Chiến Tranh Và Hòa Bình (Quyển 4) - Phần 14 - Chương 13 + 14 + 15 + 16

13.

- Về chỗ! - Bỗng có tiếng quát.

Đám tù binh và lính áp giải vui vẻ nhốn nháo lên và
như đang chờ đợi một cái gì vui sướng và long trọng. Bốn bề vang lên những
tiếng hô, và từ bên trái hiện ra một tốp người mặc quần áo chỉnh tề cưỡi những
con ngựa tốt phóng nước kiệu vượt qua đoàn tù binh.

Trên mọi gương mặt đều lộ ra cái vẻ khẩn trương thường
thấy mỗi khi thất sắp có những nhân vật cao cấp đến, tù binh dồn lại thành một
tốp, họ bị dồn sang một bên lề đường! Đoàn lính áp giải sắp lại thành hàng ngũ.

- Hoàng đế! Hoàng đế! Nguyên soái! Quận công! - và
ngay sau đoàn lính hộ tống no đủ, một cỗ xe kiệu thắng ngựa xám hàng dọc đi
qua, bánh xe lăn ầm ầm. Piotr thoáng nhìn thấy khuôn mặt béo tốt trắng trẻo,
đẹp đẽ, điềm tĩnh của một người ngồi đội mũ ba góc. Đó là một vị nguyên soái,
nguyên soái đưa mặt nhìn bóng dáng to lớn rất dễ nhận thấy của Piotr, và cau
mày ngoảnh mặt đi.

Trông vẻ mặt của vị nguyên soái ngoảnh đi, Piotr thấy
hình như ông ta có ý ái ngại cho chàng và muốn che giấu cảm giác đó.

Viên tướng chỉ huy đoàn vận tải, mặt đỏ gay có vẻ hốt
hoảng, thúc con ngựa gầy phóng theo cỗ xe kiệu. Mấy viên sĩ quan xúm lại binh
lính quây quần bên họ. Ai nấy vẻ mặt đầy căng thẳng và xúc động.

- Ngài vừa nói gì thế? Ngài nói gì thế?

Khi xe nguyên soái đi qua, đoàn tù binh dồn lại thành
một tốp, và Piotr trông thấy Karataiev. Sáng hôm nay, chàng chưa trông thấy bác
ta lần nào. Karataiev mặc áo khoác ngồi tựa lưng vào một cây bạch dương. Trên
mặt bác ta, ngoài cái vẻ cảm khích vui sướng như khi kể chuyện về ông già vô
tội bị đày ải, còn sáng ngời lên vì một vẻ gì trang trọng mà trầm tĩnh.

Karataiev nhìn với đôi mắt tròn hiền hậu bấy giờ đang
rưng rưng nước mắt, và hình như muốn gọi Piotr để nói một điều gì.

Nhưng Piotr sợ cho mình quá. Chàng giả vờ như không
trông thấy Karataiev nhìn mình, và vội vã lánh đi.

Khi đoàn tù binh lại lên đường, Piotr ngoảnh mặt lại
nhìn phía sau. Karataiev ngồi bên lề đường, dưới gốc bạch dương, hai tên lính
Pháp đang đứng nói gì với nhau ở bên cạnh bác ta. Piotr không nhìn lại nữa.
Chàng khập khiễng bước lên dốc.

Phía sau, ở chỗ Karataiev ngồi, có tiếng súng nổ.
Piotr nghe rõ tiếng súng nổ này, nhưng ngay giây lát chàng nghe thấy nó, Piotr
sực nhớ rằng mình chưa tính xong những chặng đường từ đấy đến Smolenxk mà chàng
đã bắt đầu tính từ lúc viên nguyên soái chưa đi xe qua. Và chàng lại nhẩm tính
toán. Hai tên lính Pháp, trong đó có một tên cầm súng trường còn bốc khói, chạy
qua cạnh Piotr. Mặt cả hai đều tái mét, và vẻ mặt của họ - Một trong hai tên
rụt rè liếc nhìn Piotr - Có một cái gì giống như vẻ mặt mà Piotr đã thấy ở tên
lính Pháp trẻ tuổi trong buổi hành hình dạo trước. Piotr nhìn tên lính và nhớ
rằng hôm kia trong khi ngồi sưởi, hắn ta đã cháy mất chiếc áo sơ mi và bị chúng
bạn chế giễu.

Con chó cất tiếng gào lên ở phía sau, chỗ Karataiev
ngồi lúc nãy. "Đồ ngu, sao nó lại rống lên như thế?" - Piotr nghĩ
thầm.

Các bạn tù binh đi cạnh Piotr cũng như chàng không
nhìn lại chỗ có tiếng súng nổ và có tiếng chó giống lên; nhưng trên mọi gương
mặt đều hiện lên một thần sắc nghiêm nghị.

Phần XIV

Chương. - 14 - 15 -

Đoàn vận tải, đoàn tù binh và đoàn xe chở đồ của
nguyên soái đóng lai ở làng Samsavo. Mọi người đều chen chúc quanh đống lửa.

Piotr lại gần một đống lửa ăn miếng thịt ngựa nướng,
nằm quay lưng về phía lửa và ngủ thiếp đi. Giấc ngủ của chàng bấy giờ lại giống
như giấc ngủ dạo trước Mozaisk sau trận Borodino.

"Cuộc sống là tất cả. Cuộc sống là Thượng đế. Mọi
vật đều di chuyển, và sự vận động ấy chính là Thượng đế. Và một khi còn cuộc
sống thì còn lạc thú tự nhận thức được cái bản chất Thượng đế của mình. Yêu
cuộc sống là yêu Thượng đế. Khó hơn cả và đáng quý hơn cả là yêu cuộc sống ấy
với những nỗi đau khổ mà mình phải chịu mặc dầu vô tội".

- Karataiev! - Piotr nhớ lại.

Và Piotr lại thấy hiện lên hình ảnh ông thầy giáo già
hiền lành hồi trước dạy địa lý cho chàng ở Thuỵ sỹ, tưởng chừng như ông hãy còn
sống vậy. "Khoan", - Ông già nói, đoạn cho Piotr xem một quả cầu Quả
địa cầu này là một hình sinh động phập phồng không có kích thước, cả bề mặt quả
địa cầu làm bằng những giọt nước dính sát vào nhau. Và những giọt nước này
không ngừng chuyển động, đổi chỗ, và khi thì mấy giọt nhập lại thành một, khi
thì một giọt lại tách ra thành nhiều. Mỗi giọt đều muốn phình ra, chiếm thật
nhiều không gian, nhưng các giọt khác cũng muốn thế, nên ép giọt kia lại, đôi
khi tiêu diệt nó, đôi khi lại hòa làm một với nó.

- Cuộc sống là như vậy đấy, - Ông thầy giáo già nói.

- "Đơn giản và rõ ràng quá. - Piotr nghĩ, - Làm
sao trước đây ta lại không biết nhỉ".

Ở trung tâm là Thượng đế, và mỗi giọt đều muốn phình
rộng thêm ra để phản ánh Thượng đế cho thật nhiều. Và mỗi giọt đều lớn lên, lan
ra, teo lại, và mất đi trên bề mặt, chìm xuống chiều sâu, rồi lại nổi lên. Đấy
Karataiev cũng lan rộng ra và mất đi như vậy.

- Đã hiểu chưa con? - Ông thầy giáo già nói.

Đã hiểu chưa, đồ chết tiệt? - Có tiếng quát, và Piotr
bừng tỉnh.

C hàng nhổm người lên rồi ngồi dậy. Bên đống lửa có
một tên lính Pháp ngồi xổm. Hắn vừa đuổi một người Nga sang bên để lấy chỗ ngồi
nướng miếng thịt xóc ở đầu que thông nòng súng. Ánh than hồng soi khuôn mặt rám
nắng hầm hầm, với đôi mày cau lại.

- Hắn thì cần gì? - Tên lính càu nhàu, quay phắt về
phía một tên khác đứng sau lưng… đồ kẻ cướp!

Và người lính vừa quay que thông nòng vừa nhìn Piotr
gườm gườm. Piotr quay mặt đi, nhìn vào bóng tối. Một người tù binh Nga, người
vừa bị tên Pháp xô ra, đang ngồi bên đống lửa và lấy tay vuốt vuốt một vật gì.
Nhìn sát hơn, Piotr nhận ra con chó lông tía đang ngoắt đuôi ngồi cạnh người
lính.

- À đã về đấy hử? - Piotr nói. - Chà, pla… chàng không
nói hết.

Trong tư tưởng của chàng cùng một lúc hiện lên một mớ
hình ảnh hòa trộn lẫn vào nhau, hình ảnh đôi mắt của Platon nhìn chàng khi ngồi
dưới gốc cây bạch dương, tiếng súng phát ra từ chỗ ấy, tiếng chó rống lên, vẻ
mặt tội lỗi của hai tên lính Pháp chạy qua cạnh chàng, khẩu súng trường bốc
khói, sự vắng mặt của Karataive ở trạm nghỉ này và chàng đã sẵn sàng hiểu rằng
Karataiev đã bị bắn chết, nhưng ngay giây lát ấy, trong lòng chàng, chẳng biết
từ đâu đến, lại hiện lên những kỷ niệm buổi tối mùa hè năm nào chàng cùng cô
thiếu nữ Ba Lan xinh đẹp ngồi hóng mát trên bao lơn một tòa nhà ở Kiev. Và cũng
không liên hệ những kỷ niệm ngày hôm nay lại với một phong cảnh mùa hè pha lẫn
với một buổi tắm sông, hình ảnh quả cầu phập phồng, và chàng buông mình xuống
nước, cho đến khi nước ngập quá đầu.

Trước khi mặt trời mọc, Piotr choàng người dậy vì
những tiếng súng nổ liên hồi rất to và tiếng quát tháo. Mấy tên lính Pháp chạy
ngang qua mặt Piotr.

Suốt hồi lâu Piotr không sao hiểu được chuyện gì vừa
xảy ra.

Từ phía chàng nghe những tiếng reo hò mừng rỡ của các
bạn tù.

- Anh em ơi! Các cậu ơi! - Những người lính già vừa
khóc vừa nổi người khi ôm lính cô-dắc và lính phiêu kỵ. Lính phiêu kỵ và lính
cô-dắc xúm quanh tù binh và đem nào áo, nào giày, nào bánh mì ra mời họ; Piotr
ngồi giữa đám đông khóc nấc lên không thốt lên lời; Chàng ôm lấy người lính đầu
tiên đến cạnh chàng và vừa ôm và vừa khóc vừa hôn lên anh ta.

Dolokhov đứng bên cổng tòa nhà đổ nát nhìn tốp lính
Pháp đã bị tước khí giới đi qua. Đang xúc động vì những việc vừa xảy ra, quân
Pháp bàn tán với nhau rất to tiếng; nhưng khi đi qua Dolokhov đang cầm roi ngựa
đập đập vào ủng và nhìn nhìn họ với đôi mắt lạnh như thuỷ tinh, một cái nhìn
chẳng hứa hẹn điều gì là tốt lành gì cả, họ liền im lặng. Bên kia cổng, một
người lính cô-dắc của Dolokhov đứng đếm số tù binh, cứ một trăm tên lại gạch
một phần lên cổng.

- Bao nhiêu? - Dolokhov hỏi người cô-dắc đang đếm tù
binh.

- Hơn một trăm rồi ạ, - Người cô-dắc đáp.

- Đi đi, đi đi! - Dolokhov giục. Chàng đã học được cái
giọng này ở quân lính Pháp, và khi bắt gặp mặt những tên tù binh đi ngang, khóe
mắt chàng ngời lên một ánh sáng tàn nhẫn.

Denixov, mặt lầm lầm, bỏ mũ xuống đi theo mấy người
cô-dắc đang khiêng xác Petya Roxtov đến cái huyệt mới đào xong ở ngoài vườn.

15.

Kể từ ngày hai mươi tám tháng mười, khi trời bắt đầu
giá rét, cuộc bỏ chạy của quân lính Pháp chỉ thêm bi đát vì cảnh những người
chết cóng hoặc chết bỏng ở các bếp lửa, và cảnh hoàng đế, các quốc vương và các
quận công mặc áo choàng ấm tiếp tục ngồi xe kiệu cùng với nhiều của cải cướp
được; vì thực chất thì quá trình trốn chạy và tan rã của quân đội Pháp. Kể từ
khi ở Moskva, ra đi cũng không hề mảy may thay đổi.

Từ Moskva đến Vyazma, quân đội Pháp từ bảy vạn ba
nghìn người, không kể quân cấm vệ (đạo quân này trong suốt cuộc chiến tranh
chẳng làm gì ngoài việc cướp bóc) từ bảy vạn ba nghìn người ấy chỉ còn ba vạn
sáu nghìn (trong số này chỉ có năm nghìn người bị chết trong các trận đánh). Đó
là vế đầu của cấp số quyết định các cấp số sau khi cách tính chính xác như toán
học.

Quân đội Pháp vẫn theo tỉ số ấy mà tan rã và bị tiêu
diệt từ Moskva đến Vyazma, từ Vyazma đến Smolensk. Từ Xmoleaxk đến Betrya,
Berezina, từ Berezina đến Vilna, không kể trời lạnh đến mức như thế nào, bất
chấp những cuộc truy kích, những cuộc chặn đường và những điều kiện khác xét
riêng từng cái. Sau Vyazma quân Pháp không đi thành ba đạo nữa mà nhập lại
thành một lũ và cứ thế mà đi cho đến cùng. Bertie có viết cho vua ông ta như
sau (ta đã biết rõ các nhà chỉ huy quân sự thường cho phép mình đi xa sự thật
đến nhường nào khi mô tả tình hình quân đội).

"Tôi thấy cần phải tâu để bệ hạ rõ tình hình của
quân đội bệ hạ trong các quan đoàn mà tôi đã có dịp quan sát trong hai ba ngày
nay ở nhiều chặng hành quân khác nhau. Quân đội đã hoàn toàn tan rã. Trong hầu
hết các trung đoàn số binh sĩ đi theo các quân kỵ giỏi lắm chỉ còn một phần tư,
còn lại thì đi lẻ ra nhiều hướng vì nhiều mục đính riêng tư, hy vọng tìm lương
ăn và thoát khỏi bị kỷ luật.

Nói chung, họ xem Smolensk như nơi họ nghỉ cho lại
sức. Mấy ngày gần đây nhưng người ta thấy nhìn thấy nhiều binh sĩ vứt đạn vứt
súng đi. Trong tình trạng này thì dù ý định của bệ hạ có thế nào chăng nữa,
quyền lợi quân sự của bệ hạ cũng yêu cầu tập hợp lại quân đội ở Smolensk, bắt
đầu bằng việc thanh toán những phần tử không chiến đấu như những kỵ binh mất
ngựa, những hành lý và những đồ đạc của pháo binh không còn cân xứng với lực
lượng hiện nay nữa, ngoài những ngày nghỉ ngơi ra, lương thực cũng rất cần cho
binh sĩ đã kiệt sức vì đói và mệt.

Mấy ngày gần đây đã có nhiều người chết dọc đường hay
ở các trại lộ chiến.

Tình hình mỗi ngày một thêm trầm trọng và khiến ta
phải nghĩ rằng nếu không có phương sách gì để cấp tốc để bổ cứu, tôi sợ đến khi
có chiến tranh ta không còn làm chủ được quân đội nữa. Ngày mùng tám tháng mười
một, cách Smolensk 30 dặm Nga".

Sau khi ùa vào Smolensk là nơi họ xem như cõi đất hứa
hẹn, quân Pháp giết nhau để tranh giành lương thực, cướp phá cả các kho lương
thực của họ, và khi đã cướp đi hết sạch, họ lại tiếp tục chạy trốn.

Mọi người đều đi mà chẳng biết mình đi đâu và để làm
gì.

Napoléon với cái thiên tài của ông ta, còn biết điều
đó ít hơn ai hết, vì không có ai ra mệnh lệnh cho ông ta cả. Tuy thế ông ta và
những người thân cận vẫn giữ những tập quán cũ: viết mệnh lệnh, thứ tự, báo
cáo, nhật lệnh; gọi nhau là "Bệ hạ, hiền huynh, công tước Ecmuun, quốc
vương Napoli v.v…" Nhưng những mệnh lệnh và báo cáo đều chỉ có thể trên
giấy tờ, không có việc gì được thực hiện theo những mệnh lệnh đó cả, vì không
nào thực hiện được, và tuy họ gọi nhau bằng những chức tước long trọng và xưng
hô như anh em cùng họ, mọi người đều cảm thấy mình là những con người thảm hại
và xấu xa đã làm nhiều điều ác mà nay họ phải trả nợ. Và tuy họ giả vờ lo lắng
đến quân đội, mỗi người chỉ nghĩ đến cái thân mình và nghĩ cách làm sao trốn
thoát cho nhanh.

Phần XIV

Chương. - 16 -17 -

Hoạt động của quân Nga và quân Pháp trong thời kỳ
chiến dịch rút lui từ Moskva đến Neman giống như một trò bịt mắt bắt dê, trong
đó cả hai người chơi đều bị bịt mắt và người trốn thỉnh thoảng lại rung chuông
để cho người tìm biết chỗ. Lúc đầu người trốn rung chuông, không sợ địch thù,
nhưng khi nguy hiểm đến nơi thì hắn ta lại cố lặng lẽ chuồn đi cho khỏi bị
người ta bắt và nhiều khi tưởng là chạy trốn mà hóa ra là xông thẳng vào tay đối
thủ.

Lúc đầu quân Napoléon còn cho biết nó đang ở đâu. - Đó
là vào thời kỳ đầu cuộc rủt quân trên con đường Kaluga, nhưng về sau, khi kéo
lên con đường Smolensk, nó chạy trốn, tay giữ chặt lấy quả chuông và nhiều khi
tưởng là mình chạy trốn mà hóa ra là đâm thẳng vào quân Nga.

Vì quân Pháp chạy trốn và quân Nga đuổi theo đều rất
nhanh, và do đó, ngựa đều kiệt sức cả, cho nên cái phương tiện chủ yếu để tìm
hiểu vị trí phỏng chừng của quân địch. - Tức là những cuộc trinh sát của kỵ
binh. - Nay không còn nữa. Ngoài ra, hai quân đội lại luôn luôn thay đổi vị trí
và thay đổi rất nhanh cho nên những tin lức báo về, dù là tin tức gì, cũng đều
không còn xác thực nữa. Nếu ngày mồng hai có tin cho biết là ngày mồng một quân
địch ở một nơi nào đấy, thì đến ngày mồng ba, khi đã có thể tiến hành một việc
gì quân đội đã đi được hai chặng đường rồi và đã đến một vị trí khác hẳn.

Quân đội này chạy trốn, quân đội kia đuổi theo. Từ
Smolensk quân Pháp có thể chọn nhiều đường rút khác nhau; và người ta có thể
tưởng ở đây, sau bốn ngày đóng trại, quân Pháp có thể biết được quân địch ở nơi
nào, nghĩ ra một cái gì có lợi và mưu tính một việc gì mới. Nhưng sau bốn ngày
đóng trại, đám quân hỗn loạn ấy lại bỏ chạy, không phải sang phải, cũng không
phải sang trái, mà lại theo đường cũ. Con đường bất lợi hơn cả, con đường
Kraxnoye và Orsa, không hề có kế hoạch và chiến thuật gì hết, chỉ theo vết cũ
mà chạy.

Đinh ninh rằng quân địch ở sau lưng chứ không phải ở
trước mặt, quân Pháp chạy thành một tuyến dài, mỗi toán cách nhau đến hai mươi
bốn tiếng hành quân. Người chạy trước ai hết là hoàng đế, sau đến các quốc
vương rồi đến các quận công. Quân Nga tưởng Napoléon sẽ đi chếch sang phải về
phía đông Dniepr, và chỉ có làm như vậy mới hợp lý, nên cũng đi chếch sang phải
và đi lên đường cái lớn dẫn đến Kraxnoye. Và ở đấy, như trong trò bịt mắt bắt
dê, quân Pháp đâm sầm vào đạo tiến của quân ta. Bỗng đâu trông thấy địch ngay
trước mặt, quân Pháp hoảng hốt dừng lại nhưng rồi lại bỏ chạy, bỏ mặc những bạn
đồng ngũ đang theo sau.

Ở đấy suốt ba ngày quân Pháp như len qua hàng ngũ quân
của Nga, từng đơn vị lần lượt kéo qua, đầu tiên là quân của phó vương, rồi đến
quân Davu, và sau đó đến quân Ney. Tất cả đều bỏ rơi lẫn nhau, bỏ rơi tất cả
những thứ nặng nề, bỏ hết đại bác, bỏ lại một nửa quân số và chạy miết, chỉ đến
đêm mới len đi vòng qua cánh phải quân Nga thành những hình bán nguyệt.

Ney rút sau cùng vì còn bận chôn mìn phá thành
Smolensk tuy những bức thành này chẳng làm phiền ai cả (mặc dầu tình cảnh quân
Pháp rất bi đát, hoặc chính vì vậy, cho nên như đứa trẻ bị ngã đau họ muốn đạp
nền nhà họ). Rút sau cùng với quân đoàn của ông gồm một vạn người, Ney chỉ còn
được một nghìn quân khi chạy đến Orsa họp với Napoléon, sau khi đã bỏ hết quân
lính và đại bác rồi thừa lúc đêm tối lẻn qua lừng vượt sông Dniepr.

Từ Orsa, họ tiếp tục chạy theo con đường đến Vilna và
cũng vẫn trò chơi bịt mắt bắt dê với đạo quân truy kích họ đúng như trước Đến
sông Berezina(1), họ lại lâm vào tình trạng hỗn loạn, nhiều người bị chết đuối,
nhiều người đầu hàng, nhưng những ai qua sông được lại tiếp tục chạy. Vì tổng
tư lệnh của họ mặc vội áo da lông, ngồi trên xe trượt tuyết và bỏ các bạn chiến
đấu chuồn đi một mình, ai có thể chốn được cũng chốn theo, còn ai không chốn
được thì đầu hàng hay chết.

(1) Phụ lưu bên phải của sông Dniepr. Tháng mười một
năm 1812 quân đội Pháp bỏ chạy với bị tổn thất nặng nề ở đây. Napoléon chạy
thoát và chín nghìn người đến Vinno. Toàn quân gần như bị tiêu diệt.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.