Búp bê Bắc Kinh - Chương 01 - 02
1.
NHỮNG BƯỚC NHẢY CỦA TUỔI THANH XUÂN
Năm lớp chín của tôi ngọt ngào, đỏ, rách nát, thất
bại, và choáng váng – trộn với kịch tính. Ở lớp chín tôi có rất nhiều bạn,
những đứa bạn mà tôi chẳng bao giờ nhìn thấy nữa sau khi năm học kết thúc.
Chúng thuộc về “Lớp chín”, một năm vĩnh viễn chẳng bao giờ lớn lên.
B5 thân mến:
Hi vọng thư này tới tay anh!
Bọn em vừa thi hết cấp hai.
Như ca từ của Overload, “Tôi từng thấy một hồi ức
thật rõ rành chín cạnh, tôi đã lại quên mọi tin tức hôm qua. “Nhưng em vẫn còn
nhớ cuộc điện thoại đầu tiêm của chúng ta, khi cây cối nhuốm màu xanh rờn ngoài
cửa sổ, với ánh chiều tà rải đều xuống như vàng. Em không nghĩ là em lại có thể
viết cho anh nữa, bởi em đã để mất địa chỉ của anh, nhưng hôm qua lúc dọn phòng
em lại tìm thấy, điều đó có nghĩa là chúng ta lại có duyên gặp nhau. [Chúc bạn đọc sách vui vẻ
tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu sách.]
Em sống trong tình trạng hoang mang của kẻ tìm
đường, trên con đường dằng dặc hướng đến một đáp số. Còn mọi việc của anh thì
thế nào?
Chúc anh hạnh phúc!
Một người bạn
27, tháng Sáu, 1998
B5 là người tư vấn tâm lý mà tôi quen từ trường Đại
học Sư phạm Bắc Kinh. Dạo chưa gặp nhau, anh ta mê tôi và mê cả Tiểu Khiết, một
nữ sinh cùng tuổi tôi ở tầng trên, ngay trong tòa nhà của chúng tôi. Anh gọi
hai đứa là “thiên sứ sinh đôi”. Chúng tôi gọi điện thoại cho anh ta hàng ngày,
có khi còn cùng gọi, khiến anh ta tha hồ mà cười. Nhưng tôi đã ngừng thích anh
ta khi rốt cuộc tôi gặp anh trong một công viên nhỏ gần Đại học Sư phạm Bắc
Kinh. Anh giới thiệu mình như là một “tài tử lưu manh” và nói mình không bao
giờ từ chối một sự dâng tặng. “Em dâng tặng chứ?”. Chúng tôi giết thời gian ở
công viên mấy giờ liền. Anh không mời tôi ăn trưa cũng không tiễn tôi về, nhưng
tôi vẫn nhớ mùi nước hoa cologne mà anh xức và rằng hôm đó về sau trời mưa
phùn. Trong khi đợi anh, tôi đã uống hết một bình hồng trà. “Mắt em đẹp lắm”,
anh nhìn tôi nói, “rất hợp với thẩm mỹ của anh. Còn đôi tay em nữa, cũng rất
đẹp. Tiếc là anh chưa được nhìn đôi môi khi em uống trà”. Sau đó anh hỏi tôi đã
xem phim Bốn đám cưới và Một đám ma chưa, và tôi nói chưa, tôi ít khi xem phim
ảnh. “Đó”, anh nói, “mới là tình yêu chân chính, nên một khi chưa xem phim đó
thì em đừng nói với anh về chuyện tình ái; em chưa đủ tư cách”.
Chúng tôi còn gặp nhau một lần nữa khi thi xong. Anh
để tay lên vai tôi, khiến người tôi run lên, và tôi chắc là anh cũng nhận ra
điều đó. Mỗi lần ngồi với anh, cảm giác tự tôn của tôi biến đâu mất. Tôi hận
mình chẳng xem những phim mà anh nói đến, chẳng có quần áo hay giày dép lịch
sự, chẳng có khí chất. Với anh tôi hoàn toàn làm hỏng mọi thứ. Nhưng tôi không
thể chịu đựng nổi một người có thể vừa hát những ca từ của bài “Tình khúc 1990”
của La Đại Hữu lại vừa thèm khát dục vọng và tiền bạc, bởi đó là sự báng bổ
vĩnh viễn đối với cái đẹp. Đó là lần cuối cùng tôi gặp anh ta.
Tôi gặp A26 cũng giống như với B5. Hình như, tôi
nghĩ, là vào mùa xuân. Mùa gió thổi mạnh ở Bắc Kinh. Bầu trời trong xanh. Anh
cũng là một tư vấn tâm lý và là sinh viên khoa Sử năm thứ hai ở Đại học Tổng
hợp Bắc Kinh – tức Bắc Đại. Chúng tôi biết nhau qua điện thoại. Lúc này là cuối
học kỳ hai năm lớp chín, thời điểm tôi phải ra một quyết định khó khăn là cuối
cùng sẽ vào trường học nghề hay là sẽ học tiếp lên trung học. Một ngôi trường
học nghề sẽ chặn tôi khỏi phải bén mảng tới Bắc Đại, nhưng cứ nghĩ đến việc
thêm ba năm học căng thẳng khó chịu nữa là tôi lại phát sốt. Đây là vấn đề ác
nghiệt, nó giày vò tôi mỗi ngày, và tôi nhận ra rằng nếu tôi không mau chóng
quyết định chắc là tôi sẽ chẳng thể sống nổi. Tôi ghét trường học, và tôi ghét
thầy chủ nhiệm lớp, người thông minh, nhưng vô cảm. Nhưng cái chính là tôi
không biết mình phải làm gì, vì tôi thật sự sợ hãi tất cả. Tôi biết rằng những
chuyện như vậy không là gì đối với A26, rằng anh ấy có thể dòm tôi một cách kẻ
cả mà chẳng buồn chớp mắt.
Trong những tháng bận bịu sắp sửa tới kỳ thi vào
trung học, niềm vui sướng nhất của tôi là mỗi tuần được ôm điện thoại chừng nửa
giờ nói chuyện với anh. Tôi thường gọi cho anh vào lúc xế chiều, khi mà tôi có
thể nhìn ra ngoài và thấy ánh tịch dương như dát vàng, và cây cối màu xanh.
Chúng tôi trò chuyện trong cảnh đất trời mênh mông, hoa lệ, như đang đắm chìm
trong thế giới cổ tích, không có gì khác ngoài nghệ thuật, trật tự và cái đẹp.
Những huyễn tưởng như thế không thể nào đứng vững được khi đối mặt với hiện thực.
Anh cho tôi số máy nhắn tin của mình, điều mà tôi biết là cấm kị. Trong một
thời gian dài tôi thậm chí còn không biết cả tên anh. Mỗi người đều có một cuộc
sống riêng, có thể anh chỉ được bình yên, không bị xáo trộn trong mấy tiếng
ngắn ngủi làm tư vấn tâm lý. Vì vậy tôi cũng không gọi nhiều cho anh – tôi sợ
rằng anh sẽ phải để lộ ra những gì tôi muốn chỉ là những cuộc trò chuyện chơi
chơi thoải mái. Nhưng anh đủ thông minh để biết điều gì đang diễn ra.
Tôi luôn nói “tạm biệt” trước khi gác máy, còn anh,
lúc nào cũng chỉ “ừ hử”. “Anh không nói ‘tạm biệt’ là một thói quen ư? Hay còn
có nguyên nhân nào khác?”, tôi hỏi anh. Anh im lặng một lúc rồi mới nói, “Kỳ lạ
thật. Chưa hề có ai để ý tới điều đó. Anh không nói ‘tạm biệt’ vì nghĩ rằng tạm
biệt là không bao giờ gặp lại nữa”.
Vì anh, vào tháng Tư, tôi đã đăng ký tham gia kỳ thi
tuyển sinh sớm vào khoa Trung văn thuộc trường Trung học Sư phạm Bắc Kinh số
Hai. Nhưng tôi đã trượt. Tôi và Tiểu Thủy cùng thi, cô ta đỗ, tôi trượt. Tôi
chết môn toán. Trung học Sư phạm Bắc Kinh số Hai chỉ cách trường Đại học Sư
phạm có một bức tường, nơi đó có một khu đầy cây cối với hoa hồng Trung Hoa rất
đẹp. Hôm đó tôi mặc chiếc váy trắng, dạo bước trong vườn trường Đại học Sư
phạm, tự nhủ rằng đây là nơi mà Lam Thảo – tôi vẫn gọi A26 như vậy – từng lại
qua, từng sống, và điều đó khiến tôi cảm thấy lòng dạ vừa ấm áp vừa phiền muộn.
Tôi bắt đầu gọi anh thường xuyên hơn. Anh là điểm
sáng duy nhất trong những ngày ở lớp chín của tôi, như một niềm an ủi; tôi
không muốn mất anh, không thể không nghe giọng nói của anh. Anh gọi cho tôi từ
thư viện, và chưa nói được mấy câu đã gác máy.
Anh vẫn nói là anh rất muốn gặp mặt, và tôi vẫn cứ
từ chối. Rồi một hôm tôi đã đồng ý. Hôm đó tôi đã phát rồ lên để tìm cho ra một
bộ cánh để mặc. Cả một năm ở lớp chín tôi chưa hề mua quần áo mới, và tôi lại
béo ra. Tôi mất hết cả tự tin. Tôi chỉ sợ anh không thích cái dáng này. Tôi đã
sang hàng xóm mượn đồ, và thử hết cái này đến cái khác – váy trắng, váy hoa,
quần bò xanh, quần bò đen – cho đến lúc tôi mụ mị hết cả, hẹn nhau lúc 7 giờ mà
7 giờ 20 tôi mới ra khỏi cửa. Tôi mặc chiếc quần màu nâu chẳng hợp dáng tôi,
nhưng lúc tôi ướm thử, đầu tôi rõ ràng đã mê muội. Tôi lên tàu đến ga Tích
Thủy, nhưng không dám đến gần bất cứ một người nào, mà chỉ đứng từ xa để nhìn,
rồi cúi thấp đầu xuống lặng lẽ nghe bài hát của Hứa Ngụy. Mười giờ đêm hôm đó
tôi gọi điện đến nhà anh. Bố anh nghe máy và nói là anh đã đi ngủ.
Ngày hôm sau, tôi bắt đầu gọi số máy nhắn tin của
anh, số mà tôi đã thuộc nằm lòng. Tôi muốn nói với anh là tôi yêu anh, không
muốn anh rời xa tôi, không muốn anh giận tôi. Tôi chỉ là một cô gái nhỏ, yêu
anh mà không nói được nên lời. Tôi muốn thỏa mãn mọi yêu cầu của anh với tôi –
nếu anh có, thật đấy. Nhưng chẳng ai trả lời tôi. Suốt cả ngày hôm đó, từ sáng
tới tối tôi chỉ làm một việc là bấm số máy nhắn tin của anh, và khóc sướt mướt
khi chẳng có cú điện thoại nào gọi lại. Tôi đã mất hết hồn vía bởi vì anh, và
tôi thật sự muốn giải thích tại sao tôi không xuất hiện vào ngày hôm đó và nói
với anh tất cả những gì ở trong lòng. Tôi nghe thấy tiếng chuông điện thoại kêu
mấy lần liền, nhưng mỗi lần tôi đâm bổ ra phòng khách để trả lời, tôi nhận ra
tất cả chỉ là trong đầu tôi, và điện thoại chẳng kêu một tí nào. Tôi lục ra địa
chỉ của anh và viết cho anh một bức thư, có kèm theo cả những bức ảnh. Tôi
chẳng mấy khi chụp ảnh; ngoại trừ những bức chụp từ hồi nhỏ, và tôi gửi tất cho
anh. Sau này tôi mới biết anh không hề nhận được bức thư, nó đã bị thất lạc.
Như tất cả những thứ quan trọng khác, tôi cũng chẳng biết nó biến đi đâu mất
rồi. Lam Thảo, Đại học Sư phạm trước đây chẳng là gì cả trong lòng của em,
nhưng từ lúc được biết anh, nó đã trở nên cao quí!
Sau một tuần biệt tăm, Lam Thảo lại xuất hiện. Anh
gọi điện thật đột ngột. Lần này nghe giọng anh cảm thấy hơi lạ lẫm. Với cái
giọng đã mất đi sự quen thuộc của nó, anh hỏi tôi hôm thứ Sáu đã làm gì.
“Đi học.”
“Không phải. Nếu như anh nói rằng anh giận em vì hôm
đó em đã không đến…”
“Em có đến.”
“Có thể em có đến, nhưng anh lại càng bực. Hôm đó
anh đã gọi điện thoại, gọi suốt cả ngày, nhưng em đều không có nhà. Nếu hôm nay
mà em không có nhà để nghe máy, thì dù em có gọi ai là A26 hay là Lam Thảo đi
nữa cũng mặc xác.”
Tôi nói tôi vừa chuyển nhà và điện thoại ở nhà cũ
hôm nay mới lấy về. Tôi nói để em xuống lầu gọi lại cho anh. Tôi vội vã chạy
xuống. Anh hỏi tôi có yêu anh không, và tôi không biết trả lời thế nào. Tôi
nghĩ tôi yêu anh, nhưng cũng chưa hề nghĩ tới việc phải nói ra điều đó với anh.
Chẳng lẽ qua những biểu hiện của tôi, anh đã rõ hết cả. Tôi cảm thấy đê mê.
“Hỏi lại em một lần nữa, được không?”
Anh ngừng lại một giây. “Em có yêu anh không?”
“Thật tình cảm vào.”
“Em có yêu anh không?”
“Có, em yêu anh.”
“Nói lần nữa đi, được không?”
“Có, em yêu anh.”
“Thật tình cảm vào.”
“Em yêu anh. Tình yêu của em như chim bay tuyệt mù
trên nghìn đỉnh núi.”
Giọng anh nhỏ dần: “Đừng yêu anh.”
Sau đó là thi hết cấp. Tôi đã
tốt nghiệp. Chấm hết những năm tháng ở phổ thông cơ sở. Chấm hết tuổi hoa niên
ngây thơ nhạy cảm và lộn xộn, và những gì thuộc về năm tháng đó cũng mất theo.
Tôi nhận ra rằng cứ mỗi lần ở trước mặt Lam Thảo, tôi không còn là tôi nữa.
Điều đó làm tôi đau khổ ghê gớm. Tôi gần như không còn cảm giác thoải mái, tự
do, dễ dàng của một mối quan hệ bình thường nữa. Nhưng tôi cũng chẳng ngại khi
nói rằng mỗi lần ở gần anh ấy là một lần tôi hạnh phúc thực sự. Vùng vẫy trong
mớ mâu thuẫn đó, tôi cảm thấy càng ngày tôi càng chết chìm thêm một tí. Tôi
không còn sức khống chế được tình cảm của mình. Có thể, bởi anh là một người tư
vấn tâm lý, nên tôi cũng chỉ là một “bệnh nhân”của anh. Chưa bao giờ anh coi
tôi là bạn. Phải như vậy chăng?
Tôi gọi điện thoại để nói tạm biệt với anh. Ngay cả
khi nhìn bình nước gội đầu tôi cũng nghĩ đến anh.
Thi hết cấp đã xong; tôi viết thư cho nhiều người
bạn thời bấy giờ, rồi đốt nhật ký, và dự định bắt đầu cuộc sống lại từ đầu. Tôi
chắc rằng chẳng có mấy ai tốt nghiệp lại ghét cay ghét đắng cái năm lớp chín
như tôi. Nói tóm lại, đó là một năm kinh tởm. Tôi đã tưởng cái ngày tốt nghiệp
sẽ chẳng bao giờ đến, và nếu bị tra tấn thì cách mà tôi ngán ngẩm nhất chính là
phải hâm lại tất cả những gì đã diễn ra. Những ngày đó đã qua, và tôi chẳng
thiết gì đến việc hồi tưởng lại chúng.
Một gián điệp hay một thích khách chẳng nên có quá
khứ cũng như tương lai, ví thế họ có thể biến mất trong khoảnh khắc. Sát thủ Lê
Minh trong bộ phim Thiên thần gục ngã vẫn có một người bạn học cùng tiểu học,
và điều đó đã hủy hoại anh ta. Cho dù tôi không phải là gián điệp hay thích
khách, nhưng đó lại là hai nghề tôi thích nhất, bởi lẽ tất cả bọn họ đều gắn
chặt với sự bí hiểm, thông tụê, với lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái
chết. Tôi chẳng phủ nhận rằng tôi rất ưa những trò mạo hiểm.
Tôi đã không thi vào trung học bởi vì tôi đã lựa
chọn Trung học Bắc Kinh Số Hai như là nguyện vọng thứ nhất, một điển hình của
việc đặt mục tiêu quá xa vời. Dù sao thì cũng chẳng có gì khác biệt, bởi những
mơ tưởng của tôi đều nằm ngoài tầm với, và trong tôi là cả một mớ bòng bong.
Nếu mà tôi lại có may mắn được bước chân trên nền đất tường Sư phạm một lần
nữa, tôi sẽ cảm thấy thế nào? Có lẽ tôi sẽ lại nghĩ về việc mình đã cảm thấy
hạnh phúc và tự hào một cách kỳ cục ra sao khi tham gia kỳ thi tuyển sinh sớm.
Lúc bấy giờ là mùa xuân, vườn trường đầy những hoa tường vi, hương thơm thoang
thoảng; những tán cây, những thảm cỏ,… một cảm giác ngưng đọng của thời gian.
Tôi được nhận vào một trường học nghề, gần bên cạnh
Di Hòa Viên. Cách cửa tây trường Bắc Đại chừng năm phút đạp xe. Cũng chẳng cách
xa siêu thị sách Hải Định. Lý do chính để tôi ghi tên vào trường này vì nó ở
gần Bắc Đại, ngôi trường đại học đã hút mất hồn tôi. Thêm một nguyên nhân nữa
là tên trường có chữ “Tây”, tôi thích vậy bởi trước đây ở trường Bắc Đại đã có
một thi sĩ tên là Tây Xuyên [dòng sông miền Tây]. Làm sao mà tôi có thể biết
được là tôi vừa thoát khỏi hang sói chỉ để rơi vào miệng cọp?
2.
KẾT BẠN
Có một bức thư cho tôi ở dưới lầu, trong phòng
thường trực. Tôi xem dấu bưu cục thì biết thư gửi trong thành phố và đề tên
người nhận là “Xuân Thụ”. Điều đó thật lạ - có người nào lại gọi tôi bằng cái
tên đó? Tôi dùng cái tên này trong vài lần đi phỏng vấn cho các tạp chí âm nhạc
và cũng không hề để lại địa chỉ. Chợt tôi nhớ ra: trong khi tôi phát ngấy lên
trong thời gian học lớp chín, tôi đã gửi một thông báo “Tìm Bạn” cho một tạp
chí âm nhạc, và chắc là họ đã đăng nó lên. Việc này đã xảy ra được gần một năm
trước! Tôi mở phong bì, quả nhiên là vậy. Anh ta nói là đã đọc thông báo của
tôi và muốn làm quen xem có thể kết bạn hay không. Anh ta xưng là Lý Kỳ, hiện
là sinh viên hội họa ở Bắc Kinh. Anh ta nói nếu tôi có thời gian xin mời đến
chơi chỗ anh ta. Cuối thư anh ta còn viết thêm một câu rất nghiêm túc, rằng anh
ta hi vọng tôi có thể là “một người tiên phong trẻ kiểu mẫu”.
Tôi nghĩ lại đến đoạn thông báo tôi đã gửi. Tôi nghĩ
tôi đã viết rằng tôi thích U2, Hứa Ngụy, Nirvana, Kafka và cả máy tính. Vào khi
đó, nói đến Nirvana còn chứng tỏ anh là tay sành điệu chứ chưa phải cũ mèm như
bây giờ.
Rất vui, tôi viết thư trả lời và gửi bưu điện ngay,
nhưng bức thư trả lời của anh ta mãi mới thấy đến tôi. Phải hai tuần sau nó mới
tới. Anh ta nói anh ta mới trở lại sau khi về quê ở Sơn Đông.
Rồi một hôm chuông điện thoại reo, và người bên kia
đầu dây nói muốn gặp “Xuân Thụ”.
“Tôi đây”, tôi nói.
“Ôi…” Anh ta thốt lên vẻ ngạc nhiên. “Tôi cứ tưởng
bạn là một chàng trai!”
Chúng tôi hẹn nhau một ngày tôi sẽ đến gặp anh.
“Em sẽ đến sớm đấy!”, tôi nói thêm, dù tôi biết rất
có thể tôi sẽ đến muộn.
Đó là một buổi sớm thứ bảy mù sương khi tôi lên tàu
đến đầm Tích Thủy. Anh nói mình là sinh viên ở Học viện Mỹ thuật Lỗ Tấn, và
chúng tôi đồng ý gặp nhau ở ngay cửa chính. Tôi nhìn kim đồng hồ và thấy rằng
tôi đã đến chậm tới mười phút, và thế tôi bước tới, với cảm giác vừa vụng về
vừa hối lỗi. Một người đã đứng tựa lưng vào thân cây ở cạnh cổng học viện đang
nhìn tôi vượt qua đường, nên tôi rảo bước một chút. “Tôi là Xuân Thụ”, tôi nói.
Anh chìa tay ra và chúng tôi cùng bắt tay. Rồi chúng tôi quay đi và cùng cất
bước. Có cái gì đó ngượng ngập. Anh chẳng có gì giống tôi tưởng tượng. Tóc anh
hơi dài, và nom anh ra dáng một văn nhân đang gặp vận rủi. Anh mặc áo da, da
anh rất là trắng, và anh gầy nhom nhom. Tôi cho rằng tôi cũng chẳng giống người
mà anh tưởng tượng.
Anh dẫn tôi vào một ngõ hẻm đối diện với một quán
băng đĩa nhạc và video cách trường anh không xa. Anh ở trong một căn phòng cho
thuê trong một khu chung cư nhỏ nhỏ nhưng có hình tứ giác đậm chất chất Bắc
Kinh, không phải loại chỗ ở mà tôi quen thuộc. Tôi thích những tòa nhà cao,
những chỗ thoáng đãng, rực nắng.
Tôi cẩn thận bước chân vào phòng anh. Căn phòng hầu
như chỉ đủ rộng để chứa một chiếc giường. Trên một bức tường xếp cứng những
chiếc băng cassette. Tôi ngườiồi xuống bên mép giường của anh, và chúng tôi nói
chuyện này chuyện kia. Anh có vẻ căng thẳng. Căn phòng tăm tối, ẩm thấp, và
lạnh lẽo. Lý Kỳ đứng dậy và rót cho tôi một cốc nước. Có một ít ánh nắng mặt
trời chiếu vào phòng qua cửa sổ. Thế rồi một buổi sáng hết sức bình thường,
chẳng đặc biệt tí nào đã bắt đầu có gì sai lạc, cả tâm trạng và hoàn cảnh đều
như đang chếnh choáng, và tôi nhận thấy rằng mọi thứ đã vượt ra ngoài sự khống
chế của tôi. Hoặc có thể chính tôi cũng muốn biết điều gì nữa có thể xảy ra,
liệu có dẫn đến hậu quả chết người không. Như tôi đã nói, tôi rất ưa đùa giỡn
với mạo hiểm. Vào lúc đó, tôi không hề ý thức được điều gì đang xảy ra với tôi,
và tất cả mọi thứ diễn ra rất nhanh, quá nhanh để tôi có thể kịp phanh lại. Như
thể là tôi đột nhiên chui vào một bức tranh phong cảnh, và hoàn toàn ngơ ngác
lạc điệu với khung cảnh xung quanh. Tôi nghĩ Lý đang nói điều gì đó, nhưng vì
anh lại đối diện với bức tường, tôi chỉ có thể nghe được bập bõm rằng con người
ta nên lắng nghe chính khát vọng sâu xa trong lòng mình, rằng phải thành thật
với cái này hay cái gì đó, sau đó là im lặng. Tôi không còn nhớ mình đã nói
hoặc làm gì sau đó, nhưng rõ ràng là tôi đã làm gì đó kích động anh, vì anh đã
quàng tay ôm lấy người tôi. Anh cởi giày tôi. Tôi đi bít tất trắng có viền
thêu. Chúng tôi cứ ở yên như thế, tay người này ôm lấy người kia, được một lúc
thì Lý đứng dậy nói một cách đắc thắng, “Ở đây một lúc, để anh đi lấy cái chăn
phơi ngoài kia vào đã”. Anh bước đi ra ngoài và nhanh chóng trở vào với cái
chăn. Chúng tôi nằm xuống giường và bắt đầu hôn nhau. Mọi thứ xảy ra như trong
mơ.
***
“Máu”, tôi nói với anh.
“A…”, anh lấy giấy vệ sinh lau sạch, rồi tiện tay
vứt luôn xuống đất. “Em bao nhiêu tuổi?”, anh hỏi, hệt như là nghĩ được gì thì
nói đó.
“Mười sáu”, tôi nói dối. Không nói một lời, anh châm
một điếu thuốc. Anh trông có vẻ mệt mỏi.
“Anh có bạn gái không?”, tôi hỏi một cách ngẫu
nhiên.
“Có.”
Điều đó làm tôi xây xẩm.
Anh nói tên người bạn gái đó là Thái Vân. Từ đó về
sau, anh không bao giờ nhắc đến tên cô gái đó mà không nói cô ta là bạn gái của
mình. Ví dụ như “bạn gái của anh thế này” hoặc “bạn gái của anh thế nọ”.
Cùng một lúc, tôi vừa choáng váng lại vừa tỉnh táo
như thường. Tôi không biết phải mô tả ra sao những gì tôi nghĩ, như khi tôi
hắng giọng, tôi nhận ra rằng thậm chí là chẳng có gì đáng nói cả. Lý chẳng có
khao khát thật sự được ở cùng tôi; chưa bao giờ trong anh lại nảy ra cái ý
rằngi có thể là một người cũng có những suy nghĩ độc lập của chính mình và có
nhu cầu biểu lộ chúng.
Vào buổi trưa chúng tôi ra ngoài quán ăn bánh hấp và
vằn thắn. Tôi không hiểu liệu có phải Lý đã tập thành một thói quen trong nhiều
năm hay không, song anh hầu như chỉ ăn rất ít.
Một ngày trôi qua thật nhanh. Chúng tôi trở lại chỗ
ở của anh sau khi ăn, tay tôi nắm tay anh một cách tự nhiên, cảm thấy rằng bởi
chúng tôi đã đi đến mức thế này, thì làm như vậy cũng là điều tự nhiên. Nhưng
anh ta hơi cau mày nhăn nhó, vì vậy tôi vội buông tay ra, ngượng ngùng. Và một
trạng thái khó xử. “Anh có biết rằng”, tôi nói để xóa bỏ cảm giác lúng túng,
“em đã từng thuộc được bài thơ Trường Hận ca không? Em có quên một vài câu,
nhưng em vẫn còn nhớ được hầu hết…”
Trên đường trở lại ga tàu điện, tôi thả bộ trên
những con phố chạng vạng lúc xẩm tối, ánh mặt trời yếu ớt lập lòa trên mặt tôi
và mái tóc tôi. Một người bán hàng ngồi chồm hổm trên lối vào ga với một chậu
lớn đầy những hoa, trong đó có những loại tôi thích nhất – hoa hồng và hoa loa
kèn. Bây giờ đã là cuối tháng Mười, đây là những thứ tươi mát, lộng lẫy cuối
cùng còn sót lại ở Bắc Kinh.
Anh đã gọi lại sau khi tôi về đến nhà. Tôi không nhớ
nổi anh đã nói những gì, nhưng sự lo lắng trong giọng nói anh mách bảo với tôi
rằng anh sợ rằng tôi sẽ tố cáo anh ra tòa, và anh sẽ phải vào tù. Đúng vậy đấy.

