Mãi Đừng Xa Tôi - Phần I - Chương 01

PHẦN MỘT

Chương Một

[Chúc bạn đọc sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu sách.]

Tên tôi là Kathy H. Tôi ba mươi mốt tuổi, đã
làm người chăm sóc được hơn mười một năm nay. Nói vậy nghe cũng đã đủ lâu rồi,
tôi biết, nhưng thật ra người ta còn muốn tôi làm thêm tám tháng nữa, cho đến
cuối năm nay. Chừng đó thì hầu như đúng mười hai năm cả thảy. Giờ thì tôi biết
tôi làm người chăm sóc lâu đến vậy chẳng nhất thiết bởi vì người ta cho rằng
tôi làm việc ấy rất cừ. Có một số người chăm sóc thực sự giỏi nhưng nghe nói
chỉ làm được hai, ba năm là người ta bảo phải thôi. Tôi lại còn biết có ít nhất
một người chăm sóc khác đã làm việc này suốt mười bốn năm trời dẫu hoàn toàn
chẳng được tích sự gì. Thế nên tôi không có ý khoe khoang. Nhưng tôi biết rõ
rằng người ta hài lòng về công việc tôi làm, mà nói chung bản thân tôi cũng hài
lòng. Những người hiến mà tôi chăm sóc luôn luôn có tình trạng khả quan hơn
nhiều so với người ta tưởng. Họ thường phục hồi nhanh đến độ ngoạn mục, và ít
ai trong số họ được phân loại là “bị kích động” ngay cả cho đến lần hiến thứ
tư. Phải, có thể giờ thì tôi đang thực sự khoe khoang đây.
Nhưng làm tốt công việc của mình, nhất là giữ cho những người hiến mà mình chăm
sóc luôn luôn “bình thản”, điều đó có ý nghĩa với tôi lắm. Tôi đã dần dần phát
triển được một thứ bản năng đối với những người hiến. Tôi biết khi nào cần ở
bên họ và an ủi họ, khi nào cần để họ một mình; khi nào cần lắng nghe bất cứ
điều gì họ muốn nói, còn khi nào chỉ cần nhún vai bảo họ ngủ một giấc cho quên
chuyện đó đi.

Dù thế nào đi nữa, tôi không đòi hỏi gì nhiều
cho bản thân. Tôi biết có những người chăm sóc hiện vẫn đang làm việc, họ cũng
giỏi như tôi nhưng chẳng được đối xử tốt dù chỉ bằng một nửa tôi. Nếu bạn là
một trong số họ, tôi có thể hiểu bạn hẳn sẽ phẫn uất lắm khi nhìn nào phòng
khách kiêm phòng ngủ của tôi, nào xe hơi của tôi, và trên hết là cái kiểu tôi
được tự do chọn người mình chăm sóc. Tôi lại là học sinh của Hailsham, nội
chuyện đó đôi khi cũng đủ khiến người ta nổi giận. Người ta bảo Kathy H. muốn
chọn ai để chăm sóc thì chọn, mà chị ta thì luôn luôn chọn những người mình
thích: những kẻ từ Hailsham ra, hoặc một trong những người từ nơi danh giá
khác. Thảo nào chị ta có thành tích cao đến vậy. Tôi nghe người ta nói thế
nhiều rồi, thành thử chắc bạn còn được nghe nhiều hơn thế nữa, mà có lẽ trong
đó cũng có phần đúng. Nhưng tôi không phải kẻ đầu tiên được quyền chọn người để
chăm sóc, mà chắc hẳn cũng chẳng phải kẻ cuối cùng. Dù có thế nào, tôi vẫn chăm
sóc chu đáo những người hiến dù họ được nuôi dạy ở nơi đâu. Trước khi tôi ngừng
lời, hãy nhớ rằng tôi đã làm việc này mười hai năm, mà chỉ trong sáu năm gần
đây người ta mới cho tôi cái quyền chọn người để chăm sóc.

Mà sao họ lại không có quyền chọn nhỉ? Người
chăm sóc không phải là cái máy. Ta cố làm hết sức mình để chăm sóc từng người
hiến, song rốt cuộc chính mình kiệt sức. Lòng kiên nhẫn và sức lực của ta có
hạn. Thành thử một khi có cơ hội lựa chọn, dĩ nhiên ta chỉ chọn những người hợp
với mình. Chuyện đó tự nhiên thôi. Chẳng cách gì tôi kham nổi việc này lâu đến
vậy nếu tôi thôi cảm thông với những người hiến của tôi từng bước một trên con
đường ấy. Và dù sao, nếu như tôi chẳng bao giờ có quyền chọn thì làm thế nào
tôi được gần gũi Ruth và Tommy sau ngần ấy năm trời?

Song dĩ nhiên hồi ấy ngày càng ít những người
hiến mà tôi biết mặt nhớ tên, thành thử trên thực tế tôi cũng chẳng kén chọn gì
lắm. Tôi đã nói rằng, nếu không có sự gắn bó sâu sắc với người hiến thì công
việc của người chăm sóc nặng nề hơn gấp bội, và dẫu tôi vẫn còn quyến luyến
nghề này, song đến cuối năm nay ngưng hẳn thì có lẽ cũng đúng thôi.

Tình cờ, Ruth chỉ là người hiến thứ ba hoặc
thứ tư mà tôi chọn. Lúc đó cô đã có một người chăm sóc được bố trí riêng cho
mình, và tôi nhớ chuyện đó đã khiến tôi căng thẳng đôi chút. Nhưng rốt cuộc tôi
cũng vượt qua được, và ngay khi tôi gặp lại cô, ở trung tâm phục hồi tại Dover,
mọi khác biệt giữa chúng tôi dẫu không hẳn đã biến mất nhưng dường như không
còn quan trọng như những điều khác nữa, như chuyện hai chúng tôi đã cùng lớn
lên ở Hailsham, rằng chúng tôi cùng biết, cùng nhớ những chuyện không ai biết
không ai nhớ. Có lẽ chính từ đó tôi mới bắt đầu chọn người hiến để chăm sóc
trong số những người cũ trước kia, và bất cứ khi nào có thể, tôi luôn chọn
người từng ở Hailsham.

Trong suốt những năm ra sức bỏ Hailsham lại
phía sau, có đôi lúc tôi tự nhủ không nên nhớ lại ngày xưa nhiều quá vậy. Nhưng
rồi đến một lúc tôi thôi không cưỡng lại điều đó nữa. Chuyện này có liên quan
đến một người hiến mà tôi chăm sóc vào năm thứ ba làm công việc này: chính là
phản ứng của anh ta khi tôi bảo rằng tôi ở Hailsham ra. Anh ta vừa trải qua lần
hiến thứ ba, mọi chuyện không suôn sẻ, nên chắc anh ta biết có lẽ mình không
qua khỏi. Anh ta thở rất khó nhọc, nhưng vẫn nhìn tôi mà nói: “Hailsham. Tôi
dám cá chỗ đó đẹp lắm.” Thế rồi sáng hôm sau, khi tôi khơi chuyện cốt để anh ta
sao nhãng đề tài ấy đi và hỏi anh lớn lên ở đâu, anh ta liền
nhắc tên một nơi nào đó ở Dorser và khuôn mặt anh dưới những vết sưng tấy méo
xệch đi trong một vẻ hoàn toàn khác. Chừng đó tôi mới hiểu rằng anh hoàn toàn
chẳng muốn nói chuyện đó một chút nào. Anh chỉ muốn nghe chuyện Hailsham thôi.

Vậy là suốt năm, sáu hôm kế tiếp tôi kể cho
anh nghe tất cả những gì anh muốn biết, và anh nằm đó, nghe mê mải, miệng nở nụ
cười hiền hậu. Anh hỏi tôi cả chuyện lớn lẫn chuyện nhỏ. Về những người giám
thị của chúng tôi, về chuyện mỗi chúng tôi đều có những chiếc rương riêng đựng
đồ sưu tập giấu dưới giường, về môn bóng đá, về môn bóng rounders[1],
về con đường nhỏ dẫn ta đi vòng quanh bên ngoài ngôi nhà, cái ao vịt, đồ ăn,
quang cảnh nhìn từ Phòng vẽ trông ra những cánh đồng vào một buổi sáng mù
sương. Đôi khi anh bảo tôi kể đi kể lại mãi cùng một chuyện; những chuyện tôi
chỉ vừa mới kể cho anh hôm qua, anh vẫn bảo tôi kể cứ như tôi chưa kể bao giờ.
“Các cô có nhà chơi thể thao không?” “Giám thị nào cô thích hơn cả?” Đầu tiên
tôi nghĩ đó là do tác dụng của thuốc, nhưng rồi tôi nhận ra trí óc anh hoàn
toàn minh mẫn. Không phải anh muốn nghe kể chuyện Hailsham, mà muốn nhớ
lại
Hailsham đúng như nó đã từng hồi anh còn nhỏ. Anh biết mình đã sắp
đến hồi kết nên mới làm như vậy: bảo tôi mô tả mọi thứ cho anh nghe, sao cho
hết thảy thực sự thấm sâu vào, sao cho trong những đêm mất ngủ vì thuốc, vì đau
và kiệt lực kia, ranh giới giữa ký ức tôi và ký ức anh có thể sẽ mờ đi. Chính
khi đó lần đầu tiên tôi hiểu, thực sự hiểu, rằng chúng tôi – Tommy, Ruth, tôi
và tất cả những người khác –, chúng tôi đã may mắn đến nhường nào.

[1] Bóng rounders: Trò chơi có xuất xứ từ Anh và
Ailen, gồm hai đội chơi bằng gậy và bóng, các cầu thủ phải chạy quanh một đường
vòng trên sân – ND.

*

* *

Giờ đây mỗi khi lái xe khắp miền quê, tôi vẫn
hay nhìn thấy cái này cái nọ khiến tôi nhớ lại Hailsham. Khi đi ngang qua góc
một cánh đồng phủ sương, hay nhìn thấy một phần của một căn nhà lớn ở xa xa
trong lúc xuôi xuống triền thung lũng, tôi lại nghĩ: “Có lẽ đây rồi! Mình tìm
thấy nó rồi! Đây chính Hailsham rồi!” Thế rồi tôi nhận ra
rằng không thể nào có chuyện đó được và lại tiếp tục lái xe, ý nghĩ trôi sang
chuyện khác. Nhất là những cái đình tạ kia. Đâu đâu ở vùng quê tôi cũng nhìn
thấy chúng, những chiếc đình tạ ở mãi tận rìa sân chơi, những công trình nho
nhỏ màu trắng làm sẵn cùng một dãy cửa sổ cao ngất ngưởng thật trái tự nhiên,
hầu như rúc hẳn vào dưới những mái chìa. Tôi nghĩ chắc người ta đã xây nhiều
đình tạ như thế hồi thập niên năm mươi và sáu mươi, có lẽ đấy cũng là lúc những
căn đình tạ của chúng tôi được dựng lên. Mỗi khi đi ngang một đình tạ như vậy
tôi đều dán mắt vào càng lâu càng tốt, cứ kiểu ấy thì rồi có ngày tôi sẽ đâm
sầm vào xe người ta mất, nhưng tôi vẫn nhìn không dứt. Mới đây, trong khi đang
lái xe ngang qua một vùng đất trống ở Worcestershire, tôi thấy một đình tạ bên
ngoài một sân chơi cricket, giống các đình tạ của chúng tôi ở Hailsham đến nỗi
tôi phải quành xe lại nhìn thêm lần nữa.

Hồi đó chúng tôi rất yêu cái đình tạ thể thao
của mình, có lẽ bởi nó khiến chúng tôi nhớ lại những căn lều nho nhỏ ngọt ngào
mà người ta luôn vẽ trong các sách tranh hồi chúng tôi còn nhỏ. Tôi có thể nhớ
lại hồi còn ở lớp Sơ, chúng tôi vẫn hay nài nỉ các giám thị giờ học sau hãy học
ngoài đình tạ chứ không ở trong lớp như bình thường. Thế rồi đến khi chúng tôi
học lớp Cao 2 – vào tuổi mười hai bước sang tuổi mười ba – thì đình tạ trở
thành nơi chúng tôi ẩn náu cùng những người bạn thân nhất của mình mỗi khi muốn
lánh xa tất cả những người còn lại ở Hailsham.

Cái đình tạ đủ lớn để hai nhóm riêng biệt có
thể tụ tập mà không làm phiền nhau, vào mùa hè thì một nhóm thứ ba có thể ngồi
cả ngoài hàng hiên. Nhưng lý tưởng nhất là mình cùng bạn bè có một nơi chỉ của
mình thôi, để có thể thường xuyên đùa giỡn và tranh cãi. Các giám thị luôn bảo
chúng tôi phải cư xử cho văn minh, nhưng trên thực tế ta cần có một vài nhân
vật có tính cách mạnh trong nhóm thì mới mong có được cơ hội chiếm lấy cái đình
tạ trong giờ giải lao hay những lúc rảnh rỗi. Bản thân tôi không hẳn thuộc loại
củ rủ cù rù, nhưng tôi cho rằng thực sự chính là nhờ Ruth mà hồi đó chúng tôi
mới có thể tới chỗ đình tạ thường xuyên đến vậy.

Thường thì chúng tôi duỗi người thoải mái trên
các ghế tựa và ghế băng – chúng tôi có năm người, nếu cả Jenny B. nhập bọn thì
thành ra sáu – và buôn chuyện ra trò. Có một kiểu chuyện trò chỉ có thể diễn ra
khi chúng tôi náu mình trong đình tạ; chúng tôi có thể bàn những gì đang khiến
chúng tôi lo âu rốt cuộc lại sẽ cười váng lên hoặc cãi nhau õm tỏi. Thường thì
đó là một cách để ta thư giãn đôi chút với bạn bè tri kỷ.

Vào đúng buổi chiều mà tôi đang nghĩ tới lúc
này đây, bọn tôi đang đứng cả lên ghế, xúm xít quanh những cửa sổ cao. Nhờ vậy
chúng tôi thấy rõ Sân chơi phía Bắc nơi chừng một tá con trai lớp chúng tôi và
lớp Cao 3 đang tụ tập chơi bóng đá. Nắng rực rỡ, nhưng có lẽ sáng hôm đó có mưa
vì tôi vẫn nhớ mặt trời chiếu lấp lánh trên mặt cỏ vấy bùn.

Ai đó bảo chúng tôi không nên quan sát lộ liễu
như vậy, nhưng chúng tôi hầu như không hề lùi lại. Rồi Ruth nói: “Cậu ta chả
nghi ngờ gì cả. Nhìn cậu ta kìa. Cậu ta đúng là chả nghi ngờ gì hết.”

Khi Ruth nói vậy, tôi nhìn cô tìm dấu hiệu
chứng tỏ cô bất bình với những gì đám con trai sắp làm với Tommy. Nhưng ngay
giây sau đó Ruth bật cười nhỏ mà nói: “Đồ ngốc!”

Và tôi nhận ra rằng đối với Ruth và các bạn
khác, dù đám con trai định làm gì đi nữa thì cái đó cũng ở cách chúng tôi khá
xa; chúng tôi đồng lòng với chuyện đó hay không thì cũng chẳng có gì ảnh hưởng.
Chúng tôi xúm quanh cửa sổ vào lúc đó không phải vì háo hức muốn thấy Tommy bị
hạ nhục thêm lần nữa, mà chỉ vì chúng tôi có nghe nói tới cái âm mưu mới nhất
này và mơ hồ cảm thấy tò mò muốn theo dõi xem mọi sự diễn tiến ra sao. Hồi đó
tôi không nghĩ rằng những gì đám con trai làm với nhau còn đi xa hơn thế nhiều.
Ruth, cũng như các bạn khác, đã xem cảnh ấy cứ một cách thật dửng dưng, mà có
lẽ chính tôi cũng vậy.

Nhưng cũng có thể tôi nhớ nhầm. Có thể là ngay
từ khi đó, khi thấy Tommy chạy qua chạy lại trên sân, trên mặt rờ rỡ niềm sung
sướng lại được nhập hội, sắp được dự trò chơi mà cậu ấy rất cừ, có thể tôi đã
cảm thấy một chút nhói lòng. Điều mà tôi nhớ rõ, đó là khi ấy tôi nhận thấy
Tommy đang mặc chiếc áo cổ lọ màu xanh dương nhạt mà cậu đã mua được trong cuộc
Bán hàng hồi tháng trước, chiếc áo mà cậu rất lấy làm kiêu hãnh. Tôi nhớ khi đó
mình nghĩ: “Cậu ta đúng là đồ ngốc, ai lại mặc cái áo kia mà đá bóng. Áo mà bị
hỏng thì cậu ấy sẽ thấy sao?” Tôi nói to, không cụ thể với ai: “Xem Tommy mặc
áo kìa. Cái áo cổ lọ cậu ấy thích nhất.”

Chắc là chẳng ai nghe tôi nói, bởi cả lũ đang
cười rũ vì Laura – con hề to xác trong bọn chúng tôi – bắt chước từng nét biểu
cảm hiện lên trên mặt Tommy trong khi cậu chạy, vẫy tay, hò hét, chặn đối
phương. Toàn bộ đám con trai khác đều đang di chuyển qua lại trên sân cỏ, cố
tình làm ra vẻ uể oải như lúc đang khởi động, nhưng Tommy, giữa lúc đang hăng,
dường như luôn sẵn sàng vắt giò lên cổ chạy. Tôi nói, lần này to hơn: “Nếu làm
hỏng cái áo kia thì cậu ấy sẽ ân hận lắm đây.” Lần này Ruth nghe thấy tôi,
nhưng chắc hẳn cô cho rằng tôi nói thế để đùa, bởi cô bật cười chẳng lấy gì làm
thật tâm rồi bồi thêm một câu châm biếm của riêng mình.

Thế rồi đám con trai thôi không đá bóng qua
lại nữa mà đứng túm tụm giữa bùn, phập phồng khe khẽ trong khi đợi được chọn
thành hai đội. Hai đội trưởng tiến lên phía trước là người của lớp Cao 3, mặc
dù ai cũng biết Tommy là cầu thủ giỏi hơn bất cứ ai khác trong năm đó. Hai
người tung đồng tiền để xem ai là người được chọn đầu tiên, sau đó người thắng
nhìn chằm chằm vào cả nhóm.

“Nhìn cậu ta kìa,” ai đó sau lưng tôi nói,
“Cậu ta cứ chắc như đinh đóng cột rằng mình sẽ được chọn trước. Nhìn cậu ta
xem!”

Mà thật, ở Tommy lúc đó có một cái gì thật
khôi hài, một cái gì đó khiến ta nghĩ rằng, ừ, nếu quả thực cậu ta ngốc nghếch
đến thế thì phải chịu những gì sắp xảy ra cũng đáng đời lắm. Toàn bộ đám con
trai kia vờ chẳng hay chuyện chọn người chia làm hai đội, chúng vờ như dù được
phân vị trí nào chúng cũng chẳng quan tâm. Vài đứa nói chuyện nho nhỏ với nhau,
vài đứa buộc lại dây giày, những đứa khác thì nhìn xuống chân mình đang quẩn
trong bùn. Nhưng Tommy thì hau háu nhìn gã trai lớp Cao 3 như thể người ta vừa
gọi tên cậu vậy.

Laura cứ tiếp tục diễn trò của nó suốt thời
gian ngoài kia chọn người cho hai đội, nó bắt chước tất cả những biểu hiện khác
nhau hiện lên trên mặt Tommy: niềm háo hức rạng ngời lúc ban đầu, nỗi bối rối
khi bốn người đã được chọn mà cậu ta mãi vẫn chưa được gọi; nỗi đau khổ và
hoảng loạn bắt đầu trùm lên Tommy khi hiểu điều gì đang thực sự diễn ra. Tuy
nhiên tôi không liên tục ngoái lại nhìn Laura bởi tôi đang quan sát Tommy; tôi
biết Laura đang làm chỉ bởi những người khác tiếp tục cười và thúc nó làm tới.
Thế rồi khi Tommy bị bỏ đứng trơ một mình còn toàn bộ lũ con trai bắt đầu cười
khi khí, tôi nghe Ruth nói:

“Sắp rồi đấy. Chú ý nhé. Bảy giây, Bảy, sáu,
năm…”

Cô không kịp đếm đến hết. Tommy bật rống lên
như sấm, và đám con trai, giờ thì phá lên cười không giấu giếm, co giò chạy về
phía Sân chơi phía Nam. Tommy xoãi mấy bước theo sau chúng – khó mà nói
được đó là do bản năng buộc cậu phải giận dữ đuổi theo chúng hay bởi cậu hoảng
sợ thấy mình bị bỏ lại đằng sau. Dù thế nào đi nữa, chẳng mấy chốc cậu ta đã
dừng lại, đứng đó nhìn theo chúng, mặt đỏ như gấc. Thế rồi cậu bắt đầu gào
thét, một mớ hổ lốn vô nghĩa những lời chửi thề và nhục mạ.

Cho tới lúc ấy chúng tôi đã nhìn thấy nhiều
cơn thịnh nộ của Tommy, cho nên chúng tôi liền bước từ trên ghế xuống và lại
nằm ngồi rải rác trong phòng. Chúng tôi cố khơi một chuyện gì khác, nhưng
chuyện Tommy cứ trở đi trở lại trong tâm trí mãi, và mặc dù thoạt tiên chúng
tôi chỉ tròn mắt ra điều khinh khỉnh rồi cố lờ đi, nhưng rốt cuộc – có lẽ phải
đến mười phút sau khi chúng tôi rời khỏi chỗ cửa sổ – chúng tôi lại quay về chỗ
đó.

Đám con trai khác lúc này đã hoàn toàn khuất
khỏi tầm mắt, và Tommy không còn ra sức tuôn những lời chỉ trích vào một hướng
cụ thể nào. Cậu ta chỉ nổi cơn tam bành, hoa tay múa chân tứ phía, lên trời, ra
gió, về phía cái cọc rào gần nhất. Laura bảo cậu ta nom như đang “ôn lại vai
diễn Shakespeare của mình.” Ai đó khác lưu ý rằng mỗi khi thét lác gì đó thì
cậu ta lại nhấc một chân lên khỏi mặt đất mà chĩa ra ngoài, “như con chó đứng
đái ấy.” Thật ra bản thân tôi cũng nhận ra cái động tác chân đó, nhưng điều
khiến tôi chú ý là mỗi khi cậu ta giậm chân xuống thì lại có những vết bùn bắn
lên cẳng chân cậu. Tôi lại nghĩ đến chiếc sơ mi quý giá của cậu ta, nhưng cậu
ta đang ở quá xa nên tôi không thấy rõ được cái áo có bị vấy nhiều bùn không.

“Mình nghĩ chúng nó cứ chọc tức cậu ấy luôn
như vậy thì cũng hơi ác,” Ruth nói. “Nhưng lỗi ở chính cậu ấy. Nếu cậu ấy biết
giữ bình tĩnh thì chúng sẽ để cậu ấy yên.”

“Chúng nó vẫn sẽ cứ quấy nhiều cậu ấy thôi,”
Hannah nói. “Graham K. tính khí cũng khó chịu như vậy, nhưng chỉ khiến chúng
càng cẩn thận với cậu ta hơn thôi. Sở dĩ chúng đi trêu Tommy là vì cậu ấy lười
thói thây ra.”

Thế rồi tất cả cùng nhao nhao nói, nào là
Tommy chẳng bao giờ cố tỏ ra sáng tạo, nào là cậu ấy chưa bao giờ đưa ra cái gì
trong cuộc. Trao đổi Mùa xuân. Tôi cho rằng sự thực là cho đến lúc ấy mỗi chúng
tôi đều thầm mong một giám thị nào đó sẽ từ trong nhà đi ra đưa cậu ấy đi. Và
mặc dù chúng tôi chẳng hề can dự vào cái mưu mô gần đây nhất nhằm chọc giận
Tommy, chúng tôi vẫn đã ngồi xem ở vòng ngoài, và chúng tôi
bắt đầu cảm thấy mình có lỗi. Nhưng không thấy bóng dáng giám thị nào, nên
chúng tôi vẫn cứ bàn luận với nhau lý do nào khiến Tommy đáng phải chịu những
điều như thế. Thế rồi khi Ruth nhìn đồng hồ mà nói mặc dù chúng tôi vẫn còn
thời gian nhưng tốt hơn chúng tôi nên quay lại ngôi nhà chính thì không ai bàn
cãi gì.

Tommy vẫn đang hùng hùng hổ hổ khi chúng tôi
ra khỏi đình tạ. Ngôi nhà chính nằm bên trái chúng tôi, và vì Tommy vẫn đang
đứng giữa sân ngay trước mặt chúng tôi nên không việc gì phải lại gần cậu ta.
Dù thế nào thì cậu ta cũng đang quay mặt về phía khác và dường như chẳng hề
nhận thấy chúng tôi. Thế nhưng trong khi các bạn tôi cất bước dọc theo rìa sân,
tôi lại bắt đầu bước chếch về phía cậu ta. Tôi biết điều này sẽ khiến các bạn
khác bối rối, song tôi vẫn cứ đi, ngay cả khi đã nghe tiếng Ruth thì thầm khẩn
thiết bảo tôi quay lại.

Tôi cho rằng Tommy không quen bị quấy rầy
những lúc đang lên cơn thịnh nộ, vì phản ứng đầu tiên của cậu ta khi tôi lại
gần là nhìn chòng chọc vào tôi khoảng một giây, sau đó lại tiếp tục y như cũ.
Quả thật nom như cậu ta đang tập vai trong kịch Shakespeare giữa chừng thì tôi
lù lù bước lên sân khấu. Ngay cả khi tôi nói: “Tommy, cái áo đẹp của cậu kìa.
Cậu làm bẩn hết rồi,” cậu vẫn chẳng hề tỏ dấu hiệu gì là nghe thấy tôi.

Thế là tôi liền chìa tay ra đặt lên cánh tay
cậu. Về sau những người khác đều cho rằng cậu ta làm vậy là cố ý, nhưng tôi thì
tin chắc cậu không chủ định làm vậy. Hai cánh tay cậu vẫn đang vung loạn lên,
và cậu không thể biết rằng tôi sắp sửa đặt tay tôi lên tay cậu. Dù thế nào đi
nữa, trong khi vung tay ra thì cậu ta đánh bật tay tôi sang một bên và vả vào
một bên mặt tôi. Hoàn toàn không đau, nhưng tôi há hốc mồm thở gấp, và hầu hết
các bạn tôi ở đằng sau cũng vậy.

Chỉ khi đó Tommy dường như rốt cuộc cũng nhận
ra tôi, nhận ra những người khác, nhận ra chính mình, nhận ra mình đang đứng đó
giữa sân, xử sự theo cách lâu nay thường xử sự, và cậu nhìn tôi có phần ngớ
ngẩn.

“Tommy, áo cậu vấy bùn hết rồi kìa,” tôi nói,
khá là nghiêm nghị.

“Thì sao?” cậu ta lẩm bẩm. Nhưng dù nói vậy
cậu vẫn nhìn xuống, nhìn ra những vết ố màu nâu và phải cố nén để không hét lên
và hoảng hốt. Thế rồi tôi thấy trên mặt cậu vẻ ngạc nhiên không hiểu vì sao tôi
lại biết cậu quý chiếc áo cổ lọ đến thế nào.

“Không có gì phải lo đâu,” tôi lên tiếng trước
khi sự im lặng khiến cho cậu bị bẽ mặt. “Sẽ sạch thôi. Nếu tự cậu không thể
giặt sạch thì đem tới cho cô Jody là được mà.”

Cậu tiếp tục săm soi chiếc áo, rồi nói gắt
gỏng: “Dù gì thì cũng chả liên quan gì đến cậu.”

Dường như lập tức cậu lấy làm tiếc về câu nói
này, bèn nhìn tôi với vẻ ngượng ngùng, như thể mong tôi đáp lại điều gì đó an
ủi cậu. Nhưng lúc này tôi đã chán ngấy cậu rồi, nhất là vì đám bạn gái đang
nhìn, và trong chừng mực tôi biết thì bao nhiêu người khác nơi các cửa sổ ngôi
nhà chính cũng đang nhìn. Thế nên tôi nhún vai quay đi, nhập bọn cùng các bạn.

Ruth đặt tay lên vai tôi trong khi chúng tôi
đi khỏi. “Ít nhất cậu cũng đã khiến cậu ấy hạ hỏa,” cô nói. “Cậu vẫn ổn chứ?
Thằng điên.”

Báo cáo nội dung xấu