Vết Bớt Màu Cà Phê Sữa - Chương 26 - 27
26
Sugurdur
Óli ngạc nhiên khi thấy người phụ nữ ra mở cửa biết anh định nói gì trước khi
anh kịp giải thích mọi chuyện. Lần này anh lại đứng trước một cầu thang khác, đó
là một khu nhà ba tầng ở Grafarvogur. Anh không cần phải tự giới thiệu và mới
nói được một nửa lý do tại sao mình ở đây thì người phụ nữ đã mời anh vào nhà, nói
thêm rằng bà ta đang chờ anh đến.
Lúc đó là
vào sáng sớm. Bên ngoài trời đang mưa bụi và màu ảm đạm của mùa thu lan tràn
trên toàn thành phố như thể để khẳng định thêm là mùa đông đang đến rất gần, tối
hơn và lạnh hơn nữa. Trên đài, người ta đã mô tả đó là tình trạng mưa tồi tệ
nhất trong nhiều thập kỷ. Người phụ nữ đề nghị cầm áo khoác cho anh. Một người
đàn ông trạc tuổi bà ta bước ra khỏi căn bếp nhỏ và bắt tay anh thay lời chào. Họ
đều tầm bảy mươi tuổi, mặc áo khoác rộng với tất trắng như thể chuẩn bị đi bộ
tập thể dục. Anh đã xen vào bữa uống cà phê buổi sáng của hai người.
Ngôi nhà
rất nhỏ nhưng được bài trí rất thuận tiện, với một nhà tắm nhỏ, căn bếp nhỏ
cùng phòng khách và phòng ngủ khá rộng rãi. Trong nhà rất nóng. Sigurdur Óli
nhận lời mời uống cà phê và xin thêm một cốc nước lọc. Cổ họng của anh
ngay lập tức trở nên khô rát. Họ nói qua về chuyện thời tiết cho đến khi
Sigurdur Óli không đợi thêm được nữa.
“Dường
như ông bà đang chờ tôi đến,” anh nói và nhấp một ngụm cà phê. Nó quá loãng và
có vị thật tệ.
“Phải, không
ai nói chuyện gì khác ngoài người phụ nữ đáng thương mà anh đang tìm kiếm,” bà
ta nói. Sigurdur Óli nhìn bà ta thờ ơ.
“Tất cả
mọi người ở Húsavík,” người phụ nữ nói, như kiểu bà ta không cần phải giải
thích một điều quá rõ ràng như thế. “Chúng tôi chẳng nói chuyện gì khác từ khi
các anh bắt đầu tìm bà ấy. Chúng tôi có một câu lạc bộ rất lớn cho những người
đến từ Húsavík trong thành phố. Tôi chắc chắn rằng tất cả mọi người đều
biết các anh đang tìm kiếm người phụ nữ đó.”
“Vậy
chuyện đó đã thành chủ đề bàn tán của cả thị trấn à?” Sigurdur Óli hỏi.
“Ba người
bạn của tôi đến từ miền Bắc nhưng hiện đang sống ở đây đã gọi điện cho tôi từ
tối hôm qua, và sáng nay tôi lại nhận được một cú nữa từ Húsavík. Người ta đang
bàn tán về chuyện đó suốt.”
“Vậy mọi
người đã có kết luận gì chưa?”
“Vẫn chưa,”
bà ta nói và nhìn sang chồng. “Người đàn ông đó đã làm gì bà ta?”
Bà ta
không buồn che giấu sự tò mò của mình, không buồn che giấu sự tọc mạch. Sigurdur
Óli bực mình khi thấy bà ta sốt sắng hỏi từng chuyện tỉ mỉ và cố gắng dò
xét từng lời nói của anh.
“Đó là
vấn đề liên quan đến hành vi bạo lực,” anh nói. “Chúng tôi đang tìm kiếm nạn
nhân, nhưng có lẽ là bà đã biết rồi.”
“À phải, nhưng
tại sao chứ? Ông ta đã làm gì bà ta? Và tại sao lại là bây giờ? Tôi nghĩ, hay
chúng tôi nghĩ,” bà ta nói và nhìn vào người chồng khi ấy đang ngồi yên lặng
theo dõi cuộc trò chuyện, “rằng thật là lạ khi nó còn quan trọng sau ngần ấy
năm. Tôi nghe nói là bà ta bị hiếp. Có đúng thế không?”
“Rất tiếc
là tôi không thể tiết lộ bất cứ thông tin nào liên quan đến quá trình thẩm vấn,”
Sigurdur Óli đáp. “Và có lẽ điều đó cũng không quan trọng. Tôi nghĩ là bà không
nên làm ầm chuyện đó quá lên. Khi bà nói chuyện với những người khác ấy, ý tôi
là thế. Bà có thể nói cho tôi biết điều gì đó có ích không?”
Hai vợ
chồng nhìn nhau.
“Làm
chuyện ầm ĩ lên ư?” Bà ta nói đầy ngạc nhiên. “Chúng tôi không làm ầm chuyện đó
lên. Ông có nghĩ là chúng ta đang làm ầm lên không, Eyvi?” Bà ta nhìn chồng, ông
ta dường như không biết phải trả lời thế nào. “Nào, trả lời tôi đi!” Bà ta nói
lanh lảnh và ông ta bắt đầu trả lời.
“Không
tôi không nói thế. Điều đó là không đúng.”
Điện
thoại của Sigurdur Óli reo. Anh không để nó lỏng lẻo như Erlendur mà để trong
một cái bao lịch sự đeo bên thắt lưng. Sigurdur Óli xin lỗi hai vợ chồng rồi
nghe điện thoại. Đó là Erlendur.
“Anh có
thể gặp tôi ở nhà Holberg được không?” ông hỏi.
“Có
chuyện gì thế?” Sigurdur Óli đáp.
“Đào thêm,”
Erlendur nói và tắt máy.
Khi
Sigurdur Óli lái xe đến Nordurmýri, Erlendur và Elínborg đã ở đó. Erlendur đang
đứng ở cửa tầng hầm và hút thuốc. Elínborg đang ở trong căn hộ. Sigurdur có thể
nhìn thấy cô đang ngửi ngửi xung quanh. Anh nhìn Erlendur lúc này đang nhún vai
rồi ném điếu thuốc vào trong vườn và họ cùng vào căn hộ.
“Anh nghĩ
là ở đây có mùi gì?” Erlendur hỏi Sigurdur Óli, và Sigurdur Óli ngửi ngửi trong
không khí như Elínborg. Họ đi từ phòng này sang phòng khác, xác định thứ mùi, trừ
Erlendur vì khứu giác của ông cực kỳ kém sau nhiều năm hút thuốc.
“Khi tôi
đến đây lần đầu tiên,” Elínborg nói, “tôi đã nghĩ rằng một tòa nhà hoặc căn hộ
như thế này hẳn phải dành cho những người nuôi ngựa. Cái mùi làm tôi nghĩ đến
ngựa, những chiếc ủng đi ngựa, yên ngựa, hoặc những thứ đại loại như vậy. Cả
phân ngựa. Chuồng ngựa nữa, thực sự là vậy. Cái mùi đó giống như cái mùi trong
căn hộ đầu tiên mà vợ chồng tôi mua. Nhưng cũng chẳng có ai yêu ngựa sống ở đó
cả. Đó là một hỗn hợp của rác rưởi và ẩm thấp. Cái lò sưởi đã rỉ ra đến tận thảm
và ván lót sàn nhưng chẳng ai làm gì cả. Chúng tôi đã cho sửa chữa phòng tắm
nhưng những người thợ sửa ống nước đã làm ăn rất cẩu thả, chỉ nhét rơm vào cái
lỗ và trát một lớp bê tông mỏng lên đó. Vì thế lúc nào trong nhà cũng có mùi
cống rãnh bốc lên từ vết sửa chữa.”
“Điều đó
có nghĩa là?” Erlendur hỏi.
“Tôi cho
là ở đây cũng có mùi tương tự, có lẽ còn tệ hơn. Ẩm thấp, rác rưởi và chuột
cống.”
“Tôi đã
gặp Marion Briem,”
Erlendur nói, không chắc là họ biết cái tên đó. “Tình cờ bà ta đọc được thông
tin về Nordurmýri và đi đến kết luận thực tế nơi đây là một đầm lầy.”
Elínborg
và Sigurdur Óli liếc nhìn nhau.
“Nordurmýri
từng là một làng tách biệt ở giữa Reykjavík,” Erlendur nói tiếp. “Những ngôi nhà được
xây dựng trong hoặc chỉ ngay sau chiến tranh. Iceland trở thành một nước Cộng
hòa và họ đặt tên đường phố theo tên những anh hùng trong tiểu thuyết, Gunnarsbraut,
Skeggjagata và đại loại như vậy. Nó là nơi tụ tập đủ mọi thành phần, từ
những người khá giàu, thậm chí là giàu, cho đến những kẻ chẳng có lấy một xu, do
đó họ thuê những ngôi nhà rất rẻ mạt như thế này. Rất nhiều người giống Holberg
sống ở Nordurmýri, mặc dù hầu hết trong số đó có văn hóa hơn Holberg, và rất
nhiều người sống trong những căn hộ dưới tầng hầm y hệt thế này. Marion nói
với tôi như thế.”
Erlendur
dừng lại.
“Một đặc
điểm khác của Nordurmýri là loại căn hộ dưới tầng hầm này. Lúc đầu không có
loại nhà ở tầng hầm, nhưng rồi những người chủ đã sửa chúng, rồi xây bếp và
tường, tạo ra các phòng, tạo ra nơi sống. Trước đây những tầng hầm này là nơi
dành cho, Marion gọi là gì nhỉ, những căn hộ khép kín độc lập. Hai người
có hiểu đó là gì không?”
Cả hai
cùng lắc đầu.
“Tất
nhiên, hai người còn quá trẻ,” Erlendur nói, biết rằng họ rất ghét ông nói điều
đó. “Trong những tầng hầm này là phòng của các cô gái. Họ là người ở trong nhà
những kẻ giàu có hơn. Họ ở trong những căn phòng như cái lỗ thế này. Ở đó còn
có một phòng giặt nữa, một phòng để nấu món haggis, ví dụ như vậy, và các
món ăn khác, nhà kho, nhà tắm, và tất cả những thứ khác.”
“Không
quên rằng đó là một đầm lầy,” Sigurdur Óli nói một cách châm biếm.
“Ông định
nói với chúng tôi điều gì quan trọng đây?” Elínborg hỏi.
“Ở dưới
những tầng hầm này là những lớp móng...” Erlendur nói.
“Khá là
bất thường nhỉ,” Sigurdur Óli nói theo Elínborg.
“... cũng
giống như dưới tất cả những ngôi nhà khác,” Erlendur nói mà không để lời châm
biếm của Sigurdur Óli xen vào. “Nếu các bạn nói chuyện với một thợ sửa ống nước
như Marion Briem
đã làm...”
“Thế rốt
cuộc tất cả những chuyện nhảm nhí về cái bà Marion Briem này là cái gì vậy?” Sigurdur
Óli hỏi.
“... các
bạn sẽ thấy rằng họ được gọi khá thường xuyên đến Nordurmýri để giải quyết một
vấn đề có khả năng tăng lên theo từng năm, từng thập kỷ sau khi các ngôi nhà
được xây dựng trên nền đầm lầy. Nó xảy ra ở một số nơi chứ không phải ở những
chỗ khác. Các bạn có thể quan sát bên ngoài một số ngôi nhà: rất nhiều trong số
chúng được khoác một lớp đá cuội ốp tường, và nơi hết đá cuội cũng là nơi những
mảng tường trần lộ ra ở gần mặt đất. Một dải dài khoảng gần một mét. Vấn đề ở
đây là đất lún cả trong nhà nữa.”
Erlendur
thấy hai người đã thôi không còn cười nữa.
“Trong
kinh doanh bất động sản người ta gọi đây là lỗi được che giấu và rất khó giải
quyết. Khi cả ngôi nhà lún xuống, nó tạo áp lực lên các ống thoát nước và chúng
vỡ tung dưới sàn nhà. Trước khi các bạn biết điều đó, các bạn đã đổ nước
thải ngay xuống lớp móng. Điều này có thể xảy ra trong nhiều năm bởi vì mùi
không thể thoát ngay ra qua lớp bê tông. Nhưng các khoảng ẩm ướt sẽ hình thành
vì dòng nước nóng trong nhiều ngôi nhà cũ được nối với hệ thống cống ngầm và rò
rỉ vào tầng hầm khi những cái ống bị vỡ, nó nóng lên và hơi nước sẽ bốc lên
trên bề mặt. Những tấm ván lót sàn vì thế bị cong đi.”
Đến lúc
này Erlendur đã giành được sự chú ý tuyệt đối của họ.
“Và Marion đã nói cho ông biết tất cả chuyện
đó?” Sigurdur Óli hỏi.
“Để sửa
chữa sự cố đó anh phải đào nền nhà lên.” Erlendur nói tiếp, “và xuyên qua móng
để sửa đường ống. Những người thợ đã nói với Marion rằng đôi lúc khoan qua sàn nhà, họ
gặp phải một hố sâu. Có chỗ sàn nhà khá mỏng và bên dưới có cả một túi khí.
Mặt đất đã lún được nửa mét, thậm chí có thể là cả mét. Tất cả là do đất đầm
lầy.”
Sigurdur
Óli và Elínborg nhìn nhau.
“Vậy có
cái hố nào ở dưới sàn nhà này không?” Elínborg hỏi, lấy một chân giậm giậm.
Erlendur
mỉm cười.
“Marion thậm chí đã cố gắng tìm ra người thợ sửa chữa đã từng đến
ngôi nhà này trong cái năm diễn ra đại lễ quốc gia. Mọi người đều nhớ cái năm
đó và người đàn ông còn nhớ rõ ràng là đã đến đây bởi sàn nhà bỗng trở nên ẩm
ướt.”
“Thế ông
muốn nói gì nào?” Sigurdur Óli hỏi.
“Người
thợ đó đã phá sàn nhà ở đây. Lớp sàn không dày lắm. Có rất nhiều hố bên dưới. Người
thợ đó nhớ việc mình làm rất rõ bởi ông ta rất ngạc nhiên khi
Holberg không để ông ta hoàn thành nốt công việc của mình.”
“Rồi sao nữa?”
“Người
thợ phá sàn nhà ra và sửa đường ống, sau đó Holberg ném ông ta ra ngoài và nói
rằng mình sẽ tự làm nốt. Và ông ta đã làm.”
Họ đứng
yên lặng cho đến khi Sigurdur Óli không thể nén nổi tò mò nữa.
“Marion Briem?” Anh nói. “Marion Briem!” Anh nhắc đi nhắc lại cái tên như
thể là đang cố gắng để hiểu nó. Erlendur đã đúng. Anh còn quá trẻ nên không nhớ
được
Marion đã từng làm trong lực lượng. Anh nhắc lại cái tên như thể đó
là một câu đố hóc búa, sau đó đột nhiên anh dừng lại và trông rất trầm ngâm, rồi
anh hỏi:
“Đợi một chút. Cái người tên Marion này là ai? Là đàn ông hay đàn
bà vậy?”
Sigurdur
Óli nhìn Erlendur đầy dò xét.
“Đôi lúc
tôi cũng tự hỏi như vậy đấy,” Erlendur đáp và rút điện thoại ra.
27
Đội pháp
y bắt đầu đào bới sàn nhà. Họ phải mất một ngày mới được cho phép tiến hành
việc đó. Erlendur đã trình bày vụ của mình trong một cuộc họp với ủy viên cảnh
sát, và ông ta đã đồng ý, mặc dù hơi lưỡng lự, rằng họ có đủ chứng cứ và nghi
vấn cần thiết để đào sàn nhà Holberg lên. Vấn đề được bàn rất gấp gáp vì vụ
giết người xảy ra trong tòa nhà.
Erlendur
trình bày về vụ khai quật như là một sự kết nối đến việc truy tìm kẻ đã sát hại
Holberg, ông ẩn ý rằng Grétar rất có thể đang còn sống và là kẻ sát nhân. Cảnh
sát sẽ được lợi gấp đôi từ việc khai quật. Nếu linh cảm của Marion Briem là
đúng, nghi phạm lớn nhất sẽ là Grétar và cảnh sát sẽ giải quyết được vụ mất
tích kéo dài hơn một phần tư thế kỷ này.
Người ta
điều chiếc xe tải có kích cỡ lớn nhất đến để chở toàn bộ những thứ chứa trong
nhà Holberg. Trời đã bắt đầu sẩm tối khi chiếc xe tải quay trở lại ngôi nhà và ngay sau đó một chiếc
máy kéo lối ra một cái máy khoan khí nén. Một nhóm chuyên gia pháp y đã tập hợp
ở đó và có thêm các thám tử cùng tham gia với họ. Những người sống trong tòa
nhà đã được di dời đi hết.
Trời đã
mưa suốt cả ngày, cũng giống như những ngày hôm trước. Tuy nhiên lúc này mưa đã
ngớt dần trong cơn gió mùa thu và đậu lại trên gương mặt Erlendur khi ông đứng
ở một bên, tay kẹp điếu thuốc. Sigurdur Óli và Elínborg đứng cùng ông. Một đám
đông đã tụ tập trước ngôi nhà, nhưng dường như họ lưỡng lự không dám tiến vào
sâu hơn. Họ là các nhà báo, những người quay phim truyền hình và nhiếp ảnh gia
cho các báo. Xe cộ với đủ mọi kích cỡ được trang trí với đủ loại logo báo chí
và công ty truyền hình có mặt khắp nơi, và Erlendur, người đã cắt hết mọi tiếp
xúc với báo giới, đang băn khoăn không biết có nên giải tán đám đông không.
Căn hộ
của Holberg nhanh chóng bị dọn sạch. Chiếc xe tải lớn vẫn đứng ở sân ngoài
trong khi người ta đang cân nhắc xem nên làm gì với đống đồ đạc. Cuối cùng
Erlendur yêu cầu rằng chúng phải được mang đến kho chứa đồ của cảnh sát. Các
tấm vải sơn lót sàn và các tấm thảm được mang ra khỏi căn hộ và chuyển lên
chiếc xe tải, sau đó chiếc xe ầm ầm chuyển bánh.
Đội
trưởng đội pháp y bắt tay chào Erlendur. Ông ta khoảng năm mươi tuổi,
tên là Ragnar, hơi béo với mái tóc bờm xờm. Ông ta được đào tạo bên Anh, chỉ
đọc truyện kinh dị của Anh và là một người say mê những sê ri trinh thám Anh
trên truyền hình.
“Ông muốn
chúng tôi làm điều quái quỷ gì ở đây nào?” Ông ta hỏi rồi nhìn ra đám nhà báo
và phóng viên. Có một chút hài hước trong giọng nói của ông ta. Ông ta nghĩ
rằng thật là thú vị khi họ đang đào sàn nhà lên để tìm một xác chết.
“Trông nó
như thế nào?”
“Tất cả
sàn nhà đều có một lớp sơn tàu phủ lên,” Ragnar nói. “Tôi không thể đảm bảo
được là chúng có bị làm giả không. Chúng tôi không thấy có lớp bê tông nào mới
hoặc bất kỳ điều gì cho thấy có sự sửa chữa ở đây. Người của tôi đang đập sàn
nhà bằng búa, nhưng dường như các hố có ở khắp nơi. Không biết có phải do bị
lún hay không. Lớp bê tông trong bản thân tòa nhà rất dày, chất liệu tốt, không
có kiềm. Nhưng có rất nhiều hố ẩm trên sàn nhà. Người thợ sửa ống nước mà ông
đã gặp không giúp được chúng ta sao?”
“Ông ta
đang sống trong một nhà nghỉ dưỡng ở Akureyri và nói rằng sẽ không về miền Nam
cho đến cuối đời. Ông ta đã mô tả khá chính xác nơi ông ta phá sàn nhà ngày
trước.”
“Chúng
tôi cũng đã lắp đặt một chiếc camera xuống dưới đường ống nước thải, quan
sát việc thải nước xem có gì bất thường không và xem chúng ta có phát hiện ra
chỗ sửa cũ không.”
“Ông có
thực sự cần một cái máy khoan to đến thế không?” Erlendur hỏi, hất đầu về phía
chiếc máy kéo.
“Chắc
chắn là cần. Chúng tôi có những máy khoan nhỏ hơn, nhưng chúng không đâm thủng
được phân lỏng. Chúng tôi cũng có những máy chạy bằng khí nén và nếu tìm ra hố,
chúng tôi có thể đào xuyên qua lớp bề mặt và luồn một
chiếc camera nhỏ qua nó giống như cái người ta sử dụng để phát hiện
ra những ống cống bị hỏng.”
“Hy vọng
là nó được việc. Chúng tôi không muốn phải đập cả ngôi nhà xuống.”
“Dù sao
thì trong cái đống rác ấy cũng có một mùi hôi thối thật khó chịu,” đội trưởng
đội pháp y nói. Rồi hai người quay trở vào tầng hầm. Ba chuyện gia
pháp y mặc áo trắng với găng tay cao su và búa đang đi lại quanh nhà,
đập vào sàn nhà và đánh dấu những nơi mà họ cho là có hố bằng những chiếc bút
dạ màu xanh.
“Theo cơ
quan điều tra về nhà cửa thì tầng hầm được chuyển thành một căn hộ vào năm 1959,”
Erlendur nói. “Holberg mua nó vào năm 1962 và có lẽ đã chuyển đến đây ngay lập
tức. Ông ta sống ở đây từ hồi đó.”
Một trong
số các chuyên gia pháp y đến chỗ họ và chào Erlendur. Anh ta có một
tập bản vẽ về tòa nhà, mỗi bản vẽ một tầng.
“Các nhà
vệ sinh nằm ở trung tâm mỗi tầng. Các ống nước thải đi từ các tầng trên xuống
và đi đến lớp nền móng - nơi có nhà vệ sinh của tầng hầm. Nó đã ở trong tầng
hầm trước khi người ta sửa sang lại, và các ông có thể tưởng tượng ra là căn hộ
này được thiết kế xung quanh nó. Nhà vệ sinh được nối với đường ống nước thải
trong phòng tắm, sau đó cái ống tiếp tục đâm ra phía Đông qua một phần phòng
khách, luồn xuống dưới phòng ngủ và đi ra đường.”
“Việc tìm
kiếm không dính líu đến đường ống nước thải,” ông đội trưởng nói.
“Không, nhưng
chúng tôi đã đặt một chiếc camera vào ống dẫn từ ngoài đường. Họ mới
nói với tôi là cái ống bị tách ra khi nó đến phòng ngủ và chúng tôi thấy cần
phải xem qua chỗ đó trước. Nó ở cùng cái chỗ mà tôi nghĩ là sàn nhà đã bị phá
ra.”
Ragnar
gật đầu và nhìn Erlendur, người lúc này đang nhún vai như thể là những gì mà
bên pháp y làm chẳng liên quan gì đến ông cả.
“Đường
ống không thể nào bị tách ra cách đây quá lâu,” ông đội trưởng nói. “Mùi có lẽ
bốc lên từ đó. Ông nói rằng người đàn ông này đã bị chôn dưới móng nhà cách đây
hơn hai mươi lăm năm sao?”
“Ít nhất
là cái gã ấy đã mất tích kể từ ngày đó,” Erlendur nói. Lời nói của họ lẫn vào
tiếng búa đập thùm thụp và trở thành một chuỗi vang vọng ầm ĩ liên tục giữa các
bức tường trống. Chuyên gia pháp y lấy thiết bị bảo vệ tai ra khỏi
một chiếc hộp nhỏ và đeo chúng vào, sau đó cầm lấy một chiếc máy khoan điện
loại nhỏ và cắm điện. Anh ta bấm cái nút mấy lần để thử, rồi nhấn nó xuống sàn
nhà và bắt đầu phá. Âm thanh thật khủng khiếp và những người còn lại trong đội
cũng phải đeo thiết bị bảo vệ tai. Anh ta tiến từng chút một. Lớp bê tông cứng
tróc ra. Anh ta thôi không thử nữa và lắc đầu.
“Chúng ta
cần phải khởi động cái máy kéo thôi,” anh ta nói, bụi trắng bao phủ khắp mặt. “Và
mang cả cái máy khí nén vào nữa. Chúng ta cần mặt nạ. Rốt cuộc là cái gã ngu
ngốc nào đã nghĩ ra cái ý tưởng hay ho này vậy?” Anh ta nói và đập vào sàn nhà.
“Holberg
chắc hắn sẽ không dùng đến một cái máy nén khí dưới chỗ tối tăm thế đâu,” người
đội trưởng nhận xét.
“Ông ta
không cần phải làm gì dưới đó hết,” Erlendur nói. “Chính người thợ sửa cống đã
đào cái hố trên sàn nhà cho ông ta.”
“Ông có
cho là Holberg đã ném Grétar xuống hố phân không?”
“Chúng ta
sẽ xem xem. Có thể tất cả đều là sai lầm.”
Erlendur
bước ra ngoài. Sigurdur Óli và Elínborg đang ngồi trên xe ăn xúc xích mà
Sigurdur Óli đã mua từ cửa hàng gần nhất. Một phần xúc xích vẫn đang chờ
Erlendur trên bảng đồng hồ. Ông ăn ngấu nghiến.
“Nếu
chúng ta tìm ra thi thể của Grétar ở đây, điều đó có nghĩa là gì?” Elínborg hỏi
Erlendur và lau miệng.
“Giá mà
tôi biết được,” Erlendur nói một cách trầm tư. “Tôi chỉ ước là tôi biết được!”
Lúc này
ông chánh thanh tra chạy ra và đập vào cửa kính gọi Erlendur tới chỗ mình một
lát. Sigurdur Óli và Elínborg cùng ra khỏi xe. Chánh thanh tra tên là Hrólfur và ông ta đã nghỉ ốm cả ngày, tuy
nhiên lúc này trông ông ta khỏe như vâm. Hrólfur rất béo và cái cách ông ta ăn mặc
chẳng còn giấu điều đó được là bao. Ông ta thuộc tuýp người lười nhác và hiếm
khi đóng góp được điều gì cho quá trình điều tra. Năm nào ông ta cũng nghỉ ốm
nhiều tuần liền.
“Tại sao
tôi không được thông báo về cuộc khai quật này?” ông ta hỏi đầy tức giận.
“Ông bị
ốm mà.” Erlendur đáp.
“Thật là
nhảm nhí,” Hrólfur nói. “Đừng có nghĩ rằng ông có thể điều hành cả cơ quan theo
ý mình. Tôi là cấp trên của ông đấy. Ông phải nói với tôi về vụ khai quật này
trước khi để cho những ý nghĩ ngu ngốc thậm tệ của mình trở thành sự thực!”
“Đợi một
chút, tôi đã nghĩ rằng ông bị ốm mà,” Erlendur nhắc lại, giả vờ ngạc nhiên.
“Và ông
đã nghĩ thế nào mà lại lừa dối cả ủy viên hội đồng cảnh sát như thế?” Hrólfur
rít lên. “Làm thế nào
mà ông lại nghĩ rằng có một người đàn ông dưới sàn nhà này cơ chứ? Ông chẳng có
gì khẳng định điều đó cả. Hoàn toàn chẳng có gì ngoài mấy chuyện cứt về nền móng ngôi nhà và mùi
hôi thối. Ông bị điên rồi à?”
Sigurdur
Óli ngập ngừng bước về phía họ.
“Có một
người phụ nữ ở đây mà tôi nghĩ là ông phải nói chuyện với bà ta, Erlendur,”
anh nói rồi đưa ra chiếc điện thoại mà Erlendur đã để
quên trong ô tô. “Đó là chuyện riêng tư. Bà ấy đang khá là kích động.”
Hrólfur quay sang nhìn Sigurdur Óli, yêu cầu anh ta xéo đi và để họ
nói chuyện.
Sigurdur
Óli không làm theo lời yêu cầu đó.
“Ông phải
nói chuyện với bà ta ngay lập tức, Erlendur.”
“Chuyện
này có nghĩa là gì vậy? Ông hành xử như thể là tôi không tồn tại
vậy!” Hrólfur quát lên, giậm chân bình bịch. “Đây không phải là một sự
thông đồng khốn nạn sao? Erlendur, nếu chúng ta cứ tiếp tục xới tung nền móng
nhà dân lên bởi vì chúng bốc mùi, rốt cuộc chúng ta sẽ chẳng làm được gì khác
nữa. Điều này quá vô lý! Thật là lố bịch!”
“Marion Briem đã đưa ra ý tưởng thú vị này,” Erlendur vẫn hoàn toàn
điềm tĩnh, “và tôi cho rằng nó đáng để điều tra. Ủy viên hội đồng cảnh sát cũng
nghĩ vậy. Hãy tha lỗi cho tôi vì đã không báo cáo với ông, nhưng tôi rất vui vì
thấy ông đã khỏe lại. Và tôi thực sự muốn nói, Hrólfur, rằng trông ông rất khỏe mạnh. Thứ
lỗi cho tôi nhé.”
Erlendur
đi ngang qua Hrólfur, người lúc này đang nhìn chằm chằm vào ông và Sigurdur Óli, sẵn
sàng để đáp trả điều gì đó, nhưng lại chẳng biết phải nói gì.
“Có một
việc,” Erlendur nói, “đáng lẽ ra tôi đã phải làm việc đó từ lâu lắm rồi.”
“Sao cơ?”
Sigurdur Óli hỏi.
“Liên hệ
với Cơ quan quản lý Bến cảng và Hải đăng để xem họ có thể cho chúng ta biết
liệu Holberg có ở Húsavík hoặc quanh đó trong những năm đầu 1960 không.”
“Được rồi.
Đây, ông nói chuyện với người phụ nữ này đi.”
“Người
phụ nữ nào cơ?” Erlendur nói và cầm lấy điện thoại. “Tôi chẳng quen biết người
phụ nữ nào cả.”
“Người ta
nối máy bà ta với điện thoại của ông. Bà ta đã hỏi tìm ông ở sở cảnh sát. Họ
nói rằng ông bận, nhưng bà ta cứ khăng khăng đòi nói chuyện.”
Lúc này
chiếc máy khoan khí nén trên xe kéo bắt đầu nổ máy. Một âm thanh đinh tai vang
lên từ tầng hầm và một đám bụi dày cuộn lên. Cảnh sát đã che hết các cửa sổ nên
không ai có thể nhìn vào bên trong. Tất cả mọi người trừ người điều khiển chiếc
khoan đều đã ra ngoài và đứng ở một khoảng cách khá xa, chờ đợi. Họ xem đồng hồ
và hình như đang thảo luận xem đã muộn đến thế nào. Họ biết rằng mình
không thể tiếp tục làm ồn như vậy suốt cả đêm ở giữa khu dân cư đông đúc. Họ sẽ
phải kết thúc sớm và tiếp tục làm vào sáng hôm sau hoặc phải tìm cách khác.
Erlendur
chạy nhanh về phía ô tô với chiếc điện thoại và đóng cửa để tránh tiếng ồn. Ông
nhận ra giọng nói ngay lập tức.
“Hắn ta ở
đây,” Elín nói ngay khi bà nghe thấy giọng Erlendur trên điện thoại. Dường
như bà đang rất kích động.
“Thư giãn
nào, Elín,” Erlendur nói. “Bà đang nói về ai vậy?”
“Hắn ta
đứng trước cửa nhà dưới trời mưa, nhìn chằm chằm vào tôi.” Giọng bà chuyển sang
thì thầm.
“Ai cơ, Elín?
Bà có ở nhà không? ở Keflavík ấy?”
“Tôi
không biết hắn đến khi nào, tôi cũng không biết hắn đứng đó được bao lâu rồi. Tôi
chỉ nhận ra hắn thôi. Người ta không nối điện thoại cho tôi gặp ông.”
“Tôi
không hiểu lắm. Bà đang nói về ai vậy, Elín?”
“Tất
nhiên là về người đàn ông đó rồi. Con quái vật ấy. Tôi chắc chắn điều đó.”
“Ai cơ?”
“Tên súc
vật đã tấn công Kolbrún!”
“Kolbrún?
Bà đang nói đến chuyện gì thế?”
“Tôi biết.
Chuyện này không thể diễn ra được, nhưng hắn ta cứ đứng ở đây suốt.”
“Bà đang
nhầm lẫn gì phải không?”
“Đừng có
nói là tôi nhầm lẫn. Đừng nói thế! Tôi biết đích xác những gì mình đang nói mà.”
“Ai đã
tấn công Kolbrún?”
“Trời ơi,
là HOLBERG ấy!” Thay vì lên giọng, Elín rít lên qua điện thoại. “Hắn ta đang
đứng bên ngoài nhà tôi!”
Erlendur
không nói gì.
“Ông còn
ở đó không?” Elín thì thào, “Ông sẽ làm gì?”
“Elín,”
Erlendur nói một cách nhấn mạnh. “Đó không thể là Holberg được. Ông ta đã chết
rồi. Chắc đó là ai đó.”
“Đừng có nói với tôi như thể tôi là một đứa trẻ vậy.
Hắn ta đang đứng ở ngoài kia dưới trời mưa, nhìn tôi chằm chằm. Cái con quái
vật ấy.”

