Vết Bớt Màu Cà Phê Sữa - Chương 07 - 08 - 09
7
Anh chàng trong
vai chú rể đón Erlendur vào văn phòng của mình. Anh ta là người quản lý chất lượng
và marketing cho một công ty bán sỉ chuyên nhập khẩu ngũ cốc từ Mỹ. Erlendur, người
chưa từng được nếm một bữa sáng kiểu Mỹ trong đời, tự đặt ra câu hỏi: thực ra
thì một nhà quản lý chất lượng và marketing của một công ty bán sỉ làm những
công việc gì? Ông cũng không buồn hỏi. Chú rể mặc một chiếc sơ mi trắng được là
cẩn thận với quần đeo dây. Anh ta cũng đã xắn ống tay áo lên như thể những vấn
đề liên quan đến quản
lý chất lượng đã khiến anh ta phải hao tâm tổn lực rất nhiều. Anh ta là
người tầm thước, hơi mập mạp một chút, có một hàng ria mép bao quanh miệng với
cặp môi dày cộm. Tên anh ta là Viggó.
“Tôi vẫn
chưa nhận được tin tức gì từ Disa,” Viggó nói nhanh rồi ngồi xuống đối
diện Erlendur.
“Có phải
do cậu nói điều gì với cô ấy mà...”
“Ai cũng
nghĩ vậy đấy,” Viggó nói. “Mọi người nghĩ rằng nó là lỗi của tôi. Thật quá
tồi tệ. Phần tồi tệ nhất trong toàn bộ vấn đề. Tôi không thể chịu nổi điều đó.”
“Anh có
để ý đến điều gì đặc biệt ở Dísa trước khi cô ấy chạy trốn
không? Bất cứ điều gì khiến cho cô ấy thất vọng ấy?”
“Tất cả
mọi người đều rất vui vẻ. Ông biết đấy, một đám cưới mà, ông hiểu tôi muốn nói
gì phải không?”
“Không.”
“Chắc
chắn là ông đã đến đám cưới rồi chứ?”
“Một lần.
Nhưng cách đây lâu lắm rồi.”
“Lúc đó
đã đến giờ nhảy điệu đầu tiên. Những bài phát biểu đã chấm dứt và các bạn
gái của Dísa tổ chức một số trò vui để giải trí, nhạc công accordion đã
đến và chúng tôi chuẩn bị nhảy. Lúc đó tôi
đang ngồi ở bàn và mọi người bắt đầu tìm Dísa, nhưng cô ấy
đã đi rồi.”
“Lần cuối
anh nhìn thấy cô ấy là khi nào?”
“Cô ấy
ngồi bên tôi và nói rằng cô ấy cần đi vệ sinh.”
“Thế anh
có nói điều gì khiến cô ấy hờn dỗi không?”
“Không!
Tôi hôn cô ấy và bảo cô ấy đi nhanh lên.”
“Từ lúc
cô ấy đi đến khi các anh bắt đầu tìm cô ấy khoảng bao lâu?”
“Tôi
không biết. Tôi ngồi xuống với các bạn của mình, sau đó ra ngoài hút thuốc -
tất cả những người hút thuốc đều phải ra ngoài. Tôi nói chuyện với vài người ở
đó và cả lúc quay vào cũng vậy. Sau đó tôi ngồi xuống, rồi người chơi
đàn accordion đi đến và thảo luận với tôi về điệu nhảy cùng bài nhạc.
Tôi còn nói chuyện với vài người khác, chắc khoảng tầm nửa tiếng, tôi cũng
không biết nữa.”
“Và anh
không nhìn thấy Dísa lần nào trong thời gian đó?”
“Không. Khi
chúng tôi nhận ra thì cô ấy đã biến mất, đó thực sự là một thảm
họa. Tất cả mọi người đều nhìn vào tôi như thể đó là lỗi của tôi vậy.”
“Anh nghĩ
là chuyện gì đã xảy ra với cô ấy?”
“Tôi đã
đi tìm khắp nơi, nói chuyện với tất cả bạn bè và người thân của cô ấy
nhưng không ai biết gì hết, hoặc đó là điều mà họ nói.”
“Anh có
nghĩ là có ai đó đã nói dối không?”
“Ờ thì
chắc chắn cô ấy phải ở một chỗ nào đó.”
“Anh có
biết là cô ấy đã để lại một lời nhắn không?”
“Không. Lời
nhắn gì? Ý ông là sao?”
“Cô ấy
treo một tấm thiệp lên cái cây nhắn gửi. ‘Anh ta là một con quỷ, tôi đã
làm gì thế này?’ - đó là nội dung tấm thiệp. Anh có biết cô ấy nói thế là
có ý gì không?”
“Anh ta
là một con quỷ,” Viggó nhắc lại, “cô ấy đang nói đến ai thế nhỉ?”
“Tôi nghĩ
đó có thể là anh.”
“Là tôi
á?” Viggó ngạc nhiên, bắt đầu trở nên kích động. “Tôi có làm gì cô
ấy đâu, chưa hề! Chưa bao giờ. Đó không phảilà tôi. Đó
không thể là tôi!”
“Cái xe
mà cô ấy lấy đi được tìm thấy ở Gardastraeti. Nơi đó có gợi cho anh nghĩ đến
điều gì không?”
“Cô ấy
không quen ai ở đó cả. Các ông có định thông báo về việc cô ấy mất tích không?”
“Tôi cho
là bố mẹ cô ấy muốn cho cô ấy thời gian để quay về.”
“Vậy nếu
cô ấy không về thì sao?”
“Lúc ấy
chúng tôi sẽ xem xét...” Erlendur lưỡng lự. “Tôi đã nghĩ
là cô ấy liên lạc với anh, để báo với anh là mọi chuyện ổn cả.”
“Hượm đã,
có phải ông đang cho rằng đó là lỗi của tôi và cô ấy không nói gì với tôi vì tôi
đã làm điều gì đó với cô ấy không? Lạy Chúa, thật là một câu chuyện kinh dị đẫm
máu. Ông có hiểu ngày thứ Hai tôi đi làm nó như thế nào không? Tất cả đồng
nghiệp của tôi đều đến dự tiệc, sếp của tôi cũng đến. Ông nghĩ đó là lỗi của
tôi à? Mẹ kiếp! Tất cả đều nghĩ là do lỗi của tôi!”
“Đàn bà,”
Erlendur nói khi ông đứng lên. “Thật khó để quản lý chất lượng của họ.”
Erlendur
vừa về đến văn phòng thì chuông điện thoại kêu. Ông nhận ra giọng người gọi
ngay lập tức mặc dù đã lâu lắm rồi ông không nghe thấy giọng nói đó. Nó vẫn còn
trong, khỏe và chắc dù người nói đã khá lớn tuổi. Eriendur đã biết Marion Briem trong gần ba mươi năm qua và
mối quan hệ của họ không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió.
“Tôi vừa
từ biệt thự về,” giọng nói vang lên, “và về đến thị trấn tôi mới biết tin.”
“Cô đang
nói đến Holberg phải không?” Erlendur hỏi.
“Anh đã
xem qua các báo cáo về ông ta chưa?”
“Sigurdur
Óli đã kiểm tra các báo cáo trên máy tính nhưng tôi vẫn chưa nghe tin tức gì từ
anh ta cả. Báo cáo nào vậy?”
“Câu hỏi
đặt ra là liệu chúng có thực sự còn được lưu giữ trên máy tính hay không. Có
thể là chúng đã bị vứt đi rồi. Có luật nào nói về thời gian các báo cáo trở nên
vô hiệu lực không? Có phải chúng đã bị hủy đi rồi không?”
“Cô đang
nói đến điều gì vậy?”
“Té ra là
Holberg không phải là một công dân mẫu mực,” Marion Briem trả lời.
“Theo
kiểu như thế nào mới được chứ?”
“Có khả
năng ông ta là một kẻ hiếp dâm.”
“Có khả
năng?”
“Ông ta
bị kiện vì tội hiếp dâm, nhưng chưa bao giờ bị kết án. Đó là vào năm 1963. Anh
phải xem các báo cáo của mình đi.”
“Ai kiện
ông ta?”
“Một
người phụ nữ tên là Kolbrún. Bà ta sống ở...”
“Keflavík phải không?”
“Phải, sao
anh biết?”
“Chúng
tôi tìm thấy một bức ảnh trong ngăn kéo bàn của Holberg. Dường như nó được giấu
ở đó vậy. Đó là bức ảnh chụp ngôi mộ của một bé gái tên là Audur, trong một
nghĩa trang mà chúng tôi chưa xác định được. Tôi đã đánh thức một cái thây sống
ở Tổng cục Thống kê quốc gia và tìm thấy tên của Kolbrún trên giấy chứng tử. Đó
là mẹ của Audur. Bà ta cũng đã chết rồi.”
Marion không nói gì cả.
“Marion?” Erlendur gọi.
“Thế anh
nghĩ sao?” Giọng nói đáp lại.
Erlendur
suy nghĩ.
“Theo tôi,
nếu như Holberg đã cưỡng hiếp người mẹ thì có thể ông ta là cha đứa trẻ, và đó
là lý do tại sao tấm ảnh lại ở trong bàn của ông ta. Cô bé sinh năm 1964, mới
có bốn tuổi thì chết.”
“Holberg
chưa bao giờ bị kết án cả,” Marion Briem nói. “Vụ án bị khép lại vì không có
đủ bằng chứng.”
“Cô có
nghĩ là bà ta đã dựng lên chuyện đó không?”
“Vào thời
ấy thì đó là điều không thể, nhưng như thế cũng không chứng minh được gì. Tất
nhiên là phụ nữ không dễ dàng gì được bồi thường cho những kiểu tội ác như vậy.
Anh không thể tưởng tượng được bà ta đã phải trải qua những gì trong suốt gần
bốn mươi năm đầu. Ngày nay phụ nữ có thể vượt qua được, nhưng ngày ấy thực sự
là rất khó. Bà ta khó có thể làm chuyện ấy chỉ để bông đùa. Có thể bức ảnh đó
là bằng chứng về tình cha con. Tại sao Holberg lại phải giấu tấm ảnh ấy trong
bàn? Vụ hiếp dâm xảy ra năm 1963. Anh nói rằng Kolbrún có con gái một năm sau
đó. Bốn năm sau cô bé chết, Kolbrún đã chôn cất cô bé. Holberg cũng bị dính líu
vào chuyện đó vì một lý do nào đấy. Có thể ông ta tự mình chụp bức ảnh. Tại sao,
tôi không biết. Có vẻ điều đó không thuyết phục.”
“Chắc
chắn là ông ta không thể đến dự đám tang, nhưng sau đó ông ta có thể đến ngôi
mộ và chụp một bức ảnh. Ý cô là như thế phải không?”
“Cũng có
một khả năng khác.”
“Sao cơ?”
“Có thể
Kolbrún tự chụp bức ảnh và gửi nó cho Holberg.”
“Nhưng
tại sao? Nếu đã bị ông ta hiếp, tại sao bà ấy lại gửi cho ông ta ảnh ngôi mộ
của cô bé?”
“Câu hỏi
hay đấy.”
“Giấy
chứng tử có nói rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết của Audur không?” Marion Briem hỏi. “Đó có phải là
một tai nạn không?”
“Cô bé
chết vì bệnh u não. Theo cô điều đó có quan trọng không?”
“Người ta
có làm xét nghiệm tử thi không?”
“Chắc
chắn rồi. Có tên của bác sĩ trên giấy chứng tử mà.”
“Thế còn
người mẹ?”
“Chết đột
ngột tại nhà.”
“Tự tử
à?”
“Phải.”
“Anh đã
thôi không gọi điện để gặp tôi nữa,” Marion nói sau một khoảng lặng ngắn
ngủi.
“Tôi bận
quá,” Erlendur nói. “Bận vô cùng.”
8
Sáng
hôm sau, trời vẫn mưa và trên đường đến Keflavík, nước tràn vào các vết
bánh xe tạo thành các hố lầy. Mưa tuôn xối xả làm Erlendur khó có thể
thấy gì, cửa kính lúc này đã sũng nước và kêu lạch cạch trong cơn bão khủng
khiếp triền miên của vùng Đông Nam. Những chiếc cần gạt nước làm việc không kịp
trên kính chắn gió, Erlendur ghì chặt vô lăng đến nỗi các đốt ngón tay của ông
trắng bệch, ông lờ mờ nhìn thấy màu đèn đỏ của chiếc xe đi đằng trước và cố gắng bám họ hết sức
có thể.
Ông đi
một mình, nghĩ rằng như thế này là tốt nhất sau cuộc nói chuyện điện thoại khó
khăn với chị gái của Kolbrún buổi sáng hôm đó. Trong giấy chứng tử bà ta được
liệt vào danh sách thân nhân tiếp theo. Thái độ của người chị gái không được
hợp tác cho lắm. Bà ta từ chối gặp Erlendur. Hình ảnh Holberg chết đã xuất hiện
trên mặt báo. Erlendur hỏi người phụ nữ rằng bà có nhìn thấy hình ảnh đó không
và đang chuẩn bị hỏi liệu bà có còn nhớ ông ta không thì máy đã cúp. Ông
quyết định thử xem bà ta sẽ làm gì nếu thấy ông xuất hiện trên bậc cửa nhà mình,
ông không muốn để cảnh sát đến áp giải bà ta về chỗ mình.
Erlendur
đã trải qua một đêm thật tồi tệ. Ông rất lo cho Eva Lind và sợ con bé sẽ làm điều gì ngu
ngốc. Con bé có điện thoại, nhưng mỗi lần ông gọi là tiếng trả lời tự động lại
vang lên nói rằng số máy không liên lạc được. Erlendur hiếm khi nhớ lại giấc mơ
của mình, ông thấy không thoải mái khi phải thức dậy để vồ lấy một cơn ác
mộng vừa trôi qua trong đầu trước khi nó hoàn toàn biến mất.
Cảnh sát
đã thu thập được vài thông tin quý giá về Kolbrún. Bà ta sinh năm 1934, từng
kiện Holberg về tội hiếp dâm vào ngày 23-11-1963. Trước khi Erlendur
khởi hành đi Keflavík, Sigurdur Óli đã thuật lại vụ kiện tụng đó cho ông
nghe, đồng thời còn mô tả lại cách thức lấy thông tin vụ kiện từ hồ sơ của cảnh
sát mà Sigurdur Óli đã tìm thấy trong phòng lưu trữ - sau khi nhận được lời gợi
ý từ Marion Briem.
Năm ba
mươi tuổi Kolbrún sinh Audur, chín tháng sau vụ hiếp dâm. Theo lời các nhân
chứng của Kolbrún thì cô ta đã gặp Holberg ở một vũ trường giữa Keflavík và Njardvik. Đó là một đêm thứ Bảy. Kolbrún
không biết và cũng chưa từng gặp ông ta bao giờ. Cô ta đi cùng hai người
bạn gái, còn Holberg cũng đi với hai người đàn ông khác. Họ đã ở cùng nhau
trong vũ trường đêm hôm đó. Khi các điệu nhảy kết thúc, tất cả bọn họ đi dự
tiệc tại nhà một bạn gái của Kolbrún. Khá muộn Kolbrún mới chuẩn bị ra về. Holberg
đề nghị đưa cô ta về vì muốn cô ta được an toàn. Kolbrún cũng không phản đối. Cả hai người đều không
say. Kolbrún nói rằng cô đã uống hết hai
chai Vodka và Cokes ở vũ trường và sau đó không uống gì
thêm. Còn Holberg không uống gì suốt buổi tối hôm ấy. Theo những gì Kolbrún
nghe được thì ông ta nói rằng mình đang phải tiêm penecilin để trị chứng nhiễm
trùng ở tai. Có giấy chứng nhận của bác sĩ kèm với phiếu thanh toán khẳng định
điều đó là đúng.
* *
*
Holberg
hỏi xem liệu có thể gọi một taxi đến Reykjavík không. Kolbrún do dự một lát rồi
chỉ cho ông ta chỗ chiếc điện thoại. Holberg đi vào phòng khách để gọi điện
trong khi Kolbrún cởi áo khoác ở hành lang và vào bếp lấy một cốc nước. Cô
không nghe thấy ông ta kết thúc cuộc đàm thoại của mình, nếu đúng là nó có thật.
Cô cảm thấy ông ta đột ngột xuất hiện ngay đằng sau khi cô đứng bên bồn rửa bát.
Cô giật
mình đến mức đánh rơi cả cốc, làm đổ nước lênh láng ra bàn ăn. Cô hét lên khi bàn
tay ông ta bắt đầu vồ lấy ngực mình, cô lao vội vào một góc để tránh.
“Anh làm
cái trò gì thế?” Kolbrún thét lên.
“Chúng ta
vui vẻ một chút được không nào?” Holberg trả lời và đứng ngay trước mặt cô, cơ
bắp cuồn cuộn với bàn tay rắn chắc và những ngón tay to sụ.
“Tôi yêu
cầu anh đi ra cho,” cô nói quả quyết. “Ngay bây giờ! Anh làm ơn đi ngay cho!”
“Chúng ta
vui vẻ một chút đi!” Hắn nhắc lại rồi bước một bước lại gần cô. Cô khoanh tay
lại như để tự vệ.
“Lùi
lại!” Cô thét lên. “Tôi gọi cho cảnh sát bây giờ!”
Bất thình
lình cô cảm thấy mình thật đơn độc và yếu đuối khi phải đối đầu với người
đàn ông lạ mặt này, người mà cô đã mời về nhà và hắn đang tiến đến gần hơn, vặn
tay cô ra đằng sau rồi đang cố gắng hôn cô.
Cô chống
trả lại, nhưng vô ích. Cô cố gắng nói với hắn, yêu cầu hắn dừng lại, nhưng tất
cả những gì cô cảm thấy chỉ là sự tổn thương của chính mình.
* * *
Erlendur
thoát ra khỏi dòng suy nghĩ miên man khi một chiếc xe tải khổng lồ rú còi inh
ỏi và ầm ầm vượt qua Erlendur khiến cho sóng nước té tới tấp vào xe ông. Erlendur
giật manh vô lăng khiến chiếc xe nhảy chồm lên trong làn nước. Đuôi xe xoay
vòng, trong một giây Erlendur đã nghĩ rằng mình sắp mất kiểm soát và sẽ bị ném
vào vũng lầy mất. Ông cố dừng hẳn lại và nỗ lực giữ xe bám trên mặt đường, sau
đó chửi mắng tên lái xe tải thậm tệ, nhưng lúc đó hắn đã biến mất khỏi tầm nhìn
của ông trong làn mưa tầm tã.
Hai mươi
phút sau ông đỗ xe trước một ngôi nhà mái tôn nhỏ trong khu vực cũ
kỹ nhất của Keflavík. Ngôi nhà sơn trắng với một hàng rào trắng
nhỏ bao quanh và một khu vườn được giữ quá cẩn thận. Người chị gái tên là Elín.
Bà ta hơn Kolbrún vài tuổi và đã về hưu. Bà ta đang đứng ở sảnh trước, mặc một
chiếc áo mưa và đang chuẩn bị ra ngoài khi Erlendur gọi cửa. Bà ta nhìn
ông đầy kinh ngạc. Đó là một người phụ nữ thấp, mảnh khảnh với khuôn mặt đầy
khắc nghiệt, ánh mắt sắc, xương gò má cao và khóe miệng đầy nếp nhăn.
“Hẳn tôi đã
nói với ông rằng tôi không muốn can dự gì đến ông hay cảnh sát!” Người phụ nữ
nói đầy tức giận khi Erlendur giới thiệu về mình.
“Tôi biết,”
Erlendur nói, “nhưng...”
“Tôi yêu
cầu ông để tôi được yên,” bà ta nói. “Ông không nên phí thời gian đến đây.”
Người phụ
nữ bước ra bậc cửa, đóng sầm cửa lại rồi đi ra vườn và mở cái cửa nhỏ ở hàng
rào, cứ để nó mở như thế ám chỉ rằng bà ta muốn Erlendur rời khỏi đây. Bà ta
còn không thèm nhìn mặt ông nữa. Erlendur đứng trên bậc cửa và nhìn theo bóng
bà ta.
“Bà biết
là Holberg đã chết.”
Người phụ
nữ không trả lời.
“Ông ta
bị giết tại nhà. Bà biết điều đó.”
Erlendur
lúc này đang đứng ở bậc thềm cuối cùng, ông vội đuổi theo bà ta. Người phụ nữ
che một cái ô màu đen và nước mưa rơi như trút lên trên đó. Còn Erlendur thì
chẳng có gì ngoài cái mũ để che chắn. Bà ta rảo bước nhanh
hơn. Erlendur chạy để đuổi theo, ông không biết phải nói gì để yêu cầu
người phụ nữ đó nghe mình, không hiểu tại sao bà ta lại cư xử như vậy.
“Tôi muốn
hỏi bà về Audur,” ông nói.
Elín bất
ngờ dừng lại và quay ngoắt lại, ném cho ông một cái
nhìn khinh bỉ.
“Các
người là lũ cớm chết tiệt,” bà ta rít lên qua hàm răng nghiến chặt. “Ông mà
cũng dám nhắc đến tên con bé à? Làm sao ông dám? Sau tất cả những gì mà các ông
đã đối xử với mẹ nó? Cút đi! Cút ngay bây giờ! Đồ cớm khốn nạn!”
Người phụ
nữ nhìn Erlendur với ánh mắt căm thù, còn ông nhìn lại bà ta chằm chằm.
“Sau tất
cả những gì chúng tôi làm với cô ấy ư?” ông nói. “Với ai cơ?”
“Cút đi!”
Bà ta hét lên rồi quay đi và rảo bước, để Erlendur đứng trơ lại một mình, ông
không đuổi theo nữa mà nhìn theo người phụ nữ cho đến khi bà ta
biến mất trong làn mưa, người hơi cúi, khoác chiếc áo mưa
xanh lục và đi một đôi bốt thấp cổ. Erlendur quay lại,
đi về phía nhà bà ta và chiếc xe của mình, suy nghĩ mông lung, ông
chui vào xe và châm một điếu thuốc, hơi hé cửa kính, khởi động máy và
chầm chậm lái xe ra khỏi ngôi nhà.
Khi hít
vào, ông lại cảm thấy nhói đau nơi vùng ngực. Điều này xảy ra khá lâu rồi. Nó
khiến Erlendur lo lắng gần một năm nay. Một nỗi đau mơ hồ đón chào ông vào
mỗi buổi sáng nhưng thường biến mất ngay sau khi ông ra khỏi giường, ông không
có đệm tốt để nằm. Đôi lúc cả người ông đau ê ẩm khi nằm trên giường quá lâu.
Ông hít
hơi thuốc vào. Hy vọng đó là do cái đệm.
Khi
Erlendur dập tắt điếu thuốc, chuông điện thoại
chợtvang lên trong túi áo khoác. Người gọi là đội trưởng nhóm
pháp y, thông báo rằng họ đã thành công trong việc giải mã các chữ khắc trên mộ
và đã tìm được vị trí của nó trong Kinh thánh.
“Nó được
trích từ Kinh Psalm 64,” đội trưởng nói.
“Tốt lắm,”
Erlendur nói.
“Hãy gìn
giữ mạng sống của con khỏi sợ kẻ thù nghịch.”
“Sao cơ?”
“Đó là
dòng chữ được khắc trên tấm bia mộ: “Hãy gìn giữ mạng sống của con khỏi
sợ kẻ thù nghịch”. Trích từ Kinh Psalm64.”
“Hãy gìn
giữ mạng sống của con khỏi sợ kẻ thù nghịch.”
“Điều đó
có ích gì cho ông không?”
“Tôi chưa
biết.”
“Có hai
mẫu vân tay trên bức ảnh.”
“Phải, Sigurdur
Óli đã nói cho tôi biết.”
“Một là
của Holberg, nhưng mẫu còn lại không có trong hồ sơ của chúng ta. Chúng
khá mờ. Những dấu vân tay đã từ lâu lắm rồi.”
“Ông có
thể biết bức ảnh được chụp bởi loại máy nào không?” Erlendur hỏi.
“Không
thể nói được. Nhưng tôi nghĩ rằng đó là loại máy khá xịn đấy.”
9
Sigurdur
Óli đỗ xe tại sân của công ty Vận tải Iceland, hy vọng là nó không nằm trên
đường đi của xe tải. Các xe tải xếp thành hàng dài trên sân. Một số xe đang
được chất hàng lên, một số đã được lái đi, những chiếc còn lại được đưa về kho
hàng hóa. Một thứ mùi khó chịu của xăng và dầu tràn ngập trong không khí, tiếng
ồn phát ra từ động cơ xe đinh tai nhức óc. Nhân viên và khách hàng đang hối hả
đi trong sân và kho hàng.
Trụ sở
cảnh sát Luân Đôn đã dự báo thời tiết sẽ còn ẩm ướt hơn nữa. Sigurdur Óli cố
kéo cao chiếc áo khoác lên đầu để thoát khỏi cơn mưa khi ông chạy đến kho hàng.
Anh chạy về hướng người quản đốc lúc này đang ngồi trong một phòng làm
việc nhỏ kiểm tra giấy tờ và có vẻ cực kỳ bận rộn.
Ông
quản đốc là một người to béo. Ông ta mặc chiếc áo khoác có mũ trùm đầu màu xanh
và cài một chiếc cúc quanh bụng, tay cầm điếu xì gà. Người đàn ông đó đã nghe tin về cái chết của
Holberg và nói rằng ông ta biết Holberg khá rõ. Theo ông ta, Holberg là một
người đáng tin cậy, một công nhân chăm chỉ, người đã lái xe từ đầu này đến đầu
kia đất nước trong nhiều thập kỷ và thuộc mạng lưới đường bộ của Iceland như
lòng bàn tay. Người đốc công còn nói rằng Holberg thuộc kiểu người giữ kẽ, không
bao giờ kể về mình hay về những vấn đề cá nhân, không bao giờ kết bạn với ai
trong công ty cũng như nói về những việc mình đã làm trước đây. Ông ta nghĩ
rằng Holberg luôn luôn là một người lái xe tải. Holberg nói chuyện như thế là
đã làm nghề này từ trước. Theo người đốc công thì ông ta độc thân, không có con,
cũng không bao giờ nói về gia đình thân thuộc của mình.
“Đó là
tất cả những gì tôi biết,” người đốc công nói như thể muốn kết thúc cuộc nói chuyện tại đây trong
lúc lấy ra một cái bật lửa từ túi áo và châm điếu xì gà. “Thật là buồn,” phù phù, “khi mọi chuyện thành
ra như vậy,” phù.
“Ông ta
chủ yếu giao du với ai ở đây?” Sigurdur Óli hỏi, cố gắng không hít phải hơi
khói hôi hám tỏa ra từ điếu xì gà.
“Ông có
thể gặp Hilmar, tôi nghĩ là ông ta biết ông ta rõ nhất. Ông ta ở
Reydarfjordur nên thỉnh thoảng nghỉ lại nhà Holberg ở Nordurmýri
mỗi khi ông ta phải qua đêm tại thị trấn. Có những quy định về
nơi nghỉ ngơi mà các lái xe phải tuân theo, do vậy họ phải có nơi nào đó để ở
trong thành phố.”
“Ông ta
có ở đó vào cuối tuần trước không?”
“Không. Lúc
ấy ông ta đang làm việc ở miền Đông, tuy nhiên ông ta có
thể ở đó vào cuối tuần trước nữa.”
“Ông nghĩ
ai có thể làm hại Holberg? Do xích mích ở chỗ làm hay...”
“Không, không
có,” phù, “lý nào,” phù, “lại
như thế được,” phù. Người
đàn ông gặp khó khăn trong việc giữ cho điếu xì gà của mình cháy. “Nói chuyện
với,” phù, “Hilmar,” phù, “ông ta có thể
giúp anh đấy.”
Sigurdur
Óli đi tìm Hilmar sau khi nghe người đốc công chỉ dẫn. Hilmar đang đứng gần một ô cửa kho hàng
giám sát việc dỡ hàng xuống xe. Ông ta là một người khổng lồ, cao phải đến hai
mét, cơ bắp cuồn cuộn, khỏe mạnh, râu ria xồm xoàm với hai cánh tay rậm lông lộ
ra dưới lớp áo phông. Ông ta tầm năm mươi tuổi. Chiếc dây đeo màu xanh lỗi thời
giúp kéo chiếc quần bò rách rưới lên. Một máy nâng hàng nhỏ đang tháo dỡ hàng
khỏi xe tải. Một chiếc xe khác đang lùi về ô hàng bên cạnh. Cùng lúc đó hai
người lái xe bóp còi inh ỏi và chửi nhau loạn xạ trong sân.
Sigurdur
Óli đi về phía Hilmar mà vỗ nhẹ vào vai ông ta, nhưng người đàn ông không chú ý đến
Sigurdur Óli. Anh đập mạnh hơn, và cuối cùng Hilmar cũng quay lại. Ông ta có thể thấy
Sigurdur Óli đang nói gì đó với mình nhưng không thể nghe thấy gì và nhìn xuống
viên cảnh sát với vẻ mặt đần độn. Sigurdur Óli nói to hơn, nhưng cũng chẳng ích
gì. Lần này anh nói to hơn nữa và nghĩ rằng Hilmar đã mơ hồ hiểu ra, nhưng anh đã lầm.
Hilmar chỉ
lắc đầu và chỉ vào tai mình.
Trước
tình cảnh này, Sigurdur Óli cố gắng gấp đôi, anh uốn cong mình, kiễng chân lên
và hét lên với giọng to nhất có thể vào cái lúc tất cả mọi thứ lại hoàn toàn
trở nên yên lặng. Tiếng của anh vang lên với một âm lượng khủng khiếp, dội vào
các bức tường trong kho hàng khổng lồ và vọng cả ra ngoài sân:
“ÔNG ĐÃ
NGỦ VỚI HOLBERG PHẢI KHÔNG?”

