Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng - Chương 07 - Phần 5
Patience không thể chịu đựng được sự thống trị không ngừng của Eustace đối với cô. “Tôi từng là đứa con gái tinh nghịch,” cô nói. “Tôi từng khiến đàn ông sợ vì sự mạnh mẽ của mình. Trước khi gặp anh ấy, tôi là một phụ nữ hiện đại tràn đầy tự tin trong huyết quản. Nhưng anh ấy lấn lướt tôi dần dần cho đến khi tôi không còn chút quyền lực nào nữa. Với Eustace chuyện luôn xảy ra như thế; ta bị cuốn vào cơn lốc những mục tiêu của anh ấy và cuộc đời anh ấy, và rồi ta mất tích. Tôi biến mất vào trong anh ấy. Rất nhiều lần, cánh phóng viên địa phương xin nhập đoàn với chúng tôi, thế là anh ấy đánh xe ngựa đi cùng với tay phóng viên còn tôi sẽ lái xe của phóng viên theo sau. Anh ấy sẽ trò chuyện suốt cả ngày để làm say lòng từng tay phóng viên, nhưng ngày hôm sau, khi tôi đánh xe cạnh anh suốt hai mươi tiếng đồng hồ thì anh chẳng nói với tôi lấy một lời. Tất cả những gì anh ấy thực hiện trên hành trình đó là hoạnh họe và bảo tôi phải làm gì.”
“Tất nhiên là tôi đã bảo cô ấy phải làm gì,” Eustace thừa nhận. “Tất nhiên tôi nắm quyền, vì tôi biết phải làm gì. Tôi có kiến thức và kinh nghiệm để hiểu được lũ ngựa và những thực tế của việc sống sót trên đường trường, để giữ mạng sống của cô ấy và của tôi và của lũ ngựa trong hai nghìn dịp khác nhau, trong khi có đến một nghìn năm trăm lần cô ấy thậm chí không nhận thấy. Cô ấy không bao giờ trân trọng tôi về điều đó. Cô ấy càng lúc càng hờn dỗi và thiếu chín chắn hơn mỗi khi chúng tôi làm việc với nhau. Cô ấy không hề biết điều gì đã giúp chúng tôi sống sót trên thảo nguyên đó. Chúng tôi đã đặt ra mục tiêu lập kỷ lục thế giới về tốc độ. Và nếu tôi định gánh vác điều gì như thế, tôi sẽ gánh vác nó một trăm phần trăm, nên cô ấy cần tôn trọng hiểu biết của tôi và dừng ngay những phản ứng trẻ con trước sự lãnh đạo của tôi.”
Khi tôi hỏi liệu có ích gì không nếu hai người dừng xe ngựa một ngày để ngồi giữa đồng cỏ nói cho bằng hết những vấn đề đang khúc mắc, anh bảo, “Điều đó không phải một phần của chương trình. Điều đó sẽ làm hỏng mục tiêu của chúng tôi.”
Sau này Patience than thở (y như Judson đã than thở trên hành trình Kỵ sĩ Đường trường) rằng trong suốt chuyến đi Eustace cư xử chẳng khác gì cha anh. Patience đã có đủ thời gian ở bên bố mẹ Eustace để cảm thấy khó chịu trước thái độ thống trị và thiếu tôn trọng mà Eustace Cha thể hiện với vợ ông, và giờ đây cô cảm thấy cô đang nhận sự đối xử y hệt như thế từ Eustace Con. Cùng một kiểu chuyên quyền, cùng một mức độ cầu toàn, cùng một lối khước từ đáp lại những nhu cầu của người khác. Đối với cả Patience lẫn Judson, trong những hành trình trên lưng ngựa này Eustace không chỉ thật quá quắt như cha anh mà còn đầy bi kịch cũng như cha anh. Còn gì có thể đáng buồn hơn một người đàn ông đi đến tận cùng trái đất theo đúng nghĩa đen mà vẫn không tránh được chuyện trở thành cha của anh ta?
Nhưng tôi không tin trên những hành trình đó Eustace đang trở thành bố anh mà thật ra là anh đề cao ông, bằng cách cố gắng chứng minh lần nữa rằng anh có giá trị, dũng cảm, hoàn hảo và logic. Cũng y như anh đã cố chứng tỏ bằng tất cả những chuyến phiêu lưu táo bạo và đống thành tích buồn tẻ của mình. Dù mong mỏi được yêu Patience và em trai bao nhiêu đi nữa, anh vẫn không thể đặt nhu cầu của họ lên hàng đầu khi mà khoản đặt cược vào mỗi hành trình này đều quá lớn - giải thưởng đích thị là cuối cùng anh sẽ nhận được sự chú ý của cha anh. Anh vẫn còn chú tâm vào câu chuyện yêu thương buồn bã cũ xưa, câu chuyện còn chưa phân giải quá ư chua chát. Bất chấp mọi thành tựu của anh, Eustace Cha chưa bao giờ cho con trai một lời nói hay một cái gật đầu công nhận. Eustace phải làm gì hơn nữa để được bố anh thừa nhận rằng anh không phải là một kẻ thất bại ngu dốt, thảm hại, đáng thương? Một kỷ lục về tốc độ phi ngựa trên thế giới có giúp ích không?
Hai thì sao?
Chẳng có lời buộc tội nào nhắm vào Eustace gây tổn thương hơn là cho rằng anh đang cư xử chẳng khác gì bố anh. “Tôi sẵn lòng kê súng vào miệng mà bắn vỡ đầu mình,” anh nói, “nếu tôi từng tin rằng tôi đối xử với ai đó theo cái cách ông già đó đã đối xử với tôi.” Tất nhiên Eustace mở lòng mình để tự ngờ vực và tự phê bình hơn so với cha anh, và anh đau buồn sâu sắc (chưa bao giờ đến mức độ như trong những hành trình phi ngựa đường trường đó) trước những rắc rối trong quan hệ giữa anh với mọi người. Anh biết rõ những rắc rối đó; anh thấy những khuôn mẫu lặp đi lặp lại; anh nỗ lực điều chỉnh lại tình thế. Nhưng chẳng phải lúc nào anh cũng biết phải làm gì. Anh hiểu bản thân đủ để biết rằng anh, theo đúng từ anh dùng, “hỏng”, nhưng anh không biết làm cách nào sửa đổi bản thân. Anh biết rằng anh không hiểu được Patience Harrison, rằng dù bởi lý do gì thì thật sự trên hành trình đó anh cũng đã không thể giao tiếp với cô theo cái cách sẽ cho họ cơ hội nào đó trong tình yêu. Có thể vì cô non nớt; có thể do chủ nghĩa hoàn hảo gay gắt của anh; có thể đó là sự kết hợp đầy hủy hoại gồm những khuyết điểm của cả hai. Dù sao đi nữa toàn bộ chuyện này là một nỗi bất hạnh.
“Có lẽ chúng tôi nên tập trung nhiều hơn vào mối quan hệ của mình thay vì vào các mục tiêu,” anh nói, “nhưng đôi khi có cảm giác như các mục tiêu ấy lại là thứ duy nhất chung giữa chúng tôi. Tôi không biết mình nên làm gì nữa. Tôi không giỏi chuyện này, chỉ hy vọng sau này chúng tôi có thể giải quyết chuyện đó.”
Chẳng còn có sau này nữa. Không hẳn. Họ dần dứ mối quan hệ ấy thêm một năm sau hành trình trên xe ngựa nhưng cuối cùng Patience nhận việc ở Boone, làm huấn luyện viên khúc côn cầu trên cỏ, và dần dần tách khỏi Eustace và Đảo Rùa. Và dù bao nhiêu lá thư mười lăm trang thổn thức của anh đi nữa (“Anh xin lỗi nếu anh đã không thể hiện rõ được con người, tình cảm, cách nhìn của mình sao cho em hiểu... Anh cầu trời sẽ đến một ngày em đủ sức mạnh hoặc sẵn sàng để có thể cảm nhận tình yêu sâu sắc anh đang nếm trải lúc này”) cũng không thể đưa cô trở lại.
Patience đã không còn gì nữa với chuyện này.
Điều làm Eustace tan nát về Patience là cô không hiểu anh. Cô không hiểu anh yêu cô biết chừng nào. Cô không hiểu những giới hạn cảm xúc và những vết thương trong anh. Những cái đích của anh. Anh mong mỏi tình yêu của cô biết bao nhiêu. Anh sẵn lòng trao tình yêu cho cô nhiều bao nhiêu. Và anh mong muốn thấy cô tin tưởng mình biết bao nhiêu. Cô không hiểu gì về anh cả.
Và chính sự thiếu đánh giá đúng mực, sự thiếu hiểu biết sự thiếu niềm tin lộ rõ này đã thiêu rụi trái tim Eustace. Sau khi phải trải qua đau khổ vì cha mình, người luôn bảo anh là một kẻ hoàn toàn thất bại điên khùng và vô dụng, làm sao giờ đây anh chịu đựng nổi khi có người (đặc biệt đó lại là người đáng ra phải yêu anh) không tin tưởng anh hoặc không tin vào sự tài giỏi của anh? Sao mà lại giống nhau đến vậy. Và nếu người phụ nữ anh yêu không thể hiểu anh thì anh còn mong đợi gì có được sự thấu hiểu từ người khác? Anh có thể tìm thấy sự công nhận và sự cảm thông ở đâu? Trong vòng tay ai? Trong con mắt ai? Eustace Conway càng lúc càng tin rằng sẽ chẳng bao giờ có người nào thực sự hiểu anh, rằng nỗi cô đơn tận cùng này sẽ là vĩnh cửu. Rằng trên thế gian này anh chỉ là một kẻ tị nạn từ lúc sinh ra và từ trong số phận.
“Tôi cảm thấy mình giống như Ishi(5) vậy,” anh nói.
(5) Ishi (kh.1860-1916) là thổ dân cuối của tộc người Yana sống ở Carolina. Cái tên Ishi (tiếng dân tộc nghĩa là “người đàn ông”) do một nhà nghiên cứu đặt cho ông.
Câu chuyện về Ishi là một câu chuyện ám ảnh Eustace từ thời thơ ấu. Ishi là một thổ dân da đỏ thuộc tộc người ở California, một nền văn hóa thời kỳ đồ đá đã sống nhiều thế kỷ trong những hẻm núi ngoại vi Los Angeles. Cuối thế kỷ mười chín, tộc người của Ishi bị sát hại trong một cuộc tấn công diệt chủng khi người da trắng tiến vào sâu hơn trong các hẻm núi để tìm vàng và đất nông trang. Sang đầu thế kỷ hai mươi, các nhà nhân học đều có chung một nhận định là thổ dân California đã tuyệt diệt.
Tức là cho đến ngày 29 tháng Tám năm 1911. Hôm đó, ngay giữa thời đại hỏa xa và điện thoại, Ishi, một thổ dân lực lưỡng khoảng trên năm mươi tuổi, đi lang thang xuống một thung lũng nông trang ở Oroville, California. Ông trần truồng, mái tóc cháy trơ, để cho thấy đang để tang. Ông đã ẩn mình trong những hẻm núi từ thời thơ ấu với bà và một cô em gái, và giờ đây khi cả hai người kia đã qua đời, trong lòng tràn ngập nỗi buồn bã cô đơn, ông đi bộ suốt một hành trình dài, sẵn sàng chu du “vào thế giới bên kia”. Đó chính là nơi ông dừng chân. Ông là một người thời kỳ đồ đá bước vào ngay giữa nước Mỹ công nghiệp hiện đại. Phải mất nhiều tuần trời các nhà nghiên cứu và các nhà dân tộc học mới đoán ra Ishi là ai và mới có thể chắp nối một thứ ngôn ngữ để thông qua đó giao tiếp với ông. Tất nhiên, họ thấy ông là một kho tàng vô giá về thông tin nhân học. Ông dạy họ ngôn ngữ, thần thoại và kỹ thuật săn bắn (bao gồm cả một dạng nghệ thuật bắn cung vốn trước đây chỉ thấy ở Mông Cổ). Các nhà nhân học nghiên cứu Ishi cuối cùng đã đưa ông tới viện bảo tàng của họ, ở đây ông làm một chân quét sân.
“Người đàn ông này,” Eustace nói với sự nghi hoặc, “với khả năng thông thạo đáng kinh ngạc để sống trong rừng thẳm, đang suốt ngày đưa chổi quét nhà.”
Ishi cũng làm đầu mũi tên cho khách tham quan, họ thường mỗi lần một tuần lại đến xem ông được trưng bày ở viện bảo tàng. Ông học nói ít tiếng Anh, tập mặc quần dài, xem kịch, đi tàu hỏa, rồi chưa được mười năm thì ông chết vì bệnh lao.
“Thề có Chúa là đôi khi tôi cảm thấy mình giống như Ishi,” Eustace nói. “Hoàn toàn khác với mọi người trong thế giới này, kẻ cuối cùng trong chủng loại của mình, như con cá mắc cạn. Chỉ biết cố gắng truyền đạt. Cố gắng dạy mọi người điều gì đó. Nhưng lúc nào cũng bị hiểu lầm.”
Eustace đã luôn bị hiểu sai như thế trong suốt những chuyến đi ngựa. Anh gặp các thanh niên vốn là những nhà môi trường ăn chay, họ rất phiền lòng khi thấy anh mặc da thú cũng như khi biết rằng anh săn bắn lấy thịt. Anh chán ngán đến độ chẳng còn hơi sức đâu mà giải thích rằng quần áo sợi tổng hợp của họ mới là thứ hủy hoại môi trường hơn nhiều, bởi đó là thứ nguyên liệu không thể tái chế sản xuất trong các nhà máy ngốn tài nguyên và gây ô nhiễm. Hoặc rằng họ chẳng biết thức ăn của họ có từ đâu, hay trái đất này phải chịu đựng ra sao bởi các hoạt động sản xuất và đóng gói. Và rồi còn có những người bảo vệ quyền động vật, họ phản đối sự tàn bạo mà họ chứng kiến khi quan sát Eustace thúc ép ngựa của anh quá khắc nghiệt.
“Ở đời có những người sở hữu những con ngựa béo tốt, những con ngựa chỉ là thứ nằm ì ngoài đồng cỏ,” Eustace quan sát, “và họ chưa bao giờ thấy một con ngựa thật sự sung sức trước khi nhìn thấy con ngựa của tôi. Đàn ngựa của tôi thuần thục, thon gầy, múi cơ dài, suốt đời làm việc và chu du. Chúng là những vận động viên sinh ra để kéo xe đường trường. Chức năng của loài ngựa vốn là như vậy. Chẳng ai chăm sóc động vật chu đáo hơn tôi. Thế mà tôi cứ nghe mọi người nói, 'Anh không cho ngựa ăn đủ!' nghe thật là bực. Tôi muốn nói, 'Nghe này mọi người, tôi cho ngựa của tôi ăn nhiều tới nỗi phải như con ngựa già lười nhác chết gí trong cái đồng cỏ bé tin hin ngớ ngẩn của các người thì chắc là đã chết đứ đừ rồi.' Nhưng ngựa của tôi gầy vì chúng đốt cháy hết năng lượng.”
Sự việc đáng buồn nhất xảy ra ở Gillette, Wyoming. Khi đó Eustace và Patience cùng lũ ngựa vừa kết thúc một ngày đi 51 dặm đường. Họ buộc xe ngựa vào lan can bên ngoài một quán rượu bụi bặm trông chẳng khác gì một cảnh trong phim rồi đi vào trong mua bánh. Khi họ rời thị trấn, một ông già dáng dấp cao bồi phóng ngang và con ngựa tốt nhất của Eustace, Hasty, con ngựa giống Morgan trung thành của anh, vừa ăn no uống say nên đang cúi đầu nghỉ ngơi. Tay cao bồi nói, “Con ngựa này tịnh chẳng có tim đâu. Tôi ở cạnh lũ ngựa cả đời rồi nên tôi có thể nói với anh rằng con vật này sắp chết đến nơi. Tốt nhất anh nên lôi nó ra và bỏ nó đi.”
Eustace chẳng nói tiếng nào. Anh không nói với gã cao bồi đó rằng trong đời mình Hasty đã đi hàng nghìn dặm rồi. Anh không nói rằng Hasty từng có nhịp tim 45 nhịp một phút sau khi phi nước kiệu mười bốn dặm - thấp hơn mạch đập của hầu hết lũ ngựa khi nghỉ ngơi. Thậm chí không hề thở khó nhọc. Anh chẳng đề cập tới chuyện Hasty sẽ đi hết gần 450 dặm trong tám ngày tới. Hay rằng Eustace Conway sẽ không đánh đổi con ngựa đó lấy một triệu đô la.
“Hasty chỉ là một con ngựa hồng,” Eustace bảo tôi. “Lông nâu đỏ, bờm đen đuôi màu đen. Nó là con ngựa có vẻ bề ngoài bình thường nhất ta từng thấy, nhưng nó là một anh hùng. Người ta chẳng hề biết tôi có được gì với con ngựa đó. Gã cao bồi ấy nói Hasty không hề có tim; tôi nói thật, con ngựa này chẳng là gì khác ngoài trái tim. Hasty là nhà vô địch của tôi, và nó rất thích chu du. Chúng tôi đã trải qua bao chuyến phiêu lưu cùng nhau mà gã cao bồi kia thậm chí chẳng tài nào tưởng tượng nổi, và chúng tôi rất hiểu nhau. Chúng tôi thúc nhau chạy xa và chạy nhanh hết sức, Hasty say mê điều đó. Tôi nói thật, con ngựa đó thậm chí vẫn chưa tìm thấy giới hạn của nó đâu. Và tôi chưa bao giờ gặp một ai hiểu điều đó có nghĩa là gì.”
Có một người đàn ông ở Kentucky vốn là chuyên gia lỗi lạc nhất thế giới (vì đươmg nhiên phải có ai đó nắm giữ vị trí này) về lịch sử chu du đường trường cùng ngựa. Tên ông là CuChullaine O'Reilly, và ông sở hữu bộ sưu tập sách đồ sộ nhất thế giới về hành trình phiêu lưu cùng ngựa. Bản thân ông đã thực hiện năm chuyến đi ngựa hào hùng xuyên Trung Á, một trong số đó là tới dãy Himalaya, nơi
một con ngựa của ông bỏ mạng và người dân địa phương đã ăn thịt nó.
“Cô phải đặt Eustace Conway vào bối cảnh chung,” CuChullaine O'Reilly nói, ông quả đã làm được việc đó. “Tôi hiểu lĩnh vực của mình và tôi có thể nói rằng anh chàng này là một tay cực kỳ đấy. Nghĩ xem cả đất nước này có bao nhiêu người nuôi ngựa? Hàng trăm nghìn người đúng không? Thế bao nhiêu người trong số họ từng cưỡi ngựa ra xa khỏi chuồng trại hơn năm mươi dặm? Chẳng có ai. Bởi vì thật kinh khủng khi đưa mình cùng lũ ngựa ra ngoài đời mà không có phương tiện bảo vệ. Tôi biết rất rõ điều này.
“Nghe này, những chặng đường trường Eustace đã chu du, bản thân chúng chẳng có gì thật sự nổi trội. Tôi biết một cặp đã đi hơn mười tám nghìn dặm trên lưng ngựa. Tôi biết một anh chàng ở Maine mấy năm trước đã phi ngựa mười bốn nghìn dặm. Thế nên đi xuyên đất nước này không có gì là ghê gớm. Điều phi thường nằm ở chỗ Eustace thực hiện hành trình đó trong 103 ngày. Không tin nổi. Đó là nhà vô địch về tốc độ chu du đường trường trên lưng ngựa trong ít nhất hai mươi lăm năm qua, có thể còn lâu hơn. Cà đáng kinh ngạc là Eustace làm được điều đó trong khi trước đó anh ta chưa từng là một kỵ sĩ thật sự. Anh ta đã sử dụng những kỹ năng sống trong vùng hoang vu, sự gan dạ và trí thông minh, và anh ta thực hiện hành trình này hầu như không hề mắc sai sót. Còn hành trình xe ngựa ư? Điều khiển xe ngựa nhanh tới thế ấy à? Chuyện này thật dị thường. Chỉ có rất ít người đứng được ngang hàng với Eustace trong thuật điều khiển ngựa, thế mà tất cả bọn họ đều suốt đời chăm chăm mỗi chuyện cưỡi ngựa chứ chẳng làm gì khác. Họ nghiên cứu tới hai năm trước một chuyến đi dài, và rồi họ có được các nhà tài trợ và đưa theo bác sĩ thú y riêng và hàng núi tiền. Và họ mắc phải rất nhiều sai lầm mà anh ta không hề mắc phải.”
Theo ý kiến của CuChullaine O’ReilIy, có ba yếu tố mà một người cần để trở thành một kỵ sĩ đường trường xuất sắc: lòng dũng cảm, ý chí kiên định, và sự lãng mạn. Eustace có cả ba, ở một mức độ phi thường. Và cả một số điều khác nữa. Anh có một kiểu tư chất thiên bẩm. Đối với CuChullaine O'Reilly, hành trình xuyên đất nước trong 103 ngày của Eustace Conway là một thành tích thú vị sánh ngang việc một cậu bé nông thôn người Iowa chưa hề được huấn luyện tình cờ tham gia thi đi bộ rồi bỗng nhiên lập kỷ lục một dặm đường trong chưa đầy bốn phút. Ta không thể làm điều đó. Nhưng Eustace có thể.
Xét ở mặt trên, và xét về giá trị nhân vật thực tiễn và thuần túy, CuChullaine O'Reilly thấy chỉ có thể đưa Eustace ra so sánh với một người khác, một người hoang dã ở Alaska tên là Eugene Glasscock. Eugene Glasscock là một tay ẩn dật râu ria xồm xoàm, tính cách sắt đá (ở nhà mọi người gọi anh ta là “Ông Núi”), một ngày vào hồi thập niên 1980 đột nhiên nổi hứng quyết định cưỡi ngựa từ vòng Bắc Cực tới Xích đạo. Mặc đồ da hoẵng tự khâu, tất nhiên. Một kẻ kỳ cục điên khùng. Khó khăn lắm anh ta mới sống sót qua được lãnh thổ Yukon và dãy Rocky, và anh ta bị bọn cướp tay lăm lăm dao rựa ở Mexico tấn công, và anh ta phải bơi bên cạnh ngựa mà băng qua mấy dòng sông hung hãn ở Guatemala. Tuy nhiên, anh ta thích rừng rậm. Đó là lý do tại sao Ông Núi vẫn sống dưới Trung Mỹ, một nơi nào đấy hoàn toàn không có trên bản đồ. Thật tệ là khó liên lạc với anh ta quá, CuChullaine O'Reilly nói, bởi vì chắc chắn sẽ rất thú vị nếu một dịp cuối tuần nào đó cho Eugene Glasscock và Eustace Conway gặp nhau “để họ có thể đi lang thang và kể chuyện và uống say và ăn thịt mấy con thú có túi.”
“Chẳng ai hiểu được Eustace,” ông nói. “Bởi vì khi người Mỹ hiện đại chạm trán với Eustace Conway và ngựa của anh thì đây là thế kỷ hai mươi mốt đụng phải một truyền thống du cư sáu nghìn năm tuổi mà người bình thường không tài nào hiểu nổi. Họ tách rời khỏi chương đoạn đó của nhân loại đến mức trở nên quá xa lạ với họ. Họ chẳng hề hiểu giao tiếp giữa các loài nghĩa là gì. Họ không hiểu rằng Eustace sử dụng thuật điều khiển ngựa của mình không phải như một mánh lới quảng cáo phô trương thanh thế hay như một phương tiện để giật giải xanh hoặc để sưu tập mặt khóa dây đai(6) cuộc thi cao bồi, mà như một cách để gắn kết với một loài vật khác để rồi cùng nhau trải qua hết lớp nọ tới đến lớp kia những trải nghiệm vô hình không ai hiểu nổi cho đến khi họ tới được bến bờ hãy còn mù mờ vô định bên kia.”
(6) Giải xanh và mặt khóa dây đai là những biểu tượng cho giải nhất.
Nhưng còn có một điều nữa mà vị chuyên gia lỗi lạc nhất thế giới về chu du đường trường cùng ngựa này tin tưởng về Eustace Conway. Ông cho rằng vẫn còn nhiều nữa từ Eustace. Ông nghĩ Eustace còn chưa cho ta thấy anh có thể làm gì. Ông nghĩ Eustace đủ khả năng cho “một chuyến phiêu lưu phi thường thực sự kiểu như trong phim Dũng sĩ diệt rồng. Có thể.”
Tại sao chỉ là có thể?
“Bởi vì,” ông giải thích, “tôi nghĩ anh ấy đã đạt tới một trạng thái bình ổn trong cuộc đời mình. Sử dụng sức thu hút và lòng dũng cảm của mình, anh đã thúc đẩy bản thân tới tầm xa nhất anh có thể đến, thế nên giờ đây anh cần thực hiện một hành trình tâm linh. Anh cần làm một điều gì đó riêng tư. Anh đã khoe mình với công chúng trong nhiều năm đến mức anh chẳng hiểu được bản thân. Có những mảnh tâm hồn mình anh chưa hiểu, và chừng nào còn chưa hiểu ra được những điều này về bản thân, anh sẽ không bao giờ có thể trở thành kẻ phiêu bạt như anh mong mỏi. Anh rất can trường, nhưng anh chưa phải là một nhà du hành tâm linh. Chừng nào anh chưa ra khỏi thế giới này, hoàn toàn một mình, và cắt đứt mọi sợi dây liên lạc, sự quảng cáo rùm beng, cái tôi và những chuyện nhảm nhí mà làm một cái gì đó thực sự anh hùng, anh sẽ chỉ lừa phỉnh tâng bốc bản thân mà thôi. Và để tôi nói cô nghe điều này nữa. Anh ấy tuyệt nhiên chả phải một tay chủ nông trang, và anh ấy nên thôi cố gắng làm thế đi. Đó không phải tư chất của anh ấy. Anh ấy cần rời bỏ tất cả những thứ này. Anh ấy nên ngừng cố gắng cứu thế giới. Bởi vì nếu không thôi sống dưới bóng cha mình và thôi giả vờ rằng anh ấy thích cuốc đất trồng rau dưa trên cái nông trang chết giẫm đó, anh ấy sẽ chẳng bao giờ trở thành Jason Dũng sĩ diệt rồng được cả.”
CuChullaine O'Reilly nói thêm, “Nhưng đó chỉ là ý kiến của tôi.”

