Charlie Bone (Tập 7) - Chương 09
Trận tàn phá ở tiệm ấm
Đường Piminy chạy ngay phía sau
tiệm sách Ingledew. Những tòa nhà khung gỗ xô nghiêng, trông nguy hiểm
như muốn đổ xuống lòng đường đến nơi; những cánh cửa lung lay được
đánh dấu bằng những mũi tên và mái ngói nhấp nhô tựa những gợn
sóng; tuy nhiên, trận đại hỏa hoạn thế kỉ mười tám đã không bao giờ
chạm tới được những ngôi nhà cổ xưa này. Theo cô Ingledew đó là bởi
vì vào thời đó hầu hết mọi ngôi nhà trên con đường này đều do một
thầy pháp loại này hay loại kia làm chủ.
́Ấy thế mà, đường Piminy lại là
nhà của bà Kettle, dù ở bà không có chút xíu gì độc ác cả. Nhìn
bà có lẽ thấy lạ thường, chứ không có gì đe dọa, đáng sợ. Bà đã
cho Charlie cái ấm do chính ông tằng tổ nhiều đời của bà, ngài
Feromel, rèn cách đây năm trăm năm. Trong ấm chứa một chất lỏng màu đen
không bao giờ bị đổ ra ngoài. Chất lỏng vĩnh cửu đó thường lạnh
nhưng Kettle đã cảnh báo Charlie rằng hễ khi nào sờ thấy cái ấm nóng
lên thì có thể nó sẽ gặp nguy hiểm.
Vào tối thứ sáu, Charlie không
ngạc nhiên khi thấy cái ấm nóng ran đến nỗi nó không thể chạm vô được.
Sáng hôm sau ngay khi tỉnh dậy nó lại sờ cái ấm lần nữa. Có hơi
nguội đi nhưng vẫn còn nóng.
Billy cũng biết về cái ấm của
Feromel. “Nó nóng à?” Thằng bé hỏi.
“Không quá nóng.” Charlie đẩy cái
ấm xuống dưới gầm giường.
“Ăn sáng xong tụi mình tới nhà
bà Kettle lấy Rembrandt được không?” Billy quăng giỏ khỏi giường và đeo
mắt kính vô.
“Hừm. Ước gì anh liên lạc được
với Tancred,” Charlie nói.
Cả Charlie lẫn Billy đều không có
điện thoại di động. Trường không cho phép chúng mang theo, còn nội Bone
thì tẩy chay loại điện thoại này. Charlie không thích ý nghĩ nói
chuyện với Tancred từ điện thoại ngoài hành lang, với khả năng rất
có thể bị nội Bone nghe lỏm.
Chiếc xe thùng màu trắng đã đi
khỏi khi hai thằng bé xuống lầu ăn sáng.
“Trước lúc bình minh mà ông cậu
của con đã ra đi rồi,” ngoại Maisie nói, đặt một lát thịt xông khói
lớn lên từng đĩa cho bọn chúng. “Ông ấy lần theo dấu vết một cái gì
đó… có trời biết là cái gì.”
Sau khi xơi thêm một lát thịt xông
khói nữa cùng với vài lát bánh mì quết mật ong, Charlie và Billy lên
đường tới Tiệm Ấm.
“Lúc nào con cũng có thể mang
con chuột của con về đây,” ngoại Maisie nói khi bà tiễn bọn chúng ở
cửa trước. “Bà ta không bao giờ biết đâu,” bà nói thêm, nháy mắt lên
cầu thang nơi nội Bone đang súc miệng buổi sáng.
“Cám ơn bà Jones.” Billy chạy theo
sau Charlie.
Charlie xấp ngửa đi khỏi nhà số
9 càng nhanh càng tốt. Nó không muốn giáp mặt Benjamin lần nào nữa
trước khi nó cứu được Hạt Đậu ra.
Ngay khi vừa rẽ vô đường Pimny,
cảm giác sờ sợ mà Charlie hay cảm thấy ở đây hôm nay dường như mạnh
hơn. Nó hay tưởng tượng có ai đó đang nhìn mình từ một cửa sổ tối
hù nào đó bên dưới mái hiên.
Tiệm Ấm nằm quá khỏi tiệm cá
bí hiểm, nơi mà chẳng bán cá bao giờ.
Nhưng trước khi tới tiệm cá thì
chúng phải đi qua Tiệm Tượng Đá. Trong số những ngôi nhà trên đường
Piminy thì cái tiệm này rùng rợn nhất. Nổi lên giữa bóng tối đen
đặc bằng đá đang vung dùi cui hoặc vung rìu. Có cả những người lính
đá, ngựa đá và chó cũng bằng đá. Những gã hiệp sĩ mà có lần tấn
công bọn trẻ không còn ở đây nữa – gã bị Hiệp sĩ Đỏ chém đứt đôi
và bây giờ đang cùng với con ngựa đá của gã nằm bẹp dưới đáy sông.
“Đi tiếp đi,” Billy kéo giật áo
jacket của Charlie. “Em ghét nơi đó.”
Mũi Charlie dí suýt chạm vô khung
cửa sổ. Trong lòng nó đang thắc thỏm sợ gặp ai đó thì quả nhiên nó
gặp người thật. Eric Shellhorn, thằng con riêng của chồng bà cô Venetia.
Charlie có thể nhận ra mặt nó đang lấp ló từ đằng sau một bức tượng đá
cao, mặc áo thụng – hình như là tượng một giáo sĩ Druid--1.
“Anh biết ngay là nó ở trong đó mà,”
Charlie lầm bầm.
Billy giật ống tay áo Charlie. “Đi
đi, Charlie. Một bức tượng trong đó lại bắt đầu động đậy bây giờ.”
“Anh không nghĩ Eric sẽ làm điều đó
giữa ban ngày ban mặt.”
“Nó làm chứ sao không. Đi nào. Em
muốn gặp Rembrandt.”
Ngay trước khi lùi khỏi cửa sổ,
Charlie đã kịp nhìn thấy Eric chạy vụt ra đằng sau tiệm. “Nó định giở trò gì
tiếp theo đây, anh thắc mắc?”
Billy đã ù té chạy tiếp trên đường và
Charlie liền chạy theo, nhưng nó thấy mình cứ lấn bấn bên ngoài tiệm cá. Cánh
cửa nơi quái đản này luôn đóng và im ỉm, tuy nhiên mùi tanh nồng lại phả ra từ
trong nhà, như thể mỗi viên gạch được làm từ một con cá thu hay cá tuyết.
Đây là nhà của Dagbert Endless – nếu
ta có thể gọi đó là nhà. Cửa sổ phía trên tấm biển vừa đen vừa cáu bẩn. Nhưng
tấm rèm mòn xơ chỉ, và tất cả những gì được nhìn thấy bên trong cửa sổ ấy là
một cái quầy trống trơn trong căn phòng tường lát gạch men trắng nứt nẻ, sàn
nhà lát đá phiến rêu mốc. Charlie nhăn mũi và bước đi tiếp. Đến lúc nó tới Tiệm
Ấm thì Billy đã vô bên trong tiệm và đang len lỏi qua từng ấm trưng bày trên
những cái bệ và trên bàn kê khắp phòng.
Charlie đóng cửa tiệm lại, cánh cửa
rít ken két trên những bản lề gỉ sét; nó theo Billy đi qua một khung cửa hình
vòm vô một căn phòng khác cũng chất đầy ấm. Nhưng ở đây có bốn chiếc ghế quây
quanh một cái bàn còn để trống, nơi khách hàng có thể ngồi chiêm ngưỡng
ấm cổ đủ loại. Trên bếp lò phía sau bàn có một chiếc ấm đồng đang
huýt sáo vui vẻ.
“Ta biết ngày hôm nay ta sẽ gặp
mấy cưng mà.” Bà chủ tiệm nhấc cái ấm đang kêu vang xuống và rót
nước sôi vô bình trà lớn màu nâu.
“Bởi vì con chuột của cháu ạ,”
Billy nói, mắt dán vào đĩa bánh quy nhân bà Kettle vừa để lên bàn.
“Ừ, đúng là con chuột của cưng,
cưng à.” Bà Kettle là một phụ nữ cuồn cuộn cơ bắp, tóc thẳng màu
đồng quấn cao trên đỉnh đầu. Bà mặc áo bảo hộ liền quần màu xanh
đậm, đi ủng da lấm chấm vết dầu, bởi vì trên hết bà là một thợ rèn
– bán ấm chỉ là một thú vui và là bình phong che giấu nghề nghiệp
bí mật của bà.
“Thế nó đâu rồi ạ?” Billy dáo
dác nhìn quanh, hy vọng một con chuột đen xồ ra chạy về phía mình.
“Đoán coi!” Bà Kettle nói.
“Cháu không đoán được,” Billy nôn
nóng. “Có quá nhiều nơi cho nó trốn quá.”
Bà thợ rèn bước từ chỗ này qua
chỗ nọ, tới đâu gõ gõ những chiếc ấm tới đó. Bà ngập ngừng, lại
đi tiếp, dừng chân và trầm ngâm, xoa cằm. “Hay là ta đã làm mất nó
rồi.”
“Kh… ô… ng!” Billy thét lên.
Nắp của cái ấm sắt khổng lồ
hơi nhấc lên một chút rồi nảy xuống nền nhà nghe một tiếng choang
thật lớn. Họ chờ đợi, nhưng không có con chuột đen ló ra. Thay vào đó
là cái đầu của một con trăn màu xanh da trời. Nó ngúc ngoắc qua này
rồi ngo ngoe qua bên kia, những sợi lông chim xanh da trời tuyệt đẹp trên
đầu nó phất phơ như những dải băng rôn lụa trong gió.
“Ố, cháu quên mất là con trăn ở
đây.” Billy đi về phía cái đầu khà khật.
“Nó là một anh chàng tốt tính.
Ta liên lạc được với nó đàng hoàng. Ta gọi nó là Solomon, nó khôn ơi
là khôn.”
Vừa trông thấy Billy , con trăn xanh
da trời liền trườn ra khỏi ấm, bò dưới đất và bắt đầu quấn quanh
chân Billy. Nhưng Billy nâng con vật lên và nhẹ nhàng quàng vô vai mình
trong khi vừa ngâm nga vừa nói rin rít với nó. Con trăn đáp lại bằng
âm thanh liếp chiếp, nhẹ như tiếng kêu của một con chim nhỏ.
“Tốt lắm,” Billy nói khi con trăn
đã an vị. “Nó sẽ không làm cháu vô hình đâu.”
“Diệu kỳ là cưng có thể làm
được như thế, Billy,” bà Kettle tấm tắc. “Solomon rất năng động trước
khi nó chuẩn bị đi nghỉ trưa. Nhện, ruồi, bọ hung, kể cả chuột nó
đều quấn vô thân người dài xanh da trời của nó và làm bọn chúng
biến mất ngay tại chỗ.”
Charlie cảm thấy cái gì đó động
đậy trên bàn chân mình. Ngay trước mắt, nó thấy sợi dây giày bắt đầu
biến mất. “Billy, anh nghĩ anh đã thấy Rembrandt rồi. Nó đang ăn dây
giày của anh.” Charlie giơ chân lên và đá nó về phía Billy.
Có một tiếng chít thật lớn vang
lên đồng thời mái tóc trắng của Billy thình lình úp chụp xuống mặt.
Billy giơ cả hai tay lên chụp rồi bụm vô lòng bàn tay thứ gì giống
hệt như không khí. Nhưng Billy có thể cảm thấy những sợi ria, lông và
một cái đuôi dài ốm tong.
“Solomon làm Rembrandt vậy đó,”
Billy nói, lộ vẻ sung sướng vì tìm thấy con chuột nhưng lại lo cho
tình trạng vô hình của chú chàng.
“Ta nghĩ cưng sẽ dàn xếp được
hết mà. Con trăn đó có thể làm bất kỳ điều gì vì cưng,” bà Kettle
bảo.
Billy đặt con chuột vô hình xuống
sàn và bắt đầu rúc rích với con trăn trên vai. Nhưng Rembrandt rõ ràng
là thích thú với sự vô hình này. Charlie cảm thấy con chuột chạy qua
bàn chân mình, rồi lại thấy một cái bàn lắc lư, một cái ấm rơi bộp
xuống sàn. Tiếp theo là tiếng chân tí nị chạy nhí nhoáy và tiếng
chít khoái chí bươn qua cửa vòm, ra tiệm phía ngoài. Bà Kettle thụp
gối xuống và bắt đầu bò quanh các bục trưng bày ấm; hai thằng bé
bắt chước làm theo bà, rồi con trăn cũng nhập cuộc kiếm tìm – trườn
ngang qua sàn với vẻ rất kịch trên cái mặt đóng vẩy của nó. Bà
Kettle bỗng phá ra cười. Charlie không nín được cười, rồi thì ngay cả
Billy cũng nhận thấy khía cạnh khôi hài của sự việc, nó lăn ra sàn
mà cười nôn ruột.
Không ai để ý cửa tiệm mở ra chỉ
một tí, không đủ rộng để cửa kít lên. Cũng không ai nghe thấy tiếng
bước chân lướt nhẹ trên sàn nhà, và không ai thấy Eric Shellhorn lẻn
qua cửa vòm, vù tới cánh cửa kim loại dẫn vô xưởng rèn của bà
Kettle.
Tất cả sự việc đó diễn ra trong
vòng chưa tới một phút, sau đó con trăn xanh da trời cuộn chặt thân
mình nó thành nùi. Một tiếng chít chói tai và một con chuột đen
nhảy phóc ra từ cái nùi Solomon bóng loáng, chạy tới với Billy.
“Cảm ơn, Solomon.” Billy nhặt con
chuột đang run rẩy lên, vuốt ve và nhét nó vô túi áo.
“Một tách trà ngon nhé, mấy
cưng,” bà Kettly nói, đứng dậy. “Có lẽ thêm một hay hai cái bánh quy
nhân nữa.”
Hai thằng bé theo bà trở lại
chiếc bàn, có Solomon trườn dưới sàn nhà bên cạnh. Khi Billy ngồi
xuống, con trăn xanh da trời ngỏng đầu lên và bắt đầu lúc lắc thân
mình. Charlie cảm nhận được hình như nó đang lo lắng, thậm chí sợ
hãi. Nó cứ ngóc nhìn lên Billy mà rít rú.
Billy trả lời con trăn bằng một
tiếng ậm ừ khẽ rồi thông báo cho mọi người, “Solomon nói có ai đó
đã đi vô tiệm.”
“Ớ, không có ai ngoài chúng ta,”
bà Kettle nói. “Con rắn của cưng có nói là ai không?”
“Con đã hỏi, nhưng nó không
biết.”
Charlie nhìn con trăn trườn trở
vào ổ của nó bên trong cái ấm tổ chảng. Charlie cảm thấy bất an. Con
trăn đó không có lí do gì để nó nói xạo. Nó thông thái và dịu
dàng, không phải là kẻ hay đùa. Chả hiểu cái gì xui khiến Charlie
hỏi. “Bà có một bức tượng quỷ lùn bằng đá ở đây phải không?”
“Đúng rồi, Charlie,” bà Kettle
xác nhận. “Nó bị xích vào lò rèn của ta kể từ khi nó tấn công hai
cha con bé gái tội nghiệp. Tên quỷ lùn đó đã có lần tự gây tội ác
khi Eric làm cho nó sống dậy.”
Đó cũng chính là bức tượng quỷ
lùn đã từng dựng bên ngoài cửa nhà bà cô Venetia của Charlie. Vào
một ngày Charlie không bao giờ quên, bức tượng đã tấn công chồng mới
của bà cô Venetia và con gái ông, Miranda. Người đàn ông đáng thương ấy
đã bị bỏ bùa để chịu lấy bà ta, nhưng đến khi hiểu ra sự tình ông
đã đưa con gái trốn thoát khỏi thành phố. Eric vẫn ở lại với mẹ
ghẻ. Bà cô Venetia có một tài phép rất khó chịu: mụ ta có thể đầu
độc nạn nhân bằng cách tẩm thuốc độc vô quần áo của họ. Nhưng mụ mơ
đến việc sử dụng tài phép của Eric để phục vụ cho tham vọng quyền
lực của mụ.
“Cháu nghĩ mình đã gặp nó
rồi,” Charlie nói thủng thẳng, “Khi nó là một gã quỷ lùn thật. Tên
là Ngón Cái Dị.”
“Gặp rồi ư, Charlie? Quỷ lùn?” Bà
Kettle ngừng khuấy trà và xoáy đôi mắt màu hổ phách nhìn Charlie. “Ý
cưng là gặp trong những chuyến chu du của cưng?”
“Dạ phải,” Charlie đáp, rồi kể
lại cuộc phiêu lưu vô xứ Badlock của nó.
Bà Kettle chìm đắm trong suy
tưởng. Chỉ một lần bà nhấc tách trà lên, rất chậm và húp soạt một
ngụm trà đang nguội đi nhanh chóng. Khi Charlie kể xong, bà chỉ còn
biết lắc đầu một hồi như hồn xiêu phách lạc.
Trong bầu không khí im lặng khác
thường, Charlie cảm thấy hơi lạnh tràn vô tiệm. Và rồi, không biết nó
tưởng tượng hay là những cái ấm sáng choang kia đột ngột mất đi độ
sáng?
“Cái bóng đang rắp tâm trở lại,”
bà Kettle nói tự như đang độc thoại. “Hãy khóa chặt cửa tầng hầm
nhà cưng lại, Charlie, rồi vứt chìa khóa đi trước khi bức tranh đó
bắt cưng lần nữa.”
“Nhưng còn Hạt Đậu!” Billy phản
đối.
“Cưng sẽ quên nó, Billy, nếu cưng
khôn ngoan,” bà Kettle nói.
Chắc chắn bà ấy biết tụi mình
không thể quên được Hạt Đậu, Charlie nghĩ. Nhưng trông bà Kettle rất
nghiêm trang, trông đầy lo âu vì rắc rối bí mật nào đó, đến nỗi nó
phải thừa nhận lời cảnh báo của bà là cực kì nghiêm chỉnh.
“Tiệm Tượng Đá lại bị chiếm
lĩnh rồi,” cuối cùng bà Kettle nói. “Nhiều năm nó bỏ không, với
tượng khắc dở ở trong sân, tượng hoàn chỉnh trong tiệm thì đầy mạng
nhện. Nhưng cách đây hai ngày ta nghe có tiếng búa đập. Chát! Chát!
Chát! Tiếng kim loại đục đá. Ta bèn rời lò rèn để đi ra ngõ hẻm
đằng sau dãy tiệm trên đường này. Ta nhìn vô sân tiệm Tượng Đá và
thấy hắn: một gã đàn ông hung tợn, ria mép vàng và đội mũ cao bồi.
Melmott, hắn giới thiệu đó là tên hắn. Nhưng hắn chỉ nói với ta tất
cả có thế thôi. Ta e rằng hắn là kẻ đầu tiên trong số nhiều.”
“Đầu tiên trong số nhiều cái gì
ạ?” Charlie hỏi.
“Thầy pháp, cưng, nếu mong muốn
dùng một từ mỹ miều hơn. Đã có thời phố này đầy ắp bọn họ, nhưng đến
lúc ta được thừa kế nơi này từ ông cố của ta thì bọn họ tất cả đã
đi rồi. Và giờ…” Bà Kettle thu dọn cái tách và đem ra bồn rửa bên
cạnh bếp lò.
“Giờ thì sao ạ?” Billy thúc
bách.
“Giờ những kẻ xấu đang trở lại.
Không phải chỉ mình Eric thôi đâu, mà cả những đứa trẻ ở Học viện
Bloor, thằng dìm chết người, thằng nam châm, đứa chuốc độc,
Manfred-kẻ-thôi-miên, và lại còn mụ phù thủy đó, mụ Tilpin, mẹ của
thằng nam châm – phe bọn chúng đang mạnh lên, mấy cưng à. Những người
như chúng ta phải đề phòng và canh chừng, bảo vệ lẫn nhau. Ta là
người duy nhất còn sót lại trên phố này, hai cưng à. Người duy nhất
có thể ngăn cản bọn chúng. Ta linh cảm mạnh mẽ là bọn chúng sắp
sửa làm gì đó. Chưa biết là cái gì. Nhưng ta đang cảnh giác cao độ.”
“Bà Kettle, cho cháu xem bức
tượng đá được không?” Charlie hỏi.
“Bây giờ ư, cưng muốn xem thật
à?” Bà Kettle liếc nhìn cánh cửa kim loại, ngại ngùng cho Charlie vô
lò rèn của mình.
“Cháu chỉ muốn chắc chắn Ngón
Cái Dị vẫn còn ở đó thôi.” Mối lo âu của Charlie đang tăng dần.
Bà Kettle thở dài, chùi bàn tay
ướt vô bộ đồ bảo hộ và mở cánh cửa sắt ra. Charlie bước vô lò rèn.
Trông nó vẫn hệt như lần trước Charlie vô. Những bức tường gạch tro
trụi, nền đá bẩn bụi và đủ loại dụng cụ treo thòng từ nhà xuống.
Cái đe nằm ở giữ phòng, và ngọn lửa phì phụt được nghe thấy đằng
sau một cánh cửa sắt nhỏ ở chân ống khói.
Trong góc tối có một bức tượng
lùn bè bè. Một sợ xích chập đôi tròng quanh vòng hông dày cui của
hắn, hai đầu sắt móc vô những cái khoen sắt lớn ở trên tường. Charlie
nhìn trừng trừng vô bức tượng, mắt nó dần quen với bóng tối. Giờ
nó có thể thấy cái mũi rộng bự thịt, cái miệng mỏng méo xệch và
đôi mắt ti hí.
“Hài lòng chưa, Charlie?” bà
Kettle gọi to.
“Dạ.” Charlie định bước trở ra
thì bất chợt nó thấy vằn sáng lóe lên trong con mắt bên trái của
bức tượng quỷ lùn. Một cái chớp mắt chăng? Điếng người vì cái chớp
mắt đó, lại thêm hoảng hốt về tính chất vủa sự việc, Charlie sờ
soạng ra sau tìm cánh cửa.
Nhưng nó quá trễ. Một tiếng
động xé tai và bức tượng bung thoát khỏi bức tường, bay chíu về
phía Charlie. Nó né, kèm tiếng thét khiếp vía, còn Ngón Cái Dị
lướt qua cánh cửa đang mở, vút ra phòng trưng bày ấm.
Trong khi toàn thân thân run lên
mất hồn, Charlie cố chạy theo bức tượng quỷ lùn. Nó thấy bức tượng
tông thẳng vô bà Kettle. Bà thợ rèn không có cơ may né được. Ngón Cái
Dị đâm trúng đầu bà, khiến bà hộc lên một tiếng và xuội xuống sàn.
Chưa thỏa mãn với cú đòn này,
bức tượng quỷ lùn bắt đầu phá tanh bành đồ đạc, xô những cai ấm đổ
lộn nhào xuống nền nhà.
Billy nằm úp dưới sàn gầm bàn,
hai tay ôm lấy đầu. “Không, không, không,” nó rên rỉ.
“Suỵt!” Charlie thì thào, bò về
phía Billy.
Một bầu im lặng hoàn toàn theo
sau lời thì thầm của thằng bé, Charlie cảm nhận hình như tên quỷ lùn
đang suy tính. Hắn sẽ làm gì tiếp? Liệu hắn có phát hiện ra bọn
chúng? Liệu một tên quỷ lùn bằng đá có thể nghe hoặc ngửi? Giờ hắn
đang ở góc nào? Charlie nín thở.
Một tiếng choang! Báo hiệu tên
quỷ lùn đang ở đâu. Hắn đã đi qua khung cửa vòm ra tiệm ngoài, và
giờ đang tiếp tục nghiền, bóp, bẻ và đập bể mọi cái ấm trên đường
đi. Tiếng sắt và đồng, tiếng thép và men, thậm chí cả tiếng đất
sét bể tạo thành một mớ âm thanh Charlie chưa từng bao giờ tưởng
tượng ra. Nó tự hỏi bà thợ rèn bị thương có nghe thấy tiếng những
cái ấm yêu quý của bà bị tàn phá kinh hoàng hay không – liệu trái tim
tan vỡ của bà có hòa vô tiếng hủy hoại kinh thiên động địa này?
Khi đã tàn phá xong tất cả
những gì trong tầm mắt, hắn sẽ quay lại chỗ mình cho mà coi; hắn sẽ
lập tức cày dưới gầm bàn chỗ Billy đang núp, Charlie nghĩ. “Cơ hội
duy nhất của bọn mình là bò vô lò rèn và khóa cửa ở yên trong
đấy,” Charlie thì thào. “Nhưng tụi mình phải đưa bà Kettle đi cùng. Lẹ
lên, Billy! Tốt hơn phải đi ngay trong khi hắn mải đập phá ngoài tiệm.”
Nhưng Billy không thể nhúc nhích.
Nó vẫn nằm co chèm mẹp. Không một âm thanh phát ra từ nó.
“Billy!” Charlie nắm cánh tay nó
lắc.
“Ừm,” Billy rên rỉ.
“Billy, tụi mình phải…”
Charlie không thể kịp nói hết
câu. Nổi bật lên trên tiếng đập phá của tên quỷ lùn, nó phân biệt
được tiếng kẹt cửa rất to. Ai đó đang đi vô.
Một tiếng thịch mạnh, như thể
tên quỷ lùn vừa đáp từ trên cao xuống. Và rồi im lặng.

