. Thành thử tôi không thể tưởng tượng ra cả thế giới. Tôi xem
dự báo khí tượng quốc tế trên truyền hình và tôi thử ghi nhớ để xem Madrid, Paris,
Luân Đôn, Beirus và Tel-Aviv nằm ở đâu.

Tôi
nhớ có lần đi làm việc với cha tôi gần Tel-Aviv. Hồi ấy tôi còn bé lắm, chỉ
khoảng mười tuổi. Chúng tôi được đưa lên đấy để thu hoạch súp lơ. Để đổi công
cho một người hàng xóm đã giúp chúng tôi gặt lúa mì ngoài ruộng. Có một hàng
rào bảo vệ chúng tôi trước những người Do Thái vì khi ấy, chúng tôi gần như ở
trên đất của họ. Và tôi nghĩ chỉ cần bước qua đoạn hàng rào chắn ấy là biến
thành người Do Thái nên tôi sợ. Những kỉ niệm còn lại từ thời thơ ấu của tôi
đều có liên quan đến nỗi sợ, tôi thấy rõ như vậy.

Người
ta đã dạy tôi không nên đến gần người Do Thái vì đó là những người halouf,
là những “con lợn”. Thậm chí không được phép nhìn họ. Đối với chúng tôi, thật
là kinh khủng khi phải đứng đấy, đứng quá gần bọn họ. Họ ăn uống khác chúng tôi,
họ sống khác chúng tôi. Không thể so sánh họ với chúng tôi, chúng tôi khác họ
như ngày khác đêm, như len khác lụa. Tôi đã được dạy những chuyện như vậy.
Người Do Thái là len, người Hồi giáo là lụa. Tôi không thể hiểu tại sao người
ta lại nhồi những thứ đó vào đầu tôi nhưng ngoài những thứ đó ra, không có điều
nào khác để nghĩ đến. Mỗi khi nhìn thấy một người Do Thái ngoài đường - thực ra
họ hầu như không bao giờ đi ra đường cả - lập tức có những vụ xô sát bằng đá
hay than củi. Nhất là không nên đến gần họ hay đến nói chuyện với họ, nếu không
sẽ bị biến thành Do Thái giống họ! Lẽ ra tôi nên biết những rằng đó là những
điều ngớ ngẩn. Những người đó không hề làm hại gì đến tôi! Chẳng hạn, trong khu
phố tôi có một cửa hàng thịt rất đẹp của người Do Thái. Thịt ở đấy ngon nhất, tôi
đã ăn rồi, nhưng tôi không dám đi vào đấy một mình để mua thịt. Thế là tôi đến
cửa hàng của người Tunisie chỉ vì người ấy là người Tunisie. Tại sao? Tôi cũng
không biết. Tôi thường tự nhủ: “Souad, mày cứ đến đấy và mua thứ thịt ngon ở
đấy đi, đó cũng là thịt như những loại khác thôi!”

Tôi
biết rằng một ngày nào đó tôi sẽ đến đấy. Nhưng tôi vẫn sợ. Khi còn ở đất nước
tôi, tôi đã nghe quá nhiều lời khuyên răn là không nên có bất kì sự tiếp xúc
nào với họ mà xem như họ không có mặt trên mặt đất này. Do đó còn hơn cả sự thù
hằn. Đó là kẻ thù tồi tệ nhất của người Hồi giáo.

Tôi
sinh ra là người Hồi giáo và tôi luôn tin ở Đấng Tối cao, tôi mãi mãi là người
Hồi giáo nhưng hiện nay, tôi chẳng còn giữ nhiều phong tục của ngôi làng cũ. Và
tôi không thích chiến tranh, tôi ghét bạo lực. Nếu có ai trách tôi điều gì, chẳng
hạn phủ nhận tôn giáo của tôi bằng cách nói những điều không hay về những người
đàn ông ở xứ tôi - việc này từng xảy đến với tôi - thì thay vì kháng cự tôi nói,
tôi tranh luận, tôi cố thuyết phục người ấy bằng cách buộc họ phải nghe tôi nói
để giúp họ hiểu những điều mà họ chưa hiểu.

Mẹ
tôi vẫn đánh nhau với các bà hàng xóm. Bà nhặt đá để ném vào họ hoặc giật tóc
họ. Ở làng tôi, mỗi khi đánh nhau, họ túm tóc nhau và giật. Còn tôi, tôi nấp
sau cánh cửa, trong lò nướng bánh hoặc trong chuồng gia súc cùng với đàn cừu.
Tôi không muốn nhìn thấy cảnh đó.

Tôi
muốn học tất cả những gì mà tôi chưa biết. Hiểu những khác biệt trên thế giới
và tôi hy vọng rằng, ở đây, các con tôi sẽ biết tận dụng những cơ hội của
chúng. Chính nỗi bất hạnh của tôi đã ban cho chúng những may mắn đó, chính số
phận đã giúp chúng tránh khỏi những bạo lực ở đất nước tôi, những vụ ném đá, khỏi
dã tâm của cánh đàn ông. Tôi không muốn người ta nhồi vào đầu chúng những thứ
người ta đã nhồi vào đầu tôi, những thứ mà phải khó khăn lắm tôi mới vứt bỏ
được. Tôi đã cố suy nghĩ về điều đó và tôi nhận ra rằng nếu có ai bảo tôi là
mắt tôi màu xanh mà không đưa cho tôi chiếc gương thì suốt đời tôi sẽ tin hai
mắt mình màu xanh. Chiếc gương tượng trưng cho văn hóa, giáo dục, sự hiểu biết
về chính mình và người khác. Nếu tôi soi gương chẳng hạn, tôi sẽ nhủ thầm: “Sao
mình lại thấp bé thế không biết!”

Nếu
không có chiếc gương, tôi sẽ bước đi mà không biết đến điều đó, trừ phi tôi đi
bên cạnh một gã cao lớn hơn tôi. Và tôi sẽ nghĩ về gã cao lớn đó nếu gã cũng
bước đi mà không biết mình cao lớn?

Tôi
bắt đầu nhận thấy rằng tôi không biết gì về người Do Thái, rằng tôi đã không
được học lịch sử của họ và nếu tôi cứ tiếp tục như thế thì chính tôi cũng sẽ
bảo với các con tôi rằng người Do Thái là halouf! Và thay vì truyền cho
chúng vốn hiểu biết và khả năng tư duy, tôi sẽ chỉ dạy cho chúng những điều ngớ
ngẩn.

Một
hôm Antoni nói với Laetitia:

-
Bố không muốn sau này con thành hôn với một người Ả Rập.

-
Tại sao thế, hả bố? Người Ả Rập cũng như bố, như bất cứ người nào khác, như tất
cả mọi người.

Tôi
liền bảo Antonio: “Người Ả Rập, người Do Thái, người Tây Ban Nha, người Ý đều
được cả... điều quan trọng nhất là bọn trẻ được chọn người mà chúng yêu thương
và được hạnh phúc. Bởi vì trước kia em không hề được hạnh phúc.”

Tôi
yêu Antonio, nhưng tôi không hiểu tại sao anh ấy lại yêu tôi và tôi không bao
giờ có đủ can đảm để hỏi anh điều đó, hay nói với anh: “Anh hãy nhìn em đi, em
từ đâu đến và bây giờ em như thế nào. Em đã bị thiêu sống, tại sao anh có thể
thích em trong khi quanh đây có bao người phụ nữ khác?”

Tôi
không tự tin. Đôi khi tôi tự nhủ: “Lạ thật, nếu anh ấy tìm đến người phụ nữ
khác, mình sẽ làm thế nào?”

Điều
đó thậm chí còn rất lạ thường. Mỗi lần nói chuyện điện thoại với anh, tôi thường
hỏi một câu: “Anh đang ở đâu, anh yêu?” Và khi nghe anh trả lời là anh đang ở
nhà thì tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Lúc nào trong lòng tôi cũng sợ. Sợ bị bỏ rơi, sợ
người đàn ông không quay về. Sợ phải một mình chờ đợi trong khắc khoải như
trước kia tôi từng chờ đợi cha của Marouan.

Thời
gian gần đây, tôi đã nhiều lần nằm mơ thấy Antonio ở bên một người phụ nữ khác.
Lại thêm một cơn ác mộng nữa. Nó bắt đầu kể từ hai ngày sau khi tôi sinh bé
Nadia, đứa con gái thứ hai, Antonio ở bên một người phụ nữ khác. Họ khoác tay
nhau dạo bước trên phố. Và tôi nói với Laetitia: “Con mau gọi bố về đi!” Còn
tôi, tôi không dám đi. Và con gái tôi đã kéo vạt áo của bố nó: “Không, bố ạ! Bố
đừng đi với bà ấy! Bố về đi!” Nó phải đưa bố nó về phía tôi và kéo hết sức nó
có thể. Cơn ác mộng ấy không chấm dứt. Tôi không bao giờ biết được Antonio có
trở lại hay không. Lần mới đây nhất, tôi tỉnh dậy lúc ba giờ sáng và không nhìn
thayAntonio đâu. Tôi bật dậy, anh không ngồi trên chiếc ghế quen thuộc của mình,
vô tuyến không bật. Tôi chạy ùa ra cửa sổ để xem xe anh có còn đỗ dưới đường
không, trước khi nhận thấy có ánh đèn trong phòng làm việc, anh đang làm việc
của công ty.

Tôi
rất muốn được thanh thản và không bị những cơn ác mộng kia ám ảnh nữa! Những
tình cảm của tôi không bao giờ yên: xúc động, lo sợ, bất ổn, ghen tuông, day
dứt thường trực về cuộc đời. Có cái gì đó đang đổ vỡ trong tôi mà mọi người
không nhận thấy vì lúc nào tôi cũng mỉm cười để tỏ ra lịch sự và kính trọng
người khác.

Nhưng
khi tôi nhìn thấy một người phụ nữ đẹp với mái tóc đẹp, đôi chân đẹp và làn da
đẹp đi qua... Khi mùa hè đến, mùa của bể bơi và những bộ quần áo mỏng và ngắn...

Tôi
mở tủ: trong tủ đầy ắp những bộ quần áo cài kín cổ. Tuy nhiên, tôi cũng mua mấy
thứ quần áo khác, những chiếc váy rộng cổ, những chiếc áo sơ mi không tay. Để
thỏa mãn chính mình. Nhưng tôi chỉ có thể mặc chúng cùng với áo khoác, chiếc áo
khoác đó cũng cài kín cổ. Một lớp da khác của tôi...

Cứ
mỗi khi hè đến, tôi lại đâm ra bực dọc. Tôi biết bể bơi mở cửa ngày mùng 6
tháng Năm và đóng cửa ngày mùng 6 tháng Chín, điều đó làm tôi phát điên lên.
Tôi muốn trời đổ mưa và nhiệt độ không bao giờ lên quá hai mươi lăm độ. Tôi hóa
ra ích kỉ nhưng không sao cưỡng được. Những khi trời nóng quá, tôi chỉ đi ra
phố thật sớm vào buổi sáng hoặc thật muộn vào buổi tối. Tôi theo dõi dự báo
thời tiết và có lúc đã buột miệng nói to lên: “Càng tốt, ngày mai thời tiết sẽ
xấu.” Các con tôi phải kêu lên: “Những điều mẹ nói thật độc ác! Chúng con muốn
đến bế bơi cơ!”

Khi
nhiệt độ bên ngoài lên đến ba mươi độ, tôi nằm lì trong phòng. Tôi khóa cửa và
tôi khóc. Nếu tôi đủ can đảm đi ra ngoài với hai lớp quần áo, một lớp để khoe
cho mọi người thấy, một lớp để che thân, thì tôi lại sợ những người qua đường.
Họ có biết tôi như thế nào không? Họ có tự hỏi tại sao mùa hè mà tôi vẫn mặc
như mùa đông hay không?

Tôi
thích mùa thu, mùa đông và mùa xuân. Tôi có may mắn được sống ở một đất nước mà
một năm chỉ có ba hay bốn tháng nắng nóng. Tôi không thể sống ngoài nắng nóng
mặc dù tôi được sinh ra ở một nơi có nhiều nắng. Tôi đã quên nơi ấy, đã quên
những giờ phút mà mặt trời vàng rực thiếu đốt mặt đất, những giờ phút mà mặt
trời chuyển màu vàng nhạt trên nền trời xanh xám trước khi lặn xuống. Tôi không
muốn có mặt trời.

Đôi
khi, tôi nhìn bể bơi bên ngoài tòa nhà và tôi ghét nó. Khổ cho tôi là người ta
đã xây bể bơi này để phục vụ người dân trong khu tập thể.

Chính
nó đã khiến tôi rơi vào tình trạng suy sụp tinh thần đáng nguyền rủa này.

***

Tôi
đã bốn mươi tuổi. Mùa hè vừa chớm bắt đầu, một tháng Sáu báo hiệu mùa hè nhiều
nắng nóng. Tôi vừa xuống nhà mua đồ và trở lại đứng bên cửa sổ, nhìn những phụ
nữ gần như khỏa thân trong bộ đồ của họ. Một trong những hàng xóm của tôi, một
cô gái xinh đẹp, mặc bikini hai mảnh đang từ bể bơi về nhà, chân trần, chiếc
váy quấn vắt trên vai, người bạn trai để lưng trần đi bên cạnh. Tôi chỉ có một
mình, ru rú trong phòng, bị ám ảnh bởi ý nghĩ tôi không thể làm như họ. Thực
không công bằng, trời nóng như thế kia. Thế là tôi mở toang của tủ và tôi tìm.
Tôi bày không biết bao nhiêu quần áo trên giường trước khi tìm được một cái gì
đó trông có vẻ hợp lí nhất, và tôi luôn cảm thấy làn da của mình không ổn. Áo
tay ngắn ở bên trong, thêm một chiếc áo sơ mi khác khoác bên ngoài. Nóng quá.
Tôi không thể mặc một chiếc sơ mi quá mỏng dù cài hết cúc cổ, tôi không thể.
Tôi cũng không thể mặc váy ngắn vì đôi chân tôi đã nhiều lần bị lấy da cho cuộc
phẫu thuật ghép da trước đây. Áo hở ngực, áo tay ngắn tôi không thể mặc vì
những vết sẹo. Tất cả những thứ tôi bày ra trên giường đều là những thứ “tôi
không thể mặc”.

Cả
người tôi mồ hôi vã ra như tắm, mọi thứ dính chặt vào da tôi.

Tôi
nằm trên giường và tôi bắt đầu khóc thật nhiều. Tôi không bị cái nóng này giam
cầm mãi, trong khi những người khác đang ở bên ngoài, hoàn toàn tự do để lộ làn
da họ. Tôi có thể khóc chừng nào tôi muốn, tôi chỉ có một mình, các con tôi
đang học trong ngôi trường nằm đối diện với tòa nhà. Sau đó, tôi soi vào tấm
gương trong phòng ngủ và tự nhủ: “Mày hãy nhìn mày đi! Tại sao mày lại ở đây
chứ? Mày không thể cùng gia đình tới bãi biển? Dù cho mày có đi ra đó, mày cũng
khiến cả gia đình không được hưởng cái thú ngâm mình dưới nước mà phải quay về
vì mày. Laetitia và Nadia đang đi học nhưng khi về đến nhà, chúng sẽ muốn ra bể
bơi. May mắn cho chúng là chúng có quyền làm thế, chứ mày thì không! Mày cũng
không được ngồi trong nhà hàng của bể bơi để uống một tách cà phê, một li nước
chanh, vì mày sợ bị người khác nhìn thấy. Mày mặc quần áo kín mít từ đầu đến
chân, họ sẽ nói rằng giờ đang là mùa đông và bể bơi, trời lạnh đến mười độ.
Người ta sẽ bảo mày là một mụ điên! Mày không được tích sự gì cả. Mày ở đây mà
cũng như không hề có mặt ở đây. Mày là một món đồ bị giam cầm trong nhà.”

Thế
rồi tôi đi vào phòng tắm, tôi lấy lọ thuốc ngủ mua không theo đơn của bác sĩ ở
một cửa hàng dược phẩm vì tôi mắc chứng khó ngủ. Quá nhiều thứ đang nhảy múa
trong đầu tôi. Tôi trút sạch lọ thuốc ra và tôi đếm. Có tất cả mười chín viên
và tôi nuốt hết.

Mấy
phút sau, tôi cảm thấy trong người thật lạ, mọi thứ đang quay cuồng. Tôi mở cửa
sổ, tôi vừa khóc vừa nhìn ngôi trường của Laetitia và Nadia ngay trước mặt. Tôi
mở cửa căn hộ và nói lảm nhảm một mình, tôi nghe thấy giọng mình vang lên như
thể tôi ở đáy giếng. Tôi muốn trèo lên tầng sáu, tôi muốn nhảy từ tầng thượng
xuống, tôi đi lên đó, vừa ngủ lơ mơ vừa lảm nhảm: “Nếu mình chết thì chúng sẽ
ra sao? Chúng yêu mình. Tại sao mình lại sinh chúng ra? Để chúng chịu khổ sở ư?
Mình đã khổ sở nhiều như thế chưa đủ à? Mình không muốn chúng phải khổ sở, hoặc
cả ba cùng rời bỏ cõi đời này hoặc không... Không, chúng cần có mình. Antonio
đi làm. Anh bảo đi làm nhưng có thể anh đang ở bãi biển, mình không biết anh ở
đâu... Nhưng anh biết rõ mình đang ở nhà vì trời nóng quá. Mình không đi ra
ngoài được, mình không thể ăn mặc như mình muốn. Tại sao chuyện đó lại xảy đến
với mình? Mình đã phạm tội gì với Đấng Tối cao? Mình đã làm gì trên đời này?”

Tôi
khóc trong hành lanh. Tôi không biết tôi đang ở đâu. Tôi quay vào nhà để đóng
cửa sổ rồi tôi đi xuống sảnh phía dưới, đứng trước các thùng thư để đợi các
con. Sau đó, tôi không nhớ gì nữa, cho đến khi thấy mình nằm trong bệnh viện.

Tôi
bị ngất đi vì những viên thuốc ngủ. Người ta đã rửa ruột cho tôi và bác sĩ giữ
tôi lại bệnh viện để theo dõi. Ngày hôm sau, tôi được đưa đến bệnh viện tâm
thần học. Tôi được gặp bác sỹ chuyên khoa tâm thần, một người phụ nữ khả ái. Bà
bước vào phòng:

-
Chào bà...

-
Chào bác sĩ.

Tôi
đỉnh mỉm cười lịch thiệp với bà bác sĩ nhưng tôi bật khóc ngay sau đấy. Bà bác
sĩ cho tôi uống một loại thuốc an thần và ngồi xuống cạnh tôi:

-
Hãy kể cho tôi biết mọi việc đã xảy ra như thế nào, tại sao bà lại uống những
viên thuốc ấy? Tại sao lại muốn tự tử?

Tôi
giải thích, nắng nóng, bể bơi, ngọn lửa, các vết sẹo, ý định chết và tôi lại
khóc. Tôi không sao sắp xếp rõ ràng những gì đang xảy ra trong đầu tôi. Cái bể
bơi, cái bể bơi ngu xuẩn ấy đã gây ra mọi chuyện. Tôi đã muốn chết chỉ vì một
cái bể bơi?

-
Bà có biết đây là lần thứ hai bà đã thoát chết không? Trước đây là người anh rể
của bà, bây giờ lại là bà. Tôi thấy như thế là quá nhiều, nếu người ta không
quan tâm đến bà thì chuyện đó sẽ tái diễn. Nhưng tôi có mặt ở đây để giúp bà, bà
có muốn không?

Suốt
một tháng trời, tôi điều trị theo liệu pháp của bà ta, và sau đó, bà ta khuyên
tôi đến một bác sĩ chuyên khoa tâm thần khác, mỗi tuần một lần vào ngày thứ Tư.
Từ lúc bị thiêu sống đến giờ, đây là lần đầu tiên tôi có dịp kể với một người
có mặt bên cạnh tôi để chỉ nghe tôi nói về cha mẹ tôi, về nỗi bất hạnh của tôi,
về Marouan... Đối với tôi, điều đó thực không dễ dàng gì. Có lúc, tôi chỉ muốn
ngừng kể nhưng tôi buộc mình phải cố gắng vì tôi biết, sau khi ra khỏi đây, tôi
sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nhiều.

Ít
lâu sau, tôi nhận thấy bà ta quá độc đoán. Tôi cảm thấy bà ta muốn áp đặt cho
tôi một con đường để đi theo. Như thể bà ta bắt tôi phải đi bên phải con đường
để về nhà, trong khi tôi biết rõ có thể về nhà bằng cách đi bên trái đường...

Tôi
tự nhủ: “Quỷ tha ma bắt bà ta! Bà ta chỉ đạo mình, đó không phải là mẹ của mình.”
Đã thế lại còn buộc tôi đến gặp vào ngày thứ Tư. Tôi thì chi đến khi nào tôi
cảm thấy thích, hoặc khi thấy cần. Nhưng tôi cũng muốn bà ta đặt câu hỏi, bà ta
nói chuyện với tôi, bà ta nhìn thẳng vào mặt tôi chứ không để tôi trò chuyện
với những bức tường trong khi bà ta ghi chép. Suốt một năm, tôi cố cưỡng lại ý
định bỏ trốn. Và tôi hiểu rằng mình không hề thực tế chút nào, khi có ý định
chết, tôi đã chối bỏ sự tồn tại của hai đứa con tôi. Tôi thật ích kỉ khi chỉ
nghĩ đến bản thân, khi có ý định bỏ đi, mặc kệ những gì còn lại. Kể cũng hay
khi tôi nói: “Tôi muốn chết...” Nhưng những người khác thì sao?

***

Tôi
đã khá hơn nhưng nhiều lúc thật kinh khủng. Tình trạng này xảy ra vào bất cứ
lúc nào. Nhất là trong dịp hè. Chúng tôi sắp dọn đi nơi khác, rời xa bể bơi.
Ngôi nhà mới nằm ven một con lộ nhưng mùa hè vẫn luôn đến. Dù nằm trong núi hay
trên xa mạc, đó vẫn là mùa hè.

Nhiều
lúc tôi tự nhủ thầm: “Trời ơi, mình chỉ muốn sáng mai mình không thức dậy nữa, mình
chỉ muốn chết và không phải chịu đau khổ nữa.”

Tôi
có một gia đình, có bạn bè xung quanh, tôi đã cố gắng nhiều. Nhưng tôi thấy xấu
hổ về chính mình. Giá như tôi bị bỏng trong một vụ tai nạn hay bị liệt, có lẽ
tôi đã nhìn những vết sẹo của mình theo cách khác. Đó sẽ là số phận, chẳng ai
phải chịu trách nhiệm, kể cả tôi.

Nhưng
chính người anh rể đã châm lửa thiêu tôi, và đó là ý muốn của cha mẹ tôi. Không
phải số phận hay định mệnh đã khiến tôi ra nông nỗi này. Điều làm tôi đau đớn
nhất là họ tước đoạt làn da của tôi, của chính tôi, không phải là một tháng, một
năm, mười năm mà là cả cuộc đời.


lâu lâu tình trạng ấy lại tái diễn. Một bộ phim cao bồi Mỹ có nhiều vụ đánh
nhau và rất nhiều ngựa. Hai người đàn ông đánh nhau trong chuồng ngựa. Một tên
độc ác đã bật diêm ném vào đống cỏ khô, giữa hai chân đối thủ. Người này bị lửa
đốt đã vội vã bỏ chạy với ngọn lửa đang bốc cháy trên người. Tôi bắt đầu la hét
và phun những thứ đang ăn ra. Tôi như bị điên.

Antonio
bảo tôi: “Không phải đâu em yêu, đó chỉ là phim, là phim thôi mà.” Và anh tắt
vô tuyến. Anh ôm tôi vào lòng, để giúp tôi bình tĩnh và nhắc đi nhắc lại: “Em
yêu, đó là truyền hình. Nó không có thật đâu, nó chỉ là phim thôi mà!”

Tôi
đang lùi xa về phía sau, tôi đang chạy với ngọn lửa cháy trên người. Suốt đêm
tôi không ngủ được. Tôi sợ lửa đến nỗi chỉ một ngọn lửa nhỏ cũng đủ làm tôi
sững sờ. Tôi dõi theo từng cử chỉ của Antonio khi anh bật lửa châm thuốc lá, tôi
chờ đến lúc que diêm tắt hoặc ngọn lửa của chiếc bật lửa biến mất. Tôi ít xem
truyền hình cũng chính vì lí do đó. Tôi sợ phải nhìn thấy một ai đó hay một vật
gì đó đang cháy. Các con tôi cũng tỏ ra thận trọng vì việc này. Ngay khi nhận
thấy điều gì có thể làm tôi sốc, chúng vội tắt ngay hình ảnh đó.

Tôi
không muốn cho chúng đốt nến. Ở nhà mọi vật dụng đều dùng điện. Tôi không muốn
nhìn thấy lửa trong bếp hoặc một nơi nào khác. Nhưng một hôm, có người đã đùa
với que diêm và cười trước mặt tôi để biểu diễn một trò lạ. Anh ta đã đổ cồn
lên ngón tay và anh ta châm lửa. Da trên ngón tay không bị cháy, đó chỉ là một
trò đùa.

Tôi
đứng bật dậy, vừa sợ vừa giận sôi lên:

-
Anh đi nơi khác mà làm trò! Tôi đã từng bị thiêu rồi. Anh không hiểu bị thiêu
là thế nào đâu!

Lửa
trong lò sưởi thì tôi không sợ, miễn là tôi không đến gần. Nước cũng không làm
tôi khó chịu, nhưng phải là nước ấm. Tôi sợ tất cả những gì nóng. Lửa, nước
nóng, lò nấu, bếp điện, xoong chảo, bình cà phê lúc nào cũng cắm điện, chiếc vô
tuyến có thể bị bắt lửa, những phích điện tiếp xúc kém, máy hút bụi, những mẩu
thuốc lá bỏ quên, đủ thứ... Tất cả những gì liên quan đến lửa. Cuối cùng, các
con tôi cũng trở nên khiếp sợ vì tôi. Bởi vì một đứa con gái mười bốn tuổi mà
không biết bật bếp điện để hâm nóng thức ăn cũng chỉ vì tôi, đó là chuyện không
bình thường. Nếu tôi không có mặt ở nhà thì tôi không muốn chúng đứng bên bếp, không
muốn chúng đun nước nấu mì hoặc pha trà. Tôi cần có mặt bên cạnh chúng, chăm
chú, căng thẳng, để chắc chắn được tự tay tôi dập lửa. Không có ngày nào mà tôi
không đi soát lại bếp điện trước khi đi ngủ.

Tôi
sống với nỗi lo sợ ngày này qua đêm khác. Tôi biết tôi làm xáo trộn cuộc sống
của người khác. Chồng tôi vốn kiên nhẫn nhưng thỉnh thoảng, anh ấy cũng đâm
chán nản trước nỗi sợ vô lí của tôi. Tôi phải bình tĩnh khi trông thấy các con
tôi cầm một cái xoong. Đến một ngày nào đó, chúng sẽ phải làm được việc đó.

***

Khoảng
bốn mươi tuổi, tôi lại có thêm một nỗi sợ khác. Tôi cho rằng Marouan đã trở
thành người lớn, từ hai chục năm nay tôi không gặp lại nó lần nào, và nó biết
tôi đã lấy chồng và có mấy đứa con gái hiện đang ở một nơi nào đó. Nhưng
Laetitia và Nadia không biết chúng có một người anh trai.

Sự
dối trá đó là một gánh nặng mà tôi không thể nói cho ai biết. Ngay từ đầu
Antonio cũng đã biết về Marouan, nhưng chúng tôi không bao giờ nhắc đến nó, Jacqueline
biết, nhưng chị ấy tôn trọng chuyện riêng của tôi. Chị mời tôi tham gia những
buổi hội thảo, để nói về tội ác vì danh dự trước những phụ nữ khác. Chị tiếp
tục công việc của chị, chị đi công tác và đôi khi chiến thắng trở về, nhưng
cũng có lúc trở về tay không. Tôi thấy mình có nghĩa vụ phải kể lại cuộc đời
một phụ nữ bị thiêu sống của tôi, và đứng ra làm chứng với tư cách một người
thoát chết. Trên thực tế, tôi là người duy nhất có thể làm công việc đó sau
chừng ấy năm.


tôi tiếp tục nói dối, không tiết lộ sự tồn tại của Marouan và tự thuyết phục
mình rằng tôi đang bảo vệ con trai mình tránh khỏi sự thật kinh khủng nhất.
Nhưng nó gần như đã trở thành một người lớn. Vấn đề quan trọng hiện nay là tìm
hiểu xem khi cho Marouan làm con nuôi người khác, liệu có phải tôi đã che đậy
sự xấu hổ của cá nhân tôi, tội lỗi của tôi hay định che chở cho Marouan.

Tôi
cần thời gian mới hiểu được rằng mọi sự việc đều liên quan đến nhau. Trong làng
tôi không có bác sĩ chuyên khoa tâm thần học, phụ nữ ở đó không đặt ra những
câu hỏi như vậy. Chúng tôi chỉ có tội vì chúng tôi là phụ nữ.

Các
con tôi đã lớn, những câu: “Tại sao thế hả mẹ?” trở nên nhức nhối hơn.

-
Nhưng tại sao họ lại thiêu mẹ, hả mẹ?

-
Vì mẹ muốn được làm vợ một người mà mẹ đã chọn vì mẹ sắp sinh em bé.

-
Em bé ấy bây giờ thế nào và đang ở đâu?

-
Nó vẫn còn ở đó, trong trại trẻ mồ côi.

Tôi
không thể nói với chúng khác được.

Báo cáo nội dung xấu