Búp bê Bắc Kinh - Chương 21 - 22 - 23

21. NHÂN VẬT NGUY HIỂM

MI ĐÃ MẤT NGƯỜI EM GÁI NHỎ

Triệu Bình lại gọi cho tôi
và bảo tôi tới gặp anh. “Chúng mình cực hợp nhau, phải không?” anh rên rỉ trên
điện thoại. “Hãy đến vào thứ Bảy này đi. Anh nhớ em.” Tôi chẳng động lòng.
Khuôn mặt xám đen của anh, những nét nhăn nhúm ti tiện, vẻ nhìn xúi xó của anh
ta, với cái tâm trạng thất thường – thoắt buồn, thoắt vui – của anh khiến tôi
phát ngấy. Có thể là, tôi nghĩ, tôi phải làm cho anh quy hàng, một lần và vĩnh
viễn.

Chúng tôi hẹn gặp nhau chỗ
ngã ba ở làng Rock’n’Roll vào lúc ba giờ chiều thứ Bảy tới. Tôi muốn kết thúc
tất cả những chuyện này, kể cả những cuộc điện thoại liên tục của anh. Tôi thề
là tôi sẽ không bao giờ rơi vào bẫy của một mối quan hệ tồi tệ nữa.

Tôi nhận ra anh đang đợi
tôi ở ngay cổng vào làng. Anh cười toét khi nhìn thấy tôi đạp xe tới. Tôi phanh
xe lại ngay cạnh anh. “Hãy đến chỗ của anh đi.” Anh chộp lấy tay lái xe đạp tôi
và bắt đầu đẩy xe.

“Không,” tôi nói. “Tôi đến
đây vì một lý do. Tôi chỉ nói một thứ thôi, rồi tôi đi ngay. Đừng cố cản tôi.
Triệu Bình, giữa tôi và anh đã hết rồi.”

“Thôi nào, về chỗ của anh
đi.”

“Tôi nói không. Đừng kéo
tôi! Anh nghĩ anh đang làm cái gì vậy? Bỏ ra!” Tôi đập vào tay anh. Tôi nổi
điên thật sự.

“Về chỗ anh.”

“Tôi nói không là không.
Tôi về đây. Tránh ra!”

“Về chỗ anh.”

Một vài người đã dừng xe
lại và nhìn hai chúng tôi, Tôi tức điên và cũng thấy lo ngại. Tay vẫn bám chặt
vào tay lái của tôi, Triệu Bình kéo tôi và cái xe đạp qua đường đến sát bờ
sông. Tôi chống cự lại hết sức có thể, nhưng dường như chẳng thể làm được gì.
Mọi thứ bắt đầu như một cuộc đấu vật. Bỗng nhiên tất cả những chuyện này làm
tôi thấy khổ tâm vô cùng.

“Đến chỗ anh nhé, được
chứ?” Triệu Bình nói bằng giọng nhẹ nhàng hơn.

“Không. Chỉ nói chuyện ở
đây thôi.”

Chúng tôi ngồi xuống một
phiến đá cạnh dòng sông hôi thối mà nước đã gần đóng băng hết trên bề mặt.

“Thế rồi lại về chỗ anh sau
khi nói chuyện nhé, được chứ? Chúng mình sẽ đi ăn trưa.”

“Không, Triệu Bình.”

Anh ta để tay ôm ngang
quanh người tôi. Tôi gạt ra. Anh ta lại để. Tôi lại gạt ra một lần nữa.

“Đến một tí thôi. Anh sẽ
không chạm đến em. Anh chỉ muốn cho em xem mấy bức tranh anh mới vẽ xong mấy
hôm trước. Anh nghĩ chúng là một trong những bức tốt nhất anh đã từng vẽ. Đến
xem một tí đi.”

“Tôi không đi đâu.”

“Trời ơi, em hệt như cô bạ
gái đầu tiên của anh. Về sau thế nào cô ấy cũng không đến chỗ anh nữa.” Anh gục
cằm vào ngực và nói lẩm bẩm, và xen lẫn với những tiếng như là thổn thức.

Tôi ngồi lặng lẽ nhìn dòng
sông, cảm thấy rằng anh, trong chuyện này, và tôi nữa, làm thành một cặp nực
cười.

“Dẫu sao anh cũng có thích
tôi đâu,” tôi nói.

“Ai nói vậy? Cuộc đời anh
giờ thật thảm hại, anh ốm, và có thể cả phổi của anh cũng có vấn đề gì đó…”

“Vậy hãy ngủ nhiều thêm…”

“Anh không thể…” Anh nhìn
tôi chằm chằm. “Có phải em đang cố làm đời anh thành khốn nạn? Anh không ngủ
được, anh không thể…”

“Tôi xin lỗi.”

Anh quay sang nhìn tôi. “Có
phải em không sợ bây giờ anh có thể đẩy em xuống sông không?”

“Tôi luôn luôn nghĩ anh có
khả năng làm điều gì đó tương tự như vậy.”

“A ha!” Anh cười.

“Tôi về nhà đây, được chứ?
Có thể chúng ta sẽ gặp nhau vào ngày nào đó.”

“Em có còn yêu anh không?”
Triệu Bình hỏi hoàn toàn đột ngột. Tôi không thể ngờ điều đó. Toàn bộ thời gian
này chúng tôi chưa hề nói về chuyện yêu hay là không yêu.

“Tại sao anh lại hỏi?”

“Em không yêu anh.”

“Ai nói thế?”

“Không, em chẳng thèm để
tâm đến anh.”

Đúng như thế.

“Tôi đi đây.”

Tôi vừa mới về tới nhà thì
chuông điện thoại reo, và tôi biết chắc chắn phải là Triệu Bình. Trước khi mẹ
tôi kịp nhấc máy, tôi gào lên, “Nếu gọi cho con, bảo là con không có nhà!” Đúng
như tôi nghĩ, mấy giây sau, tôi nghe mẹ nói, “Ô, nó không có ở nhà…” Cũng chẳng
lâu sau đó, điện thoại lại reo. Triệu Bình chắc chắn là lúc ấy thì tôi phải đến
nhà rồi. Bây giờ thì anh ta muốn nói gì? Anh ta đang chơi cái trò chó chết gì
đây? Đến khi anh ta đang gọi một làn nữa, tôi hết cả kiên nhẫn. “Mẹ, lần sau để
con nghe,” tôi hét lên.

“Alô, anh đấy à, Triệu
Bình? Tôi về nhà chẳng sao cả. Có chuyện gì vậy?”

“Không gì cả. Anh chỉ muốn
nghe giọng em.”

“Thật à? Và bây giờ anh
thỏa mãn rồi chứ,” tôi nói với giọng cố dịu dàng.

“Liệu anh có cơ hội coi em
như một cô em gái được không? Bằng cách đó chúng mình có thể gặp nhau thường
xuyên.”

“À ha, tôi thấy cũng chẳng
sao.”

“Như thế thật tốt.”

“Vâng… Thế thôi nhé.”

Tôi gác máy, hi vọng rằng
hết phim thì cũng sẽ hết thật nhanh.

Triệu Bình bắt đầu gọi tôi
bất cứ khi nào anh ta muốn. Nếu tôi không nhấc máy, anh sẽ tiếp tục gọi cho đến
khi tôi nghe mới thôi. Tôi rút cục còn căm ghét anh hơn là tôi có thể tưởng, và
cùng lúc đó cũng ghét luôn cả bản thân mình tại sao lại không chấm dứt với anh
cho sớm hơn. Tôi lẽ ra có thể nhận ra anh là thế nào ngay từ lúc ban đầu, và
chấm dứt luôn ngay từ đấy cho nhanh. Cuối cùng, khi anh gọi, khi anh chưa kịp
mở mồm, tôi liền gào lên, “Đ. mẹ anh, cút mẹ anh ra khỏi đời tôi!” Đấy là lần
cuối cùng tôi nghe thấy tiếng của anh.

Tờ tạp chí Tôi yêu
Rock’n’Roll có một dòng viết, “Tôi sẽ đến lột da rock’n’roll,” và đó là điều
tôi muốn thực hiện với Triệu Bình, lột cái vỏ ngoài rock’n’roll của anh và
chứng tỏ cho anh thấy thực chất anh là kẻ thế nào. Anh có thể lừa gạt người
khác, nhưng tôi biết tất cả chân tướng anh. Anh sinh năm 1974 tại Hàm Dương,
Thiểm Tây; năm 1988 anh viết mấy câu đại loại như “Ôi, những thần tượng của ta
đã xa rồi, như ta sẽ theo sau chân họ” rồi được đăng trên tờ Báo Văn học Học
sinh Phổ thông; năm 1994 anh đến Bắc Kinh, sau khi đã ở Tân Cương, Vân Nam và
Nam Kinh. Tháng Mười hai năm 1998 anh lập ra ban nhạc W. Một cái tên ban nhạc
kỳ quái. Ban nhạc punk Trung Hoa mà anh thích nhất là Bàn Cổ; anh hỉ mũi vào
các ban nhạc punk khác ở Bắc Kinh. Anh sống tại một căn phòng thuê được ở vùng
ngoại ô phía tây Bắc Kinh, trả tiền 140 tệ một tháng. Buổi sáng anh vươn mình
khỏi giường, đun ít nước nóng, và bắt đầu làm thơ. Anh luôn luôn túng kiết, anh
nợ bốn tháng tiền nhà, anh đến ghi âm tại studio với cái dạ dày kêu òng ọc,
xoáy được cái gì hay cái đó, anh nợ tiền gọi điện thoại và tiền bánh bao tại
quán Đông Bắc Vượng, anh ẻo lả và luôn luôn bị ốm vì một cái gì đó, luôn cố moi
tiền của những người bạn tốt nhất để mua thuốc chữa bệnh. Tôi biết ẩn đằng sau
cái vòng hào quang giàu sang và danh giá thực chất chỉ là đứa con của một ông
nông dân.

22. HAI THẾ GIỚI

Bạch Kiến Thu của ban nhạc
Tinh Noãn gọi điện nói với tôi rằng cậu ta và Giả Giai sẽ đến Bắc Kinh trong
vòng một tuần nữa. Bọn họ muốn gặp tôi và, nhân tiện ở đây, sẽ lấy một ít đĩa
CD để mang về bán.

Buổi sáng hôm họ đến thì tôi
phải lên lớp. Nhà trường bây giờ kiểm soát rất gắt việc nghỉ học, nên tôi để
lại cho họ mấy chữ trên bàn ở nhà, và nói với mẹ tôi rằng bọn họ sắp tới, rồi
tôi mới đến trường.

Trưa hôm đó khi tôi về đến
nhà thì họ đang đợi tôi. Bạch Kiến Thu đang chơi cây đàn gỗ của tôi. Bọn họ
chẳng thay đổi gì. Kiến Thu mặc một cái áo sơ mi vàng. Giả Giai trông có chút
gì hơi ngớ ngẩn. Mẹ tôi nói bà đã bảo một anh lính đưa họ đi chơi Cố Cung và đã
sắp xếp cho họ nghỉ đêm tại một nhà khách của hải quân gần nhà chúng tôi.

“Gia Phù, cậu có thể dẫn
bọn tôi đi xem một show diễn khi chúng tôi ở đây được không?”

“Được.” Tôi lấy từ bàn phấn
ra một tờ Bầu trời Hiện đại. “Tối mai có một buổi ở Câu lạc bộ 17. Ngựa gỗ và
một số ban khác sẽ biểu diễn. Chúng ta có thể đến đó.”

“Hay lắm!”

Tối đó tôi đưa họ sang nhà
khách, rồi quay về nhà một mình.

Tối hôm sau chúng tôi đi
tàu điện đến một quán bar ở Tam Lý Thôn. Chúng tôi ngồi ở cái bàn sau cùng,
uống và nói chuyện. Một anh chàng ngoại quốc ngồi một mình ở bàn đối diện chúng
tôi. Anh ta bận đồ đen và gần như không động đậy, trừ một lần đứng dậy để chụp
ảnh, rồi lại im lặng ngồi xuống và uống mấy ngụm bia. Anh ta nhìn sau lưng đẹp,
với đường cong hiện ra sau tấm áo sơ mi đen. Cơ thể anh toát ra một vẻ thanh
lịch mà tôi rất thích, một phẩm chất đặc biệt của những người rụt rè.

“Anh chàng nước ngoài kia
khá hay,” tôi nói.

“Đã sốt ruột muốn đến nói
chuyện với anh ta?” Giả Giai hỏi.

“Tôi á? Không đâu. Vả lại
nói chuyện gì được? Tiếng Anh của tôi thì quá đỗi tuyệt vọng.”

“Ai cần quan tâm?” Bạch nói
khích lệ tôi. “Đến đi, đến nói với anh ta. Tôi cuộc là anh ta đang chán, cứ
ngồi một mình mãi thế kia. Đến đi, ngại quái gì.”

“Được rùi,” tôi cười nói.
“Có thể lát nữa.”

Nhưng tôi vẫn tiếp tục nhìn
anh. Tôi nhìn anh gọi một chai bia nữa, và khi cô gái mang đến nơi, anh nói,
“Thank you.”

“Có lẽ tôi đến đây,” tôi
nói.

“Cứ tự nhiên. Chúng tôi ở
đây đợi cậu.”

Tôi ăn nốt chỗ kem, đứng
dậy, và bước lại chỗ chàng trai. “Xin lỗi,” tôi nói. “Anh có muốn nói chuyện
không?”

“Tốt quá,” anh trả lời. Âm
nhạc ầm ĩ đến nỗi anh ra hiệu rằng chúng tôi ra ngoài để trò chuyện. Tôi nháy
mắt với Giả Giai và Bạch Kiến Thu rồi ra ngoài cùng chàng trai.

Bên ngoài có một cô gái nhỏ
đang bán hoa và một vài đứa nhỏ đang nằn nì xin tiền. Tôi cười, anh nhún nhún
vai. Đột nhiên tôi nhận ra rằng anh ấy đi ra ngoài chỉ với một chiếc sơ mi đen
và đang dầm mình trong giá rét, tôi bèn kéo anh ta vào trong một quán tạp hóa
nhỏ để cho ấm. Một cô gái đang nói chuyện với máy điện thoại di động. Có thể là
quán bar cũng quá ầm ĩ nên cô ta vào đây để gọi điện thoại.

“Anh từ đâu tới?” Tôi hỏi
bằng tiếng Anh.

“Finland, in Northern
Europe.”

Anh cứ nhắc đi nhắc lại,
nhưng tôi chẳng thể hiểu được anh nói cái gì. “Cái gì?”

Cô gái đang gọi di động,
sốt ruột quá, bèn nói bằng tiếng Trung Quốc, “Finland, em ạ, Phần – Lan, ở Bắc
Âu.”

Cô ta nói độp vào làm tôi
khó chịu. Có thể cô ta nghĩ rằng tôi đang cố bám lấy anh nước ngoài này với thứ
tiếng Anh phát sợ của tôi.

“Con nhãi…” Đó có thể là
điều cô ta đang nghĩ.

Cuối cùng, chúng tôi mượn
một cái bút và giấy của người bán hàng để bút đàm với nhau. Dễ hơn là cứ cố mà
hỏi. Cái giọng cất lên đã làm hỏng hết những gì tôi nghĩ là tôi biết bằng tiếng
Anh.

Anh viết tên mình ra –
Janne – và nói rằng anh đang thăm quan Bắc Kinh. Anh ở tại khách sạn Kinh Luân
cho đến thứ Sáu. Tròn một tuần lễ. Chúng tôi viết đi viết lại một lúc. Janne
cho tôi số điện thoại phòng anh, tôi cho anh số điện thoại nhà tôi.

Chúng tôi trở lại quán bar
và tiếp tục cuộc trò chuyện. Tôi giới thiệu Janne. “Đây là hai bạn tôi.” Anh
cười với họ. Các ban nhạc lúc đó đã ngừng chơi, cho nên một lúc sau tất cả
chúng tôi đứng dậy và đi về. Janne và tôi di phía trước, để Giả và Bạch lại
phía sau. Tôi cảm thấy thật tuyệt. Sau một lúc, Giả và Bạch bắt kịp chúng tôi.
“Các bạn cứ tiếp tục nói chuyện đi. Bọn tôi bắt một cái taxi và về nhà đây.”

“Được rồi,” tôi nói. Tôi
vẫy tay khi họ chui vào trong xe.

“Tôi thích các bạn em,”
Janne nói.

“Vâng, bọn họ rất tốt. Bọn
họ thích rock’n’roll.”

Mắt của Janne màu xám dịu
dàng, với ánh long lanh như băng, như bạc. Tóc anh màu nâu thẳng thớm. Tên anh
trong tiếng Phần Lan phát âm là Yanne, nhưng khi đầu tiên gặp mặt tôi đã gọi
anh là “Giản.”

Một tuần nữa anh đã đi, vậy
tôi muốn gì đây? Nếu mà được thì, cái mà tôi muốn, chỉ là một cái hôn. Chỉ vậy
mà thôi.

Tôi là một đứa học sinh
trung học năm thứ hai, và trước khi tôi hiểu ra điều đó, tuổi hoa của tôi sẽ
trôi qua mất. Tôi ghét cô đơn, vậy mà tôi lại cô đơn.

***

Janne không biết một từ
tiếng Trung nào, còn kiến thức về tiếng Anh của tôi thì thôi rồi lượm ơi. Khi
chúng tôi nói, chủ yếu là bút đàm. Cái đêm hôm đó chúng tôi cứ đi mãi trên con
đường cho đến khi nhìn thấy cả nóc của khách sạn Kinh Luân. “Ngày mai em có bận
không?” Anh hỏi lúc chúng tôi chào tạm biệt. “Chúng ta gặp nhau vẫn ở chỗ đó
nhé, bảy giờ ba mươi.”

Tôi tìm thấy Phần Lan trên
một tấm bản đồ. Nó ở Bắc Âu. Nó chắc phải đóng băng vào mùa đông.

Tối hôm sau phải mất một
giờ đi tàu điện ngầm mới đến được Câu lạc bộ 17, nơi chúng tôi cùng hẹn. Tôi
mua một cái bánh sừng bò và ăn trong lúc chờ đợi. Mười phút nữa là tám giờ, vẫn
không thấy bóng dáng của Janne, nhưng tôi quyết định cứ đợi thêm. Tôi không
muốn bị thất vọng trong một buổi tối mà vầng trăng đẹp đến thế trên bầu trời
này.

Anh xuất hiện vừa đúng tám
giờ. “Xin lỗi,” anh nói.

“Không sao.”

Chúng tôi bước vào quán
bar, và nói chuyện một lúc. Tôi hỏi anh xem có trở lại Bắc Kinh nữa không và
anh nói có thể vào tháng Tám năm sau, nhưng không chắc chắn. Anh nói với tôi,
“Tôi không muốn em phải buồn vì tôi ra đi,” và tôi nhớ là tôi đã nói, “Never
mind.”

Khi chúng tôi rời quán bar,
Janne một mực đòi thanh toán tiền. Chúng tôi đi xuống phố. Ôtô nối đuôi nhau
xếp thành hàng, đèn sáng trưng. Đó là Bắc Kinh mùa đông. Bước đi trong gió
chẳng khác nào va phải tường gạch.

Như đêm trước, Janne và tôi
cùng đi lang thang, điều khiến tôi vừa ý, vì tôi đang cố kéo dài thời gian ra
càng lâu càng tốt. Tôi thật sự muốn ở bên anh, tôi thật cô đơn biết mấy.

“Muốn ngồi đây một lúc
không?” anh hỏi khi đến bên chiếc ghế ở dưới chiếc cầu vượt.

Chúng tôi chẳng nói về một
điều gì đặc biệt, nhưng sự khác biệt ngôn ngữ cũng quá lớn để có thể tiếp tục
đối thoại. Anh nói rất nhanh, bằng tiếng Anh, và mặc dù tôi chẳng hiểu được một
tí tẹo nào, tôi vẫn cảm nhận được cốt lõi của những gì anh nói thông qua vẻ mặt
của anh. Anh nói rằng nếu chúng tôi quan hệ tình dục thì sẽ không tài nào có
thể trở thành những bạn bè bình thường được nữa.

Trời, không, đó không phải
là điều tôi muốn.

Không phải.

Lệ trào lên mắt tôi. Tôi
giận dữ và khinh bỉ chính mình một lúc. Nhưng mọi thứ là thế đấy và tôi chẳng
làm gì khác được. Hai con người từ hai xứ sở khác nhau, nói hai thứ tiếng khác
nhau, khổ sở vì bị chia cách bởi không gian và thời khắc.

***

Janne và tôi hẹn gặp nhau
vào tối hôm sau, là lần thứ ba. Khi chuông điện thoại reo, tôi lao bổ ra –
không muốn để bố hay mẹ tôi nghe được. Janne hỏi mấy giờ thì chúng tôi gặp mặt.
“Tám giờ rưỡi,” tôi nói.

Bố mẹ tôi ở trong phòng
khách cùng chơi bài với bạn bè. Vào khoảng bảy rưỡi, khi tôi sửa soạn xong để
đi thì bố tôi ngăn tôi lại.

“Con còn đi đâu vào giờ
này? Con phải ở nhà!”

“Cái gì? Nhưng con phải đi
có việc.”

“Tôi không quan tâm. Việc
gì cũng không được ra ngoài muộn thế này.”

“Thật đấy, con có việc mà.” Tôi
muốn nổi điên. Tôi liếc nhìn đồng hồ vì cái thời điểm mà tôi phải gặp Janne đã
mỗi lúc một gần.

“Tôi không đấu lý với nó,” bố
tôi nói với các vị khách. “Nó nghĩ nó có thể làm bất cứ thứ gì nó thích. Nếu nó
dám ra ngoài tối nay, tôi sẽ đánh gãy chân nó!”

Nước mắt tôi bắt đầu trào ra.
“Bố làm vậy ư? Làm sao mà con lại có một người bố như thế?”

“Làm sao tao lại có một đứa con
gái như mày?”

“Con phải ra ngoài!”

“Cứ thử xem mày có đi ra được
khỏi cửa không!” bố tôi nói một cách đắc thắng, và tôi biết tôi chẳng làm gì
được. Vào cái lúc mà tôi lủi bố tôi để đi được, tôi nhảy lên một chiếc taxi và
đến ga tàu điện ngầm, đi tàu, và chạy chí chết đến cổng quán bar, đã là mười
giờ hai mươi. Janne không có ở đó. Không một dấu vết. Mọi thứ như công cốc. Tôi
quyết định gọi đến phòng anh, nghĩ rằng chắc anh đã phải trở về phòng rồi. Tôi
cần phải giải thích điều gì đã xảy ra, đó không phải là lỗi của tôi…

“Hello!” Một người con gái nước
ngoài nói.

Tôi nói với cô ta tôi tìm
Janne.

“Cậu ấy không có ở đây,” cô ta
nói. “Cậu ấy ra ngoài rồi. Muốn nhắn lại gì không?”

“Không, cám ơn.” Tôi gác máy,
mừng rằng anh ấy vẫn chưa trở lại khách sạn. Nhưng anh ấy ở đâu? Tôi quyết định
cứ đợi cho đến khi tôi có thể gọi tiếp cho chị anh và biết rằng anh đã trở về
khách sạn để ngủ.

Chừng bốn mươi phút sau tôi
nhìn thấy anh. Tôi phát sợ. Anh trông không có vẻ dễ chịu.

“Xin lỗi vì em đến muộn.”

“Không sao, lần trước anh cũng
vậy.” Anh nói tất cả chỉ có thế, và chẳng có chút ấm áp nào trong câu trả lời
của anh.

Sự thờ ơ của anh, thậm chí
chẳng hỏi tại sao tôi bị muộn, làm tôi tê dại.

Lần này, thay vì đến Câu lạc bộ
17, chúng tôi chỉ đi lung tung. Janne có một vẻ lạnh lùng trên khuôn mặt, và
tôi tự hỏi, phải chăng là, trong hai giờ đồng hồ tôi đến muộn, anh đã thay đổi
thái độ với tôi.

Chúng tôi đến quán bar Tam Lý
Thôn, và khi một cô bé cố gắng mời anh mua hoa, anh đã xua cô đi một cách sốt
ruột.

Anh gọi một bia cho mình và hỏi
tôi, “Em muốn uống gì?”

Tiếng ồn ào xung quanh chúng
tôi trở nên ầm ĩ.

“Không gì cả,” tôi nói. Tôi
không có đủ tiền để mua bất cứ thứ gì trên tờ thực đơn.

Anh nhìn tôi, có vẻ lúng túng,
rồi quay lại và tập trung vào cốc bia. Chúng tôi không thể nào còn cảm thấy khó
chịu hơn được nữa, và mọi thứ biến chuyển rất nhanh từ tệ sang tồi tệ.

Tôi chuyển cho anh một tờ giấy,
trên đó tôi hỏi anh đang nghĩ gì.

“Không gì cả.”

“Vậy anh muốn viết gì cho em?”

“Xin lỗi, tôi không hiểu. Có
thể bây giờ tôi chẳng có gì để nói, xin lỗi.”

“Em hiểu rồi. Em đang làm mất
thì giờ của anh. Nếu em đang làm mất thì giờ, em sẽ đi và về nhà bây giờ.”

“Không, ý tôi không phải vậy.”

Trên tờ giấy anh viết:

Tôi xin lỗi. Tôi phải đi đây,
và tôi nghĩ em nên về nhà thì hơn. Thật là vui khi ở bên cạnh em, nhưng rút cục
thì, chúng ta sống ở hai quốc gia khác nhau, nói ngôn ngữ khác nhau, vậy đừng
nhớ tôi. Em có cuộc đời hạnh phúc riêng của em.

Cuộc đời hạnh phúc của tôi? Cứt
chó! Anh chẳng biết cái đó tệ thế nào với chúng ta. Có đến cả một triệu dặm ở
giữa chúng ta.

“Tôi rất xin lỗi…”

“Thôi quên đi!” Tôi chạy ra
khỏi quán bar, miệng tôi khô nghét. Tất cả đều sai lầm tệ hại.

Janne lo lắng đi theo và nói
với tôi rất nhiều thứ, tôi chẳng hiểu tí gì. Người Trung Hoa quan hệ với người
Trung Hoa đã đủ khó, vì mỗi một câu lại có đến vô số hàm ý, và các giọng khác
nhau cùng các từ có sắc thái khác nhau có thể tạo ra những hiệu quả khác nhau
căn bản đến nỗi anh chẳng hiểu người ta đang khen anh hay là chửi anh. Tôi cứ
chìm đắm trong những suy nghĩ và không thể ngăn nổi nước mắt mình tuôn ra. Với
cái ý tưởng rằng người ngoại quốc này có thể thấy tôi buồn cười đến thế nào khi
tuôn mưa.

“Đừng ghét tôi,” anh nói.

“Im đi!” Tôi nói lại.

Anh ta viết một dòng trong bài
hát của The Doors lên tờ giấy:

Mi đã mất người em gái nhỏ.

Tôi bước chân lên cầu vượt và
nhìn chằm chằm xuống dòng xe cộ phía dưới, nói với anh ta cứ đi đi chẳng cần
phải cùng với tôi, rằng tôi muốn được ở một mình. Sau khi nhìn anh ta chui vào
taxi, tôi đi bộ về đại lộ Tràng An để bắt chuyến xe buýt khuya. Tôi chỉ có hai
tệ trong người.

Janne đã không gọi điện vào tối
thứ Năm. Khi tôi đến trường vào sáng thứ Sáu, máy bay của anh ta đã rời Trung
Quốc.

Tôi đã chán trường chán lớp

Tôi không còn một ngày nào vui

Tôi không thể tha thứ cho mình

Tôi phải tỉnh ngộ, tỉnh ngộ
nhanh!

Những năm tháng tàn khốc này
bao giờ mới hết?

Anh bạn Bắc Âu của tôi, anh bạn
đẹp

Tôi là thiếu nữ Trung Quốc

Quần tôi đen, tóc tôi dài, cô
độc

Anh bạn đẹp, anh vui nhé!

Anh hãy sống đời anh hạnh phúc.

23. LỪA GẠT ĐÁM ĐÔNG

Bạn cũ tôi Tử Dư viết thư kể
rằng các thảo nguyên của xứ Scottland không còn đẹp như ở mùa hạ. Cậu ta đang
đợi mùa đông tới, khi các tia nắng mặt trời có thể làm cho chúng bừng lên lần
nữa. Khi ấy dù anh có đứng ở đâu, anh cũng quên khuấy tất cả mọi thứ.

Ánh nắng bừng lên, một bầu trời
xanh, những con người khỏe mạnh trên đường phố, xe cộ nối đuôi nhau ngược lên
hướng này và xuôi về hướng khác.

Nhưng tôi thì càng ngày càng
phiền muộn.

Trường, mọi loại trường, tôi
đều không sao chịu nổi. Chẳng có một ngày nào mà ở đó tôi lại không bất hạnh.
Tôi không muốn những con người ngu ngốc cứ cố chui vào trong đầu tôi. Tôi không
muốn làm một bài thể dục mềm dẻo có nhạc hay những thứ chó chết tương tự. Tôi
chỉ nhận được những cái liếc bẩn thỉu từ các giáo viên và tôi cũng đã ngấy họ
đến tận cổ. Chỉ trừ, có thể là vậy, một người dạy luật. Ông ấy có vẻ được. Tôi
muốn biết ông ấy sinh dưới sao nào, nhưng mỗi lần tôi hỏi, ông ấy cứ bắt tôi
phải đoán.

Nietzsche đã từng nói: Tôi
chẳng thà tìm kiếm hư vô còn hơn không tìm gì cả.

Có một trong số những cô nàng
trong lớp thoải mái hưởng thụ tuổi thanh xuân mà vẫn làm chủ được hoàn toàn vẻ
đẹp trẻ trung, hấp dẫn, tuyệt diệu, lộng lẫy của cô ta.

Tôi cảm thấy xấu hổ ghê gớm làm
sao.

Có một trong số các cô nàng,
rút cục luôn luôn dẫn đầu trong mọi cuộc thi.

Tôi không còn chỗ nào để trốn
nữa.

***

Tôi thường xuyên lúng túng
không hiểu nổi đầu óc của Đỗ Viện. Làm sao ngày nào ở trường cô ta cũng có thể
đều đặn không bao giờ đến muộn, không bao giờ về sớm, luôn luôn tươi cười trước
việc nặng? Tất cả mọi học sinh ở Trường Trung học Tây X này đều căm ghét ngôi
trường đến tận xương tủy. Bản thân Đỗ Viện cũng thường xuyên phàn nàn, gọi Chủ
nhiệm Vương, người phụ trách hội học sinh là “mụ già chết tiệt” sau lưng bà ta.
Vậy làm sao cô ta có thể kiểm soát được tất cả xúc cảm của mình? Vị thế của cô
ta đã được nâng cao đến nỗi cô ta đã được cất nhắc lên thành cán sự phụ trách
hội văn nghệ. Tràn đầy sức lực, cô ta luôn luôn triệu tập các cuộc mít tinh để
điều tra cái này hay cái khác. Ở đâu cũng có cơ hội cho cô ta.

Có thể cô ta cũng lúng túng
không hiểu nổi đầu óc của tôi, tự hỏi rằng tại sao tôi lại không thể kiềm chế
nổi xúc cảm. Tại sao tôi khao khát bỏ học và biến khỏi trường? Tôi mơ tưởng đến
cái gì trên đời này vậy?

Tôi biết rằng đôi khi để những
người khác chỉ đường cho anh đi thì tốt hơn là cho anh tự lựa chọn lấy. Nếu chỉ
có một con đường để chọn, thì anh chọn nó. Những hối tiếc sẽ giảm đến mức tối
thiểu. Nhưng cái cách chọn lựa cho tôi thì hoàn toàn sai lầm.

Tự do tự do tự do tự do. Tự do
ăn, tự do ngủ, tự do nói, tự do hát, tự do kiếm tiền, tự do bật đèn, tự do tự
sát, tự do đọc, tự do nghe nhạc, tự do làm tình, tự do đầu hàng, tự do về nhà,
tự do bỏ học, tự do bỏ chạy, tự do tiêu tiền, tự do khóc, tự do nguyền rủa ai
đó, tự do bỏ nhà, tự do lựa chọn, tự do tự do tự do tự do, tự do tự do tự do tự
do, nếu anh không tự do, làm thế nào mà anh có thể nói về tự do?

***

Trong giờ ngữ văn, học sinh
được đọc bài luận. Bài luận của tôi như sau:

Các bạn:

Tựa đề bài nói của tôi là: “Tất
cả những người tài hoa chân chính đều luôn tự sát.” Có một câu nói có tác hại
rất lớn, đó là “Kẻ thức thời thì tồn tại.” Xin thưa, nói vậy là hoàn toàn sai
lầm. Những ai tài hoa chân chính đều chết cả, những người còn sống đều là loại
bình thường hoặc đã vi phạm nguyên tắc của mình. Xin hãy thử nhìn vào số người
tự sát: Khuất Nguyên, Lão Xá, Cố Thành, Hải Tử, Qua Mạch, Hermingway, Van Gogh,
Marilyn Monroe,… và rất nhiều người nữa.

Trong số họ, có người được tôn
kính, có người bị phỉ nhổ, nhưng họ đều có chung một điểm: khí khái cốt cách.
Trước sự nhục nhã, họ thà chết chứ không van xin để được sống. Có thể các bạn
cho rằng, tự sát là hành vi yếu đuối, còn tôi thì ngược lại, thấy không phải
thế. Tự sát ở đây không phải là anh bị ai đó bức phải chết, mà là anh chủ động
chọn cái chết. Từ bỏ sự trong sạch hay cứng rắn tới cùng, để giữ được cốt cách
của con người. Lỗ Tấn cũng đã từng nói, tự sát là một cách phản kháng. Cố
Thành, Hải Tử, Qua Mạch đều là những nhà thơ nổi tiếng ở Trung Quốc. Cố Thành
cầm đầu nhóm thơ mơ hồ, Hải Tử là người tổng kết thơ ca lãng mạn những năm 80.
Qua Mạch là nhà thơ thiên tài từ trường Bắc Đại, trẫm mình trên sông Vạn Tuyền,
trở thành “một xác người trẻ nhất” trong chính thơ của ông; Hải Tử tháng Năm
năm 1989 đã nhảy vào, đường tàu ở Sơn Hải Quan, chọn cái chết để khẳng định
thơ, phủ định cuộc sống lạnh lùng dung tục…

Do nhạy cảm, mơ mộng, những
người tài hoa thường cảm thấy xã hội, thế giới là đen tối, xấu xa. Cuối cùng
thì thiên tài chân chính đã cảm thấy tuyệt vọng. Họ đã thấy trước mọi thứ, biết
rằng đường đi đã hết, thì việc gì phải lãng phí thời gian? Bây giờ có thể bạn
sẽ hỏi: “Thế thì vì sao có rất nhiều người giỏi vẫn đang sống?” Tôi có thể trả
lời ngay rằng, họ sống vì họ đã thỏa hiệp. Những người đó đã mài bớt sự sắc bén
của mình, để rồi lẫn vào trong đám đông, trở thành một thứ vũ khí không cá
tính, không tư tưởng, tự hạ thấp mình.

Vì vậy, người chân chính cần
phải đấu tranh. Cuộc sống chân chính phải được bộc lộ hết mình. Giữa nhục nhã
và nhân cách thì nên chọn nhân cách; giữa tồn tại và tự do thì hãy chọn tự do…

Bài viết của tôi đã hết, các
bạn ở phía dưới vẫn giương mắt, há miệng, rồi bỗng từng tràng vỗ tay vang lên.

“Bài này là em viết?” Thầy ngữ
văn cũng ngạc nhiên, sau đó hỏi riêng tôi.

“Vâng.”

“Chị Lâm! Chị Lâm!” Mấy cậu
trai ở ghế sau réo gọi. “Khá lắm! Còn giỏi hơn cả giỏi.”

Tạ Tư Nghê lè lưỡi về phía tôi.
Lúc tan lớp, cô ta đến bên tôi nói, “Đằng ấy khá lắm! Biết được từng ấy danh
nhân. Toàn những người mình chưa hề nghe nói, trừ mỗi Lỗ Tấn.”

Báo cáo nội dung xấu