Mãi Đừng Xa Tôi - Phần II - Chương 16 - Phần 1

Chương Mười Sáu

Điều kỳ lạ ở chuyến đi Norfolk, đó là từ
khi về đến Nhà Tranh, chẳng mấy khi chúng tôi trò chuyện về nó. Đến nỗi trong
một thời gian người ta kháo nhau đủ thứ lời đồn về việc chúng tôi tới đó để làm
gì. Dù vậy chúng tôi vẫn khá im lặng, cho đến khi rốt cuộc mọi người chán không
quan tâm nữa.

Tôi vẫn không biết chắc tại sao như vậy. Có lẽ
vì chúng tôi cảm thấy chuyện đó tùy Ruth, tùy cô quyết định kể đến chừng nào
thì được, nên chúng tôi chờ cô mớm lời trước. Mà Ruth thì, vì lý do nào khác –
có lẽ vì bối rối trước phần kết câu chuyện về nguyên mẫu của mình, có thể vì cô
thích câu chuyện có mùi bí ẩn – mà cô hoàn toàn ngậm tăm về chủ đề đó. Ngay cả
giữa chúng tôi với nhau, chúng tôi cũng tránh nói về chuyến đi ấy.

Bầu không khí bí mật đó càng dễ cho tôi không
cho Ruth biết chuyện Tommy mua cho tôi cuốn băng Judy Bridgewater. Tôi không đi
xa đến mức giấu hẳn chuyện đó. Cuốn băng luôn nằm đó trong bộ suy tập của tôi,
trong một trong các chồng băng nhỏ của tôi bên cạnh tấm ván gỗ ghép chân tường.
Nhưng tôi luôn luôn chú ý không để nó nằm một mình ở ngoài hay ở trên cùng một
chồng băng. Có những lúc tôi muốn kể với Ruth lắm, những lúc tôi muốn chúng tôi
vừa nghe cuốn băng vừa cùng nhớ lại Hailsham. Nhưng chuyến đi Norfolk ngày một
lùi xa mà tôi vẫn chưa kể với cô, tôi lại càng cảm thấy cái bí mật kia như là
một bí mật tội lỗi. Dĩ nhiên rốt cuộc thì cô cũng phát hiện ra cuốn băng, rất
lâu về sau, và giá như cô tìm ra nó sớm hơn thì có lẽ tốt hơn nhiều, nhưng vận
may của ta cũng có lúc xoay vần như vậy đó.

Sang xuân dường như ngày càng có nhiều cựu
binh rời khỏi Nhà Tranh để bắt đầu khóa đào tạo, và mặc dù họ ra đi không ồn ào
như thường lệ, nhưng con số ngày càng lớn khiến không thể nào bỏ qua họ được.
Tôi không biết chắc cảm xúc của chúng tôi thế nào khi chứng kiến những sự ra đi
ấy. Có lẽ trong chừng mực nào đó chúng tôi ghen tị với những người ra đi. Quả
thực là có cảm tưởng như họ đang tiến về một thế giới rộng lớn hơn, hấp dẫn
hơn. Nhưng dĩ nhiên, không nghi ngờ gì nữa, việc họ ra đi khiến chúng tôi ngày
một bứt rứt.

Thế rồi, tôi nghĩ là vào khoảng tháng Tư,
Alice F. là người đầu tiên trong đám Hailsham chúng tôi ra đi, chẳng bao lâu
sau Gordon C. cũng đi nốt. Cả hai đều được yêu cầu bắt đầu dự khóa đào tạo, đều
ra đi với nụ cười hơn hớn, nhưng sau đó, dù sao chăng nữa, đối với bọn Hailsham
chúng tôi, bầu không khí HHIIHHHHHhfdjfdsfdở Nhà Tranh đã vĩnh viễn thay
đổi.

Nhiều cựu binh cũng có vẻ bị tác động bởi sự
xôn xao của những cuộc ra đi, và có vẻ như hệ quả trực tiếp là lại bùng lên một
đợt mới những lời đồn đại loại những gì Chrissie và Rodney đã nói. Người ta
kháo nhau rằng đâu đó ở đất nước này có những học sinh đang được hoãn việc hiến
tạng vì họ đã chứng minh được rằng họ yêu nhau – tuy rằng, dù chỉ đôi khi. Ấy
là người ta nói đến những học sinh chẳng có mối liên hệ nào với Hailsham cả. Và
ở đây nữa, năm người chúng tôi, những ai đã đến Norfolk đều rút lui khi gặp
những chủ đề này: ngay cả Chrissie và Rodney, vốn từng là nhân vật trung tâm
trong những cuộc trò chuyện thuộc loại đó, giờ cũng lúng túng ngoảnh đi mỗi khi
nghe ai đó nhỏ to về những lời đồn kia.

“Hiệu ứng Norfolk” thậm chí còn lây cả sang
tôi và Tommy. Khi mới từ Norofolk về, tôi cứ đinh ninh rằng chúng tôi sẽ tận
dụng từng cơ hội nhỏ, những khi chỉ có chúng tôi với nhau, để trao đổi thêm
những suy nghĩ xung quanh giả thuyết của cậu ấy về Phòng Tranh. Nhưng vì lý do
nào đó – mà do tôi nhiều hơn do cậu ấy – điều đó chẳng bao giờ thực sự diễn ra.
Có lẽ ngoại lệ duy nhất là cái lần trong chuồng ngỗng, buổi sáng khi Tommy cho
tôi xem những con vật tưởng tượng của cậu.

*

* *

Cái kho thóc mà chúng tôi gọi là chuồng ngỗng
ấy nằm ở rìa ngoài của Nhà Tranh, và bởi mái nhà dột nát tả tơi, còn cửa thì
thường xuyên trật bản lề nên người ta chẳng dùng nó để làm gì khác ngoài một
nơi cho cái đôi vào hú hí trong những tháng ấm trời. Dạo đó tôi đâm có thói
quen đi dạo lâu một mình, và có lẽ hôm đó tôi cũng vừa khởi hành một cuộc đi
dạo như thế, mới đi ngang qua nhà ngỗng thì tôi nghe tiếng Tommy gọi. Tôi quay
lại thấy cậu đi chân trần, đứng chống chếnh trên một mẩu đất khô xung quanh
toàn những vũng nước bẩn to đùng, một tay tì lên vách nhà kho để giữ thăng
bằng.

“Đôi ủng của cậu làm sao vậy hở Tommy?” tôi
hỏi. Ngoài hai bàn chân trần ra, cậu mặc áo len chui đầu và quần jeans như
thường lệ.

“Mình đang vẽ, cậu hiểu
không…” cậu bật cười, rồi chìa ra một cuốn sổ nhỏ màu đen giống những cuốn sổ
mà Keffers đi đâu cũng mang theo. Lúc đó đã là hai tháng sau chuyến đến
Norfolk, nhưng vừa thấy cuốn sổ là tôi lập tức hiểu ra cậu ấy nói chuyện gì.
Nhưng tôi đợi cậu nói:

“Nếu cậu thích, mình sẽ cho cậu xem, Kath ạ.”

Cậu dẫn tôi vào trong chuồng ngỗng, vừa đi vừa
nhảy lò cò trên mặt sàn lởm chởm. Tôi cứ nghĩ bên trong phải tối, thế nhưng qua
các cửa sổ trên mái nắng tuôn vào. Bị đẩy sát vào một bức tường là đủ thứ đồ
nghề bị vứt bỏ trong suốt năm qua hay gần như vậy – bàn gãy, tủ lạnh cũ, đại
loại thế. Tommy dường như đã lôi vào chính giữa phòng một chiếc sofa hai chỗ
ngồi mà bông nhồi phía trong lòi cả ra ngoài lớp nhựa đen, và tôi đoán khi tôi
đi ngang qua thì cậu đang ngồi đó vẽ. Ngay gần đó đôi ủng của cậu ngả chỏng
chơ, trên đầu thòi ra đôi tất đá bóng của cậu.

Tommy ôm ngón chân cái, lại nhảy phóc lên
chiếc sofa. “Xin lỗi, chân mình hơi thối một tí. Mình cởi hết ra mà chẳng biết.
E là mình vừa tự cắt đứt tay rồi. Kath này, cậu muốn xem mấy cái này không?
Ruth đã xem hồi tuần trước nên từ lúc đó mình cũng định cho cậu xem luôn. Ngoài
Ruth ra thì chưa ai thấy cả. Xem tí đi Kath.”

Đó là lần đầu tiên tôi thấy những con vật của
cậu ấy. Lúc cậu kể cho tôi về chúng ở Norfolk, tôi cứ hình dung chúng như là
những phiên bản thu nhỏ của loại tranh chúng tôi từng vẽ khi còn bé. Cho nên
tôi thực sự bất ngờ khi thấy chúng được vẽ tỉ mẩn từng chi tiết thế kia. Thật
ra phải mất một hồi tôi mới nhận ra chúng là những con vật. Ấn tượng đầu tiên
chẳng khác nào khi ta tháo mặt sau của chiếc radio: nào những cái ống nhỏ xíu,
những đường gân xoắn bện vào nhau, những con ốc và bánh xe bé tí, tất cả đều
được vẽ với sự chính xác đến độ ám ảnh, và chỉ khi đưa tờ giấy ra xa một quãng
ta mới nhìn ra được đó là một con tatu chẳng hạn, hoặc một con chim.

“Cuốn thứ hai của mình đó,” Tommy nói. “Không
làm gì có chuyện ai đó đã nhìn thấy cuốn đầu tiên! Phải lâu lắm mình mới vẽ
tiếp được đấy.”

Giờ cậu nằm hẳn lên chiếc sofa, đang xỏ một
chiếc tất vào chân và cố nói năng ra vẻ tự nhiên, nhưng tôi biết cậu đang khao
khát muốn biết tôi phản ứng ra sao. Dù vậy đi nữa, mãi một hồi tôi không thốt
ra được lời khen ngợi nồng nhiệt nào cả. Có lẽ một phần bởi tôi lo không biết
liệu có bức vẽ nào sẽ khiến cậu lại phải chịu rắc rối nữa không. Nhưng cũng bởi
những gì tôi đang xem khác quá xa bất cứ thứ gì các giám thị từng dạy chúng tôi
làm ở Hailsham, nên tôi không biết phải đánh giá ra sao nữa. Tôi có nói gì đó
đại loại như:

“Trời, vẽ mấy cái này chắc là phải tập trung
lắm lắm Tommy nhỉ. Mình ngạc nhiên là ở chỗ thế này mà cậu vẫn nhìn rõ để vẽ
mấy thứ nhỏ xíu này cơ đấy.” Thế rồi, trong khi tôi lật lật các trang, có lẽ vì
tôi vẫn đang tìm một câu gì thích hợp để nói, tôi thốt ra thế này: “Mình tự nhủ
không biết nếu Madame thấy những cái này thì bà ấy sẽ nói gì.”

Tôi nói thế với giọng bông đùa, và Tommy đáp
lại bằng một tiếng cười khúc khích nho nhỏ, nhưng rồi có một cái gì đó lúc nãy
còn chưa có giờ treo lơ lửng trong không khí. Tôi vẫn tiếp tục giở các trang
trong cuốn sổ – chừng một phần tư cuốn đã được vẽ kín – mà không nhìn cậu ấy,
bụng thầm mong giá như mình đừng bao giờ nhắc tới Madame. Cuối cùng tôi nghe cậu
nói:

“Mình nghĩ mình còn phải vẽ tốt hơn nhiều thì
mới để bà ấy xem được.”

Tôi không biết liệu đó có phải là một gợi ý để
tôi có thể nói tranh của cậu đẹp đến nhường nào, nhưng cho đến lúc này tôi đâm
thực sự bị cuốn hút bởi những sinh vật lạ lùng trước mắt tôi. Mặc cho cái vẻ
lăng xăng rối rít và máy móc kia, mỗi con đều có một cái gì đó dịu dàng, thậm
chí dễ tổn thương. Tôi nhớ lại, khi ở Norfolk cậu ấy bảo tôi rằng ngay trong
khi đang tạo ra chúng, cậu đã lo không biết chúng tự vệ ra sao, chúng cầm nắm
món này món nọ như thế nào, và giờ đây nhìn chúng, tôi cảm thấy được cũng một
mối quan tâm đó. Dù vậy chăng nữa, vì lý do nào đó tôi không hiểu, một cái gì
vẫn tiếp tục ngăn tôi thốt ra những lời khen. Rồi Tommy nói:

“Dù sao thì mình vẽ mấy con này không phải chỉ
vì chuyện đó. Đơn giản mình thích vẽ chúng thôi. Mình tự hỏi liệu mình có nên
vẫn giữ bí mật về chúng không, Kath ạ. Mình nghĩ nếu người ta biết mình vẽ mấy
con này thì có lẽ cũng chẳng hại gì. Hannah vẫn vẽ bằng màu nước đấy thôi,
nhiều cựu binh cũng vẽ vời này nọ. Ý mình không phải là mình sẽ đi khắp
nơi chìa cho từng người một xem. Nhưng mình đang nghĩ, chẳng
có lý do để mình cứ giữ bí mật chuyện này mãi.”

Cuối cùng tôi cũng có thể nhìn lên cậu mà nói
với ít nhiều tự tin: “Tommy, chẳng có lý do nào, chẳng có một lý do nào hết.
Tranh đẹp thật. Đẹp, đẹp lắm. Thực ra, nếu chỉ vì vậy mà cậu cứ giấu giấu giếm
giếm ở đây thì quả là ngốc.”

Cậu chẳng đáp gì, nhưng có một cái gì như nụ
cười mãn nguyện hiện ra trên mặt cậu, như thể cậu đang thưởng thức một câu đùa
với chính mình, và tôi biết tôi đã làm cậu hạnh phúc đến nhường nào. Có lẽ sau
đó chúng tôi không nói chuyện gì nhiều với nhau nữa. Có lẽ chẳng mấy chốc sau
đó cậu đi ủng và chúng tôi ra khỏi căn chuồng ngỗng. Như tôi nói, đó hầu như là
lần duy nhất trong suốt mùa xuân ấy Tommy và tôi đề cập thẳng đến giả thuyết
của cậu.

*

* *

Thế rồi hè sang, rồi thời điểm tròn một năm từ
khi chúng tôi mới đến Nhà Tranh. Một đợt học sinh mới lại đi, xe buýt đến, hệt
chúng tôi hồi năm ngoái, nhưng không ai trong số đó từ Hailsham tới cả. Vì lý
do nào đó điều này làm chúng tôi nhẹ nhõm: chắc hẳn là tất cả chúng tôi đang lo
rằng một đợt học sinh mới từ Hailsham đến có thể sẽ làm mọi chuyện rối tung
lên. Nhưng ít nhất là với tôi, việc học sinh Hailsham không xuất hiện chỉ góp
thêm vào cái cảm giác rằng Hailsham lúc này đã lùi xa vào quá khứ, rằng những
mối dây gắn bó chúng tôi với hội bạn ngày xưa đang ngày một lơi dần. Không phải
chỉ vì những người như Hannah cứ nói lui nói tới về chuyện noi gương Alice mà bắt
đầu quá trình đào tạ: những người khác, như Laura, đã tìm thấy các bạn trai vốn
không phải là dân Hailsham và bạn hầu như có thể quên mất trước kia họ từng có
bao điều chung với chúng tôi.

Lại còn cái kiểu Ruth cứ giả vờ quên chuyện
này chuyện nọ về Hailsham. Ừ thì hầu hết đó đều là những chuyện vặt vãnh, nhưng
càng lúc tôi càng khó chịu với cô. Chẳng hạn cái lần chúng tôi đang ngồi quanh
bàn bếp sau một bữa điểm tâm dài, có Ruth, tôi và vài cựu binh. Một trong các
cựu binh đang nói về chuyện ăn phó mát vào ban đêm sẽ gây khó ngủ, tôi liền
quay sang Ruth nói đại loại như: “Cậu có nhớ cô Geraldine vẫn luôn luôn bảo
chúng mình như thế không?” Đó chỉ là một câu nói riêng vô tình, và Ruth chỉ
việc mỉm cười hoặc gật đầu là đủ. Nhưng cô ấy lại cố tình ngây ra nhìn tôi, như
thể chẳng hiểu đầu cua tai nheo tôi đang nói chuyện gì. Chỉ khi tôi nói với các
cựu binh như để giải thích: “Đó là một trong các giám thị của chúng mình” thì
Ruth mới cau mày gật đầu, như thể mãi đến đó cô mới nhớ ra.

Lần đó tôi cho qua. Nhưng lại còn một lần khác
mà tôi không cho qua được, đó là buổi chiều khi chúng tôi ngồi trong cái nhà
chờ xe buýt đầy gỉ sét. Tôi nổi giận vì chơi trò đó trước mặt các cựu binh là
một chuyện, nhưng giở nó ra khi chỉ có hai chúng tôi với nhau, giữa một cuộc chuyện
trò nghiêm chỉnh lại là chuyện khác hẳn. Tôi đã nhắc, chỉ là nhân thể, về việc
ở Hailsham lối đi tắt ra chỗ ao ngang qua khoảnh đất mọc đầy cây đại hoàng là
một khu vực chúng tôi không được phép đến. Khi Ruth làm bộ lúng túng ra điều
chẳng hiểu gì, tôi bè bỏ phắt điều đang định nói – dù điều gì đi nữa – mà bảo
thẳng: “Ruth, không thể có chuyện cậu quên được. Thành thử đừng làm bộ làm tịch
như thế với mình.”

Có lẽ nếu tôi không bắt nọn cô ấy một cách gay
gắt như vậy – có lẽ nếu tôi chỉ lấy đó làm trò đùa rồi vẫn nói tiếp thì cô ấy
cũng sẽ nhận ra làm thế lố bịch đến nhường nào mà bật cười thôi. Nhưng vì tôi
đã nổi đóa với Ruth nên cô trừng mắt lại tôi mà nói:

“Có quan trọng gì kia chứ? Cái lối đi mọc cây
đại hoàng có liên quan gì đến chuyện này? Cậu đang nói gì thì cứ nói tiếp đi.”

Khi đó trời đã xế, chiều hè đang tàn dần, căn
nhà đợi xe buýt cũ có vẻ mốc meo ẩm ướt sau trận bão đầy sấm chớp vừa qua. Cho
nên tôi chẳng có đầu óc đâu để suy xét tại sao điều đó lại quan trọng đến vậy.
Và mặc dù quả thực toi đã bỏ chuyện đó mà tiếp tục điều đang nói dở, nhưng bầu
không khí đã trở nên lạnh nhạt và hầu như không giúp chúng tôi vượt qua vấn đề
khó khăn đang xảy ra khi đó.

Nhưng để giải thích chúng tôi đang bàn chuyện
gì chiều hôm ấy, tôi phải quay lại một chút. Thực ra, tôi phải quay trở lại
tuần trước đó, về khoảng đầu hè. Lúc đó tôi đang có quan hệ với một trong các
cựu binh, một cậu trai tên là Lenny, tuy thành thật mà nói mối quan hệ đó chủ
yếu chỉ là tình dục. Nhưgn rồi cậu ta đột nhiên quyết định bắt đầu quá trình
đào tạo và rời Nhà Tranh ra đi. Điều đó làm tôi đau khổ chút ít, và trong giai
đoạn đó, Ruth rất tử tế, luôn trông nom tôi mà không lộ vẻ lăng xăng cuống quýt
gì, luôn sẵn sàng làm tôi vui nếu tôi tỏ ra buồn bã. Cô ấy luôn làm những cử
chỉ đẹp nho nhỏ cho tôi, chẳng hạn làm bánh xăng-uých cho tôi ăn hoặc làm thay
tôi khi đến phiên tôi quét dọn.

Thế rồi khoảng nửa tháng sau khi Lenny đi
khỏi, hai chúng tôi ngồi trong căn phòng áp mái của tôi, vào sau nửa đêm một
chút, vừa uống trà vừa nói chuyện vãn, và Ruth làm tôi cười ngặt nghẽo về
chuyện Lenny. Cậu ta không đến nỗi là một cậu trai tệ thế, nhưng khi tôi bắt
đầu kể cho Ruth nghe một số điều thầm kín hơn của cậu ta thì quả thực dường như
bất cứ cái gì liên quan đến cậu ta đều quá buồn cười, cho nên chúng tôi cười,
cười mãi không thôi. Rồi đến một lúc Ruth lướt lướt một ngón tay lên xuống
những cuốn băng cát-xét xếp thành từng chồng nhỏ dọc theo tấm ván ốp chân tường
phòng tôi. Cô ấy làm vậy chỉ một cách lơ đãng trong khi vẫn tiếp tục cười,
nhưng sau đó, trong một thoáng tôi nghi hoặc không biết liệu có phải đấy chỉ là
tình cờ không; rằng biết đâu cô ấy đã nhận thấy nó ở đó từ nhiều hôm trước, có
lẽ cô ấy thậm chí đã kiểm tra cho chắc, rồi đợi đến lúc thích hợp nhất để “phát
hiện” ra nó. Nhiều năm sau, tôi nhẹ nhàng nhắc chuyện này với Ruth, cô ấy dường
như không hiểu tôi đang nói gì, nên có thể tôi đã lầm. Tuy nhiên, khi chúng tôi
đang cười ngặt nghẽo mỗi khi tôi lộ ra một chi tiết khác về anh chàng Lenny tội
nghiệp thì đột ngột tất cả như cái phích cắm bị rút ra vậy. Ruth ở đó, nằm
nghiêng trên tấm chăn của tôi mà săm soi mặt lưng các cuốn băng trong ánh sáng
mờ mờ, thế rồi cuốn Judy Bridgewater đã nằm đó trong tay cô. Sau một lúc tưởng
chừng dài vô tận, cô ấy nói:

“Cậu có lại cuốn băng này bao lâu rồi?”

Tôi bảo cô ấy, bằng giọng càng trung tính càng
tốt, rằng Tommy và tôi đã tình cờ thấy nó hôm cô ấy đi cùng những người khác ở
Norfolk. Cô ấy tiếp tục săm soi cuốn băng, rồi nói:

“Vậy là Tommy tìm ra nó cho cậu?”

“Không. Mình tìm ra. Mình thấy nó đầu tiên.”

“Các cậu chả ai kể với mình cả,” cô nhún vai.
“Ít nhất, dù cậu có kể, mình cũng chưa hề nghe.”

“Chuyện Norfolk là đúng đấy,” tôi nói. “Cậu
biết đấy, rằng ở Anh hễ mất gì cứ đến đó tìm là thấy ấy mà.”

Tôi chợt thoáng có ý nghĩ Ruth sẽ vờ không nhớ
khi tôi nhắc đến chuyện này, nhưng cô gật đầu với vẻ tư lự.

“Lẽ ra lần đó mình phải nhớ,” cô ấy nói. “Có
khi mình cũng tìm được cái khăn choàng đỏ không chừng.”

Cả hai chúng tôi bật cười và cảm giác ngượng
nghịu dường như qua. Nhưng trong cung cách Ruth cất cuốn băng vào chỗ cũ mà
không nói gì thêm về nó có cái gì đó khiến tôi nghĩ chuyện này chưa phải đã kết
thúc.

Tôi không biết có phải chiều hướng cuộc trò
chuyện sau đó là do Ruth dẫn dắt dưới ánh sáng của điều cô ấy vừa khám phá hay
không, hay dù thế nào thì chúng tôi cũng sẽ trò chuyện theo hướng đó và chỉ về
sau Ruth mới nhận ra mình có thể dẫn dắt nó như cô ấy đã làm. Chúng tôi quay
lại nói về Lenny, nhất là nói rất nhiều về chuyện anh ta làm tình thế nào, và
chúng tôi lại phá lên cười ngặt nghẽo. Đến lúc đó hẳn là tôi đã thấy nhẹ nhõm
rằng rốt cuộc cô ấy đã tìm ra cuốn băng mà không làm toáng lên, có lẽ vì vậy mà
tôi không được thận trọng trong khi lẽ ra đã có thể thận trọng hơn. Bởi vì
chẳng mấy chốc chúng tôi đã chuyển từ cười chuyện Lenny sang cười chuyện Tommy.
Đầu tiên có vẻ như đó chỉ là cười đùa với ý tốt thôi, như thể chúng tôi chỉ
đang tỏ ra yêu mến cậu ấy. Nhưng rồi chúng tôi quay sang cười những con vật của
cậu.

Như tôi nói, tôi chưa bao giờ biết chắc liệu
có phải Ruth cố tình dẫn dắt câu chuyện đến chỗ đó không. Công bằng mà nói,
thậm chí tôi còn không chắc có phải cô ấy là người đầu tiên nhắc tới những con
vật hay không nữa. Và khi đã bắt đầu cười chúng, tôi cười cũng ngặt nghẽo như
cô ấy – về chuyện một con trông như đang mặc quần lót, một con khác thì trông
như lấy cảm hứng từ một con nhím bị bóp cho bẹp dúm. Hẳn là, vào một lúc nào đó
giữa câu chuyện, đúng ra tôi đã phải nói rằng những con vật ấy đẹp, rằng cậu ấy
vẽ được đến thế thì thực sự là giỏi. Nhưng tôi không nói. Một phần là bởi cuốn
băng; và có thể, nếu phải nói thành thực, là bởi tôi lấy làm vui khi thấy Ruth
không coi trọng những con vật ấy, và những gì chúng hàm chứa bên trong. Tôi
nghĩ rằng khi rốt cuộc cũng chia tay để đi ngủ, chúng tôi cảm thấy thân thiết
với nhau như tự hồi nào. Khi đi ra, cô ấy vuốt má tôi, nói: “Cậu lúc nào cũng
vui vẻ phấn chấn thế này là tốt lắm Kathy ạ.”

Thành thử tôi đã hoàn toàn không chuẩn bị để
đón nhận những gì xảy ra tại sân nhà thờ sau đó mấy hôm. Mùa hè đó Ruth đã phát
hiện ra một nhà thờ nhỏ đáng yêu cách Nhà Tranh khoảng nửa dặm, đằng sau có
những khoảnh đất để đi dạo với những bia mộ rất xưa ngả nghiêng trong cỏ. Chỗ
đó cái gì cũng mọc um tùm, nhưng thật là yên tĩnh nên Ruth rất hay đọc sách ở
đó, gần hàng tay vịn phía sau, trên băng ghế dưới một cây liễu lớn. Ban đầu tôi
không tha thiết gì lắm với cái vụ mới này, bởi tôi nhớ mùa hè trước cả bọn
chúng tôi vẫn thường ngồi trên cỏ ngay bên ngoài Nhà Tranh. Mặc dù vậy, mỗi khi
tôi đi dạo về hướng đó mà lại biết rằng Ruth chắc đang ở đó, thể nào tôi cũng sẽ
lại băng qua cánh cổng thấp bằng gỗ, dọc theo đường mòn cây cối um tùm, ngang
qua các bia mộ. Chiều hôm ấy trời ấm và lặng gió, tôi đang đi dọc theo lối mòn
trong tâm trạng mơ màng, vừa đi vừa đọc những cái tên trên bia mộ, thì chợt
thấy không chỉ Ruth mà cả Tommy đang ngồi trên băng ghế dưới cây liễu.

Báo cáo nội dung xấu