Trái Tim Em Thuộc Về Đất - Chương 11

11

Khi Edward trở về nhà, mẹ chàng đang gà gật trên
ghế tựa. Cả người bà nâng lên rồi hạ xuống như biển nhiệt đới. Đôi mắt đang
nhắm tịt lại của bà giống đôi mắt của một bức tượng, đôi mắt mà người ta ngờ
rằng đằng sau mí mắt không có con ngươi. Lông mày của bà hơi nhướn lên, như thể
đang phản đối việc bà bắt buộc phải thở. Hình hài của bà cho thấy phẩm cách của
tuổi già, một phẩm cách có thể do hoặc cũng có thể không do bệnh thấp khớp tạo
nên.

Nhìn mẹ mình Edward có cảm giác của một cậu bé đang
đọc một mẩu truyện cổ tích thì bị gọi ra ăn cơm. Tất cả những điều chàng muốn
nói, những điều mà lúc trước có vẻ rất hùng hồn, giờ trở thành ngớ ngẩn. Chàng
vội đánh thức mẹ bởi chàng sợ lòng can đảm trong chàng có thể sẽ tiêu tan trước
rào cản khó vượt qua nhất - bầu không khí bất cảm thông.

“Mẹ ơi, con có điều muốn nói với mẹ.”

“Không phải chuyện không vui đấy chứ, con?”

“Không, chuyện vui mẹ ạ. Nó khiến con rất hạnh
phúc.”

“Điều tốt đẹp luôn khiến chúng ta hạnh phúc,” bà
Marston quả quyết.

Bản thân sự mỉa mai dường như cũng phải dịu đi
trước lời bình luận có phần thờ ơ này.

“Con đã đính ước, mẹ ạ.”

“Con nói gì cơ?”

“Con sẽ cưới vợ mẹ ạ.”

Mẹ chàng vốn nặng tai và chưa tỉnh ngủ hẳn.

“Con nợ nần gì ai, hả con?” bà hỏi.

“Con sẽ cưới Hazel Woodus làm vợ.”

“Con yêu, con không thể làm thế được,” bà nói bằng
giọng điềm tĩnh không chút bối rối, như thể Edward vẫn còn là đứa trẻ ba tuổi.

“Con có thể mẹ ạ, và con sẽ cưới cô ấy.”

“Ừ, sẽ còn lâu, lâu lắm,” bà lẩm bẩm đọc ý nghĩ của
mình theo thói quen, rồi thêm vào đó chút nhẫn tâm - vốn không nảy sinh từ sự
cứng rắn mà từ sự hao mòn cảm xúc đôi khi đến cùng với tuổi già - “và, dĩ
nhiên, đến lúc ấy có khi con bé ngoẻo rồi ấy chứ.”

“Chết ư!” Âm sắc giọng Edward khiến chính chàng
cũng phải ngạc nhiên, và nó khiến mẹ chàng giật mình.

“Người trẻ cũng chết mà,” bà tiếp tục; “tất cả
chúng ta đều phải chết. Ông bố tội nghiệp của con ngủ rồi. Mẹ cũng sẽ ngủ.”

Và bà lại bắt đầu ngủ. Nhưng những lời tiếp theo
của chàng khiến bà một lần nữa choàng tỉnh.

“Con sẽ cưới vào tháng Năm, tháng tới đấy mẹ ạ.”

Toàn bộ sức nặng của sự phản kháng thụ động được bà
dựng lên để chống lại mục đích của chàng.

“Hấp tấp quá!” bà lẩm bẩm. “Cưới vội vàng như thế -
thật quá hấp tấp!”

Nhưng, động cơ của Edward vẫn không lay chuyển,
chàng có thể chống đỡ được.

“Giáo đoàn sẽ nghĩ gì?”

“Con không quan tâm!”

“Đây là lần thứ hai con nói thế rồi đấy, Edward ạ.
Mẹ sợ rằng con càng ngày càng tệ hơn đấy.”

“Không. Con chỉ cưới vợ thôi mà mẹ, con có làm gì
sai trái đâu.”

“Nhưng ít nhất một năm sau khi đính ước người ta
mới làm đám cưới, ít nhất đó cũng là thời hạn mẹ có thể chấp nhận được,” bà van
vỉ, “và vèo một cái là hết một năm thôi. Con người ta cứ ăn rồi ngủ, ăn rồi
ngủ, và Ngày của Chúa lại bắt đầu một tuần mới, và thời gian sẽ trôi qua nhanh
thôi.”

“Ôi, mẹ không hiểu được sao, mẹ?” Chàng cố gắng minh họa. “Thử tưởng tượng mẹ nhìn thấy một chiếc
khăn đẹp phơi trên hàng rào dưới trời mưa, mẹ có muốn cất chiếc khăn đó vào nhà
không?”

“Chắc
chắn là không. Đó là việc ngu xuẩn nhất. Vả lại mẹ đã có những bảy cái khăn
rồi.”

“Ôi,
nhưng dù sao, con cũng không thể hoãn được. Thậm chí ngay cả lúc này đây điều
gì đó có thể đã xảy đến với cô ấy rồi.”

Chàng
nói trong ý thức rõ ràng về sự thù địch của cuộc sống mà tất cả những người
đang yêu đều cảm thấy.

“Nhưng
sẽ phải sắm sửa vô số thứ,” bà bất lực nói, “và sẽ có vô số việc phải tiến
hành.”

“Còn
mấy tuần nữa cơ mà mẹ, có thừa thời gian mà. Vả lại,” chàng gợi ý một cách khôn
khéo, “mẹ không quan tâm đến việc sắm sửa váy áo cho Hazel sao? Cô ấy nghèo đến
nỗi chẳng mua nổi váy áo cho mình. Mẹ sẽ không tiêu một khoản tiền nào vì con
sao, mẹ?”

“Mẹ
nghĩ là có,” bà nói, bắt đầu khôi phục lòng nhân từ - “mẹ nghĩ mẹ có thể chi ra
một khoản tiền.”


Marston đã “không chợp mắt tí tẹo nào” - nói vậy chứ thực ra sau khi lên giường
bà chỉ thức được độ nửa tiếng. Quan niệm về cưới xin, mặc dầu có hơi phiền phức
vì mỗi ngày mỗi khác, vẫn khá thú vị. Đám cưới sẽ là cơ hội để sử dụng vô số
thứ được cất giữ trong các tủ đựng đĩa bát cốc chén, những thứ chưa bao giờ
được đem ra dùng bởi vì chúng quá đẹp để dùng cho ngày thường. Bà Marston là
một trong những người có nhiều vật sở hữu chẳng mấy khi được dùng tới. Thật lạ
là hết thế hệ này đến thế hệ khác dành những năm tháng phù du của mình cho cái
nơi thờ phụng tôn kính này mà chẳng bao giờ dám làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn
bằng cách sử dụng những món đồ đẹp đẽ hằng ngày nhưng lại cứ phải bận rộn với
chúng suốt.

Đồ
sứ của bà Marston sáng bóng, không một vết bụi, nguyên vẹn đến nỗi cứ như thể
cuộc đời của tất cả những phụ nữ xinh đẹp trong gia đình Marston đã phải hy
sinh vì chúng.

Những
người phụ nữ ấy đã khuất từ lâu và vẻ đẹp của họ đã bị phá hủy, bị xóa nhòa;
nhưng những món đồ sứ cổ đẹp đẽ thì vẫn còn nguyên vẹn. Vẫn còn đó hai tá cốc
và đĩa lót, bình đựng kem, âu đựng đường và những chiếc đĩa to của bộ chén đĩa
trang trí họa tiết hình lông chim, tất cả còn mới tinh hệt như khi chúng được
mua về. Lớp mạ vàng phủ kín mặt ngoài hầu như chưa hề bị bong tróc, cả những
họa tiết lông chim sáng lóng lánh cùng những bông hoa màu hồng cũng vậy. Sẽ
thật thú vị khi lại được đem chúng ra dùng, bà Marston bâng khuâng nghĩ. Còn cả
mấy bình trái cây ngâm, rồi mấy lọ mứt, lọ thạch nữa chứ; đám cưới cũng sẽ là
dịp thích hợp và thú vị để bà làm một trong những loại bánh nổi tiếng của mình,
và cũng là dịp để bà mặc chiếc váy lụa màu mận chín. Hòa cùng những ý tưởng ấy
là nhận thức rõ ràng rằng Edward muốn đám cưới ấy, rằng chàng sẽ “phật ý” nếu
nó bị hoãn lại. “Mình chưa từng thấy nó hấp tấp như vậy bao giờ,” bà thầm nghĩ.
“Tuy nhiên, cưới vợ rồi nó sẽ lại ổn thôi. Còn con bé kia cũng sẽ chín chắn
hơn, khi nó có con. Bọn chúng mà có con thì thật tuyệt. Một người bà sẽ có đủ
mọi niềm vui của một người mẹ mà chẳng phải chịu đựng đau đớn gì. Vả lại, con
bé kia sẽ chẳng muốn giữ vai trò điều khiển đâu. Edward nói vậy. Mình đương
nhiên không ưa một đứa con dâu thích nhúng mũi vào chuyện này chuyện nọ. Kể ra
thì Edward lựa chọn cũng khôn ngoan đấy chứ. Bởi vì dù con bé đó có ồn ào thật
đấy, nhưng mỗi lần sinh con xong nó sẽ trầm tính hơn, mà bọn chúng thì sẽ sinh
nhiều con lắm, mình nghĩ vậy và hy vọng như vậy.”

Đặc
điểm tầng lớp và tín ngưỡng của bà Marston (cộng với thực tế rằng bà là mẹ
Edward) khiến bà không xem Hazel là vấn đề. Đối với bà, quan điểm của Hazel,
tính cách, niềm hy vọng, nỗi sợ hãi của nàng không tồn tại. Hazel sẽ hòa nhập
vào gia đình Marston giống như một món đồ nội thất mới. Nàng sẽ được chu cấp mà
không được hỏi ý kiến; nàng sẽ thực hiện bổn phận của nàng mà không được bày tỏ
quan điểm. Như bao người đàn bà trong gia đình này và những gia đình khác trên
thế giới, nàng sẽ trở thành đầy tớ của các món đồ sứ, những chiếc đĩa mạ vàng
và những món đồ nội thất, và nàng sẽ là phương tiện để những đứa con của Edward
chào đời. Khi không còn sinh đẻ được nữa thì nàng sẽ đan khăn. Lúc nào nàng
cũng sẽ nói, “Vâng, chồng thân yêu,” hoặc “Như chàng muốn, Edward ạ.” Với tất
cả những bổn phận trước mắt đó thì thử hỏi nàng cần cá tính và quan điểm để làm
gì? Hiển nhiên là không cần. Nếu nàng sinh cho bà những đứa cháu nội khỏe mạnh
với đầy đủ chân tay mắt mũi, thì nàng sẽ trở thành một món tài sản ưng ý. Tuy
nhiên, trong các phép tính toán này, bà Marston đã quên tìm hiểu xem Hazel quan
tâm đến Edward hơn hay quan tâm đến tự do của nàng hơn.


Marston xuống ăn sáng với vẻ nhượng bộ.

“Mẹ
đã quyết định chấp nhận hoàn cảnh, Edward yêu quý ạ,” bà nói; “tất nhiên, mẽ đã
hy vọng rằng sẽ chẳng bao giờ có bất cứ ai ngoài hai mẹ con ta. Nhưng điều đó
không thành vấn đề. Mẹ sẽ chi tiền cho đám cưới và sẽ trở thành một người bà
tốt nhất có thể. Còn bây giờ, con ạ” (bà nói với vẻ dửng dưng, chuyển trách
nhiệm sang vai Edward) - “còn bây giờ, con sẽ đưa mẹ tới thị trấn chứ?”

Rắc
rối rồi đây. Cái nhà ga nhỏ của hạt cách đó vài dặm, xa vượt ngoài khả năng đi
bộ của bà, và không người nông dân nào ở quanh đó có một con ngựa biết giữ im
lặng đủ để làm vừa lòng bà.

“Con
ạ, vào thời của mẹ, mẹ nhớ là lũ ngựa không gây ồn ào, chúng được nuôi nấng tử
tế, được huấn luyện tốt, và trên hết là béo tốt đến nỗi chẳng có vụ tai nạn nào
xảy ra ngoài những vụ xảy ra theo ý Chúa. Ngày đó ông ngoại của con còn đi mua
trà xanh của hãng Jeremy (và đó là loại trà rất ngon, có hương vị rất tuyệt, có
in ảnh một người đàn ông da đen trên vỏ hộp). Mẹ kể đến đâu rồi nhỉ? Ồ phải;
hồi đó ông luôn đi một ngày mười dặm. Rất thú vị, nhưng ngựa nghẽo hồi đó
không...”

Edward
ngắt lời mẹ bằng một gợi ý.

“Sao
mẹ không đi xe kéo của mỏ đá nhỉ? Lần ấy mẹ đã rất thích đi xe kéo mà?”

Xe
kéo chạy bằng động cơ, là phương tiện thuộc về một mỏ đá, và là chiếc xe đi qua
nhà họ hai hoặc ba lần một tuần, và không bao giờ - hạt này nằm trên đồi cao -
đầy khách đến nỗi không thể chở thêm một người.

Hai
mẹ con chàng thống nhất rằng Edward sẽ đi gặp lái xe, và sau đó sẽ gặp Hazel,
để sắp xếp cho nàng cùng đi vào thị trấn. Chàng ở nhà, không đi cùng họ. Bà
Marston không bao giờ rời khỏi nhà, như bà nói, “mà không chắc chắn rằng ngôi
nhà của bà có hơi thở”, mặc dầu bà không thể đưa ra lý do cho quan điểm này, và
lấy làm tự hào vì mình không phải là một kẻ mê tín. Bà không tin tưởng Martha;
vậy nên Edward tuân lệnh mẹ đảm nhận việc giữ “hơi thở” cho căn nhà, giống như
một sinh vật rống lên để xua đuổi mọi điều xui xẻo.

Họ
thống nhất rằng bà và Hazel sẽ đi vào ngày trước khi lễ hội hoa bắt đầu, và
Hazel sẽ ở lại qua đêm ở nhà họ. Đó sẽ là đêm cuối cùng trước ngày cưới của hai
người.

Từ
giờ đến khi đó, việc bóc vỏ cây vẫn tiếp tục, và số phận vẫn đang dẫn con ngựa
của Jack Reddin đi về mọi hướng, trừ hướng có nàng. Edward ngày nào cũng tới
Rừng Của Thợ Săn. Chàng bắt đầu khám phá ra một thế giới mới giữa những cây lan
dạ hương đơm nụ trên mặt đất xốp đầy lá mục đang nứt ra khắp nơi với sự thúc
đẩy của những mầm sống đầy háo hức, và những mùi hương lẩn khuất đầy kích thích
mà chỉ mùa xuân mới biết.

Khi
cái ngày họ đi thị trấn Silverton cuối cùng cũng đến, và Hazel xuất hiện, tươi
tắn và vui vẻ sau cuộc dạo bộ buổi sớm, chàng cảm thấy muốn cưỡng lại lời mẹ.
Tuy nhiên, lệnh đã ban ra rằng nhất định phải có người ở lại tạo hơi thở cho
ngôi nhà, và chỉ mẹ chàng mới biết chọn váy áo cho nàng nên chàng đành cam
chịu.


Marston phải mất vài tiếng đồng hồ mới chuẩn bị xong để đi vào thị trấn; trong
khoảng thời gian đó Edward và Martha phải tất bật chạy lên chạy xuống. Không
phải là để tìm hay để sửa y phục của bà Marston - hoàn toàn không phải vậy. Mà
là có quá nhiều tủ cần được khóa, mà chìa khóa của chúng lại được giấu trong
các ngăn kéo, chìa khóa của các ngăn kéo lại được giấu trong nhiều chiếc tủ.
Khi cái mớ rối rắm mà không tên trộm nào có thể gỡ nổi đã được xâu chuỗi, bà
Marston luôn muốn điều gì đó từ cái tủ đầu tiên, và thế là toàn bộ quy trình
lại lặp lại từ đầu. Nhưng cuối cùng bà cũng xong việc. Edward và Martha đứng
lùi lại ngắm nhìn bà với vẻ hãnh diện, và nhìn Hazel để tìm kiếm sự thán phục
của nàng dành cho nỗ lực của họ; nhưng Hazel còn quá trẻ và quá hạnh phúc để có
thể thấy được nỗi bi ai hay tính hài hước của các bà già.

Nàng
nhảy chân sáo trên con đường dốc, tay ôm một ôm áo khoác ngoài và khăn choàng,
những thứ mà chỉ nghĩ tới việc mặc vào người là nàng đã nhăn mặt.

Con
đường mòn ngoằn ngoèo dẫn xuống một bên vách mỏ đá, nơi Abel đã kể với Hazel về
con bò cái bị rơi xuống vực, nơi mà nàng đã linh cảm về chuyện chẳng lành. Một
lần nữa khi nàng tiến về phía đó với những bước chân mỗi lúc một thêm chậm
chạp, nỗi sợ hãi kia lại xâm chiếm nàng.

“Cháu
sợ!” nàng kêu lên. “Chúng ta không thể đi nhanh được sao?”

Nhưng
bà Marston không đi nhanh hơn được. Bà cứ bám lấy cánh tay Edward một cách thận
trọng, tựa như một con mèo đang đi trên băng.

Martha,
với cánh tay trần đỏ au khỏe khoắn, chiếc váy màu xanh dương may bằng vải kẻ
bông và chiếc tạp dề màu trắng bay bay trong gió, được lệnh đi sau để cầm đuôi
áo choàng cho bà Marston - như một người ghìm cương ngựa khi đi xuống dốc - để
bà khỏi bị vướng chân. Edward xách theo một chiếc ghế con để trên đường đi mẹ
chàng có thể ngồi nghỉ.

Hazel
cảm thấy không ai trong số họ có lòng tốt; không ai biết sợ hãi là gì. Vậy nên
nàng co chân chạy, nhanh chóng rời khỏi cái nơi nóng rực, bí ẩn, đầy điềm gở
với màu trắng ghê rợn và những cái bóng xảo quyệt này.

Nàng
chạy đến một cánh đồng hẹp nằm trải dài tới tận bìa rừng, và ở đó, giữa những
cây mao lương hoa vàng rực rỡ, bầy ong kêu vo ve như những đợt thủy triều vỗ
vào bờ biển của cõi thiên nhai. Hazel đã quên cảm giác sợ hãi - một cảm giác sợ
hãi không thể lý giải nổi khiến nàng phát ốm trước cái mỏ đá đó. Nàng đuổi theo
một con ong nghệ béo mẫm giữa thảm hoa vàng - một con ong háo hức có cái đầu
óng ánh phủ đầy lông tơ đang bay theo một con ong khác. Hai con ong đó, trong
cảnh rực rỡ huy hoàng tràn ngập vùng đồi thoai thoải này, với bình nguyên rạng
ngời màu ngọc bích bao quanh - hai con ong đó có lẽ là hai công dân trẻ nhất
của thiên đường, bay đến từ mùa đông ảm đạm khan hiếm mật ngọt, từ nơi lạnh lẽo
khô khan.

Đoàn
tùy tùng kia di chuyển chậm chạp xuôi theo đường mòn, và khi con đường càng lúc
càng dốc hơn, Martha vâng lệnh bà chủ ném mình lại phía sau giống như một người
đang chơi kéo co, bởi vì bà Marston bắt đầu lao xuống dốc với tốc độ nhanh hơn,
và bật ra những tiếng kêu khe khẽ đầy tuyệt vọng.

“Ta
đang lao xuống đây này, Martha! Ta không dừng lại được! Đừng có động vào mấy
hạt đính trên áo, Martha! Đừng túm vào viền áo.”

Họ
xuống tới đường cái rồi mà vẫn chẳng thấy bóng dáng chiếc xe của mỏ đá đâu, vậy
nên họ ngồi bên vệ đường chờ đợi. Bà Marston ngồi chễm chệ trên ghế như bà
hoàng; Hazel cầm một bông mao lương vàng đưa lên tận cằm Edward để xem chàng có
thích loài hoa đó không.

“Thời
tiết thật ấm áp và dễ chịu,” bà Marston lẩm bẩm, rồi tranh thủ đánh một giấc
ngắn.

Edward
lắng nghe những con chim hoét; chúng đang ném tiếng hót của mình - như đám
người làm xiếc tung những quả bóng vàng - vào vách đá. Những nốt cao vui tươi
dồn dập, đập vào bức tường đá ảm đạm, bật trở lại để rồi lại bị quăng đi.

Đối
với Edward, khi chàng ngắm nhìn Hazel, bầy chim hoét đó giống như những sinh
linh đang tạ ơn phước lành của Chúa, và được Chúa lắng nghe rồi lại ban cho
thêm phước lành. Đối với Hazel, chúng dường như là nhiều Hazel khác đang hát
bởi ngày hôm đó là một ngày vui. Đối với bà Marston, chúng là “những con chim
ồn ào phiền phức.” Martha đang mải móc đồ len. Cô đang móc những dải diềm, hàng
năm trước, cho trang phục của đám cưới. Đây là một việc hết sức đáng khen, vì
đó là hành động xuất phát từ đức tin, bởi cho đến nay chưa có người đàn ông trẻ
nào để mắt tới Martha.

Cuối
cùng chiếc xe đó cũng xuất hiện và bà Marston được đỡ lên xe - một chiếc xe to
sơn màu đỏ tươi, và khoảng một nửa xe chất toàn đá. Đá đã được xúc gọn ra phía
sau để lấy chỗ cho bà Marston và Hazel. Người ta hạ tấm ghép thành xe màu đỏ
xuống, với sự giúp đỡ của một người phụ xe, Edward và Martha đã đưa được bà
Marston lên xe an toàn. Bà thực sự là một bà già rất đẹp lão. Mũ của bà, chiếc
mũ có hình dạng giống như cái thìa, được trang trí một cách hoang phí bằng
những chùm nho tủy tinh màu đen cứ khẽ va lanh canh vào nhau mỗi khi bà cử
động. Trên đó còn gắn cả một tấm mạng loáng thoáng điểm những đốm chỉ thêu
trắng. Chiếc mũ được buộc dưới cằm bà bằng dải ruy băng màu đen, khuôn mặt đẹp
lão rất hồng hào và đầy quyến rũ của bà hướng ra thế giới với vẻ thích thú. Bà
mặc chiếc áo choàng không tay đẹp nhất của mình, gắn hằng hà sa số những hạt
huyền óng ánh, còn chiếc váy may bằng vải len giả lông của bà thì được gài móc
một cách chắc chắn bằng chiếc móc vay đã lỗi mốt hình con bướm. Bà móc ô lên
cánh tay và cầm chặt chiếc xắc bằng cả hai tay cho chắc chắn. Vậy là, với tất
cả các món phụ trang đó, bà ngồi một cách thoải mái với ý thức rõ ràng rằng mình
có thừa sự đĩnh đạc và máu phiêu lưu.

Họ
khởi hành trong vòng xoáy của những lời chào tạm biệt cuống quýt, tiếng cười ré
lên vì thích thú của Hazel, và lời khuyên hãy liên tục đạp phanh của bà Marston
dành cho người lái xe. Hazel ngồi vắt vẻo trên thành xe. Họ rẽ ở một khúc cua
với vẻ đường hoàng, và chiếc xe, với bà Marston ngồi đó chẳng khác gì bức tượng
gắn ở mũi tàu biển - toát lên vẻ kiêu hãnh, sợ hãi, và thỏa hiệp - lắc la lắc
lư suốt dọc đường một cách oai vệ.

“Bà
Marston, cháu có thể mua một chiếc váy lụa màu xanh in hình hoa hồng vàng được
không?”

“Chắc
chắn là không, cô gái ạ. Một chiếc váy như thế không thích hợp chút nào. Nó
không được trầm tĩnh cho lắm.”

“Trầm
tĩnh là gì cơ?”

“Trầm
tĩnh là bí quyết của người có thái độ tốt. Cô càng trầm tĩnh thì cô càng được
người ta coi là một người cao quý. Tất cả những con người cao quý đều có sự
trầm tĩnh trong thái độ, cách ăn mặc, cách nói năng, cũng như những con ngựa
tốt nhất luôn được quảng cáo là không gây ồn ào, nhưng bây giờ thực sự không có
nhiều con ngựa như thế.”

“Bà
cứ phải trầm tĩnh dể trở thành một quý bà sao?”

“Đúng
thế.”

“Tại
sao bà lại làm thế?”

“Cô
gái ạ, bởi vì đó là quy tắc chuẩn. Ông chồng tội nghiệp của tôi trầm tĩnh lắm,
trầm tĩnh đến nỗi cô không bao giờ biết được ông ấy có mặt ở chỗ này chỗ nọ hay
không. Còn Edward cũng trầm tĩnh... trầm tĩnh như...”

“Ôi!
Không! Không!” Hazel rên rỉ.

“Cô
bị kim đâm phải hay sao, cô gái?”

“Không.
Đừng có nói Edward trầm tĩnh!”


Marston nhìn một cách thân tình qua cặp kính.

“Cô
gái, tại sao lại không?” bà hỏi.

“Cháu
không thích thế.”

“Cô
có thể giải thích một chút được không, cô gái?”

“Cháu
không thích những người đàn ông trầm tĩnh - không thích những con ngựa trầm
tĩnh. Mẹ cháu chỉ trầm tĩnh khi đã chết. Mọi người đều trầm tĩnh khi họ đã
chết.”

“Rất,
rất trầm tĩnh,” bà Marston ngâm nga. “Phải, tất cả chúng ta rồi thì cũng ngủ cả
thôi.”

“Cháu
thích,” Hazel tiếp tục nói bằng giọng không màu mè, không tra chuốt với sức trẻ
như giọng của một con chim két non - “Cháu thích những con vật chạy nhanh,
thích những người đàn ông nói to, nhìn chằm chằm và cưỡi ngựa điên cuồng như
quỷ!”

Nàng
ngừng lời, bối rối trước vẻ mặt của bà Marston và ngượng ngùng bời nàng bỗng
nhận ra mình vừa vô tình miêu tả Reddin.

“Cô
gái ạ, cô thích gì,” bà Marston nói (một cách gay gắt), “không quan trọng.
Nhưng tôi cho rằng” - bà dịu giọng - “cô thực sự thích Edward, bởi vì nó đã
chọn cô và cô đã đồng ý, đúng không nhỉ?”

Hazel
lắc lắc vai như thể muốn rũ bỏ một cái gông. Họ rơi vào im lặng, và khi bà
Marston gà gật, Hazel có cơ hội được thỏa mãn cái mong muốn chợt nảy sinh trong
lúc ngắm chiếc mũ của bà - được bóp một trong những quả nho rất tròn và dễ vỡ
đính trên mũ của bà.

Bàn
tay nhỏ nhắn lanh lẹ của nàng, đôi bàn tay trắng ngần dưới ánh mặt trời, trong
thoáng chốc lướt trên chiếc mũ đen tựa như một con chuồn chuồn đang bay nhanh
như tên bắn, và trò tinh nghịch đã được thực hiện - sự đứng đắn nhạt nhẽo bị
bóp vỡ vụn và bị cười nhạo.

Báo cáo nội dung xấu