Dấu Bộ Tứ - Chương 02 - 03

Chương 2 - Trình bày nội vụ

Cô Morstan bước vào phòng với dáng
đi quả quyết. Đó là một thiếu nữ tóc hoe vàng, nhỏ nhắn và mảnh mai, y phục đơn
giản và tầm thường, tuy rất thanh nhã khiến ta liên tưởng đến những điều kiện
sinh hoạt hạn chế của cô. Chiếc áo, không đồ trang sức cũng chẳng nữ trang, màu
gạch non ngả sang màu xám. Cổ quấn một dải khăn choàng đầu nhỏ, cũng một màu
xám xịt ấy, may là có điểm thêm một chiếc lông vũ màu trắng ở một bên. Vẻ đẹp
của cô không ở trong đường nét thanh tú, không ở trong nước da trong sáng, mà
phảng phất trong nét tinh anh linh động, cởi mở và dịu dàng, trong đôi mắt xanh
lớn, đa cảm và thăm thẳm. Kinh nghiệm của tôi về phụ nữ, vốn bao trùm nhiều
nước ở ba lục địa, chưa bao giờ cho tôi được chiêm ngưỡng một khuôn mặt nào
biểu lộ một tâm hồn tế nhị một cách tuyệt vời như thế.

Shelock Holmes đẩy ghế tới mời cô
ngồi. Tôi nhận thấy ngay miệng cô run run và đôi tay cô co quắp lại, toàn là
những dấu hiệu của một sự xúc động nội tâm mãnh liệt.

- Tôi đến gặp ông, thưa ông Holmes!
- Nàng nói - bởi vì ông đã giúp bà Cecil Forrester vốn là người mà tôi phục vụ,
gỡ được một vụ rắc rối trong gia đình bà ấy. Tài năng và nhiệt tình của ông đã
làm bà ấy cảm kích vô cùng.

- Bà Cecil Forrester à? - Anh nhắc
lại, ra chiều nghĩ ngợi - À vâng, tôi nhớ đã giúp bà ấy một việc nho nhỏ. Tuy
nhiên, nếu tôi còn nhớ rõ, thì đó chỉ là một vụ rất đơn giản thôi.

- Vâng, nhưng đó không phải là ý
kiến của bà ta. Dầu sao chăng nữa, chắc là ông sẽ không nghĩ như vậy về câu
chuyện của tôi đâu. Tôi thật khó lòng mà tưởng tượng ra một câu chuyện lạ lùng
hơn, và hoàn toàn không thể giải thích gì được.

Holmes xoa tay vào nhau. Đôi mắt
sáng ngời lên. Trong chiếc ghế bành, anh chồm tới trước với cái dáng nhìn
nghiêng của loài chim săn mồi, và nét mặt đột nhiên biểu lộ một sự tập trung tư
tưởng đến là lạ lùng.

- Mời cô trình bày trường hợp của
cô đi - Anh nói.

Anh lấy giọng của một nhà doanh
nghiệp. Địa vị của tôi lúc bấy giờ đâm ra khó xử, nên tôi đứng dậy cáo từ:

- Mong quý vị miễn thứ cho tôi.

Tôi rất đỗi ngạc nhiên khi người
phụ nữ khoát bàn tay đeo găng giữ tôi lại.

- Nếu bạn ông vui lòng ngồi lại -
Nàng nói - thì ông ấy có thể giúp đỡ tôi rất nhiều.

Tôi đành phải ngồi xuống.

- Sau đây là vắn tắt các sự kiện đã
xảy ra - Nàng nói tiếp - Cha tôi là sĩ quan phục vụ tại Ấn Độ. Ông gởi tôi qua
Anh thuở tôi hãy còn bé. Mẹ tôi mất sớm và ở đây tôi chẳng có người bà con nào.
Vì vậy tôi được gởi vào một ký túc xá, nói đúng ra rất là đàng hoàng, ở
Edinburgh, và tôi lưu lại tại đó mãi đến năm mười bảy tuổi. Đến năm 1878, cha
tôi, với quân hàm đại úy cấp trung đoàn được nghỉ phép mười hai tháng và trở về
đây.

Ông gởi cho tôi một điện tín từ
London báo cho tôi biết là ông đã trở về bình an, và đợi gặp tôi ngay tại khách
sạn Langham. Bức điện viết một cách đầy lòng yêu thương. Vừa đến London, tôi đi
ngay tới khách sạn Langham. Tôi được người ta cho biết rằng đúng là đại úy
Morstan có đăng ký phòng trọ tại đây, nhưng tối hôm qua ông ấy đã đi đâu đó mà
chưa thấy trở về. Tôi chờ đợi trọn ngày hôm đó, nhưng bặt vô âm tín. Đến tối,
theo lời khuyên của giám đốc khách sạn, tôi đi báo với cảnh sát sáng ngày hôm
sau, mục rao vặt về việc này được đăng trên tất cả các báo. Công việc tìm kiếm
của chúng tôi không kết quả, và cũng kể từ ngày đó tôi chẳng nhận được tin tức
gì về người cha bất hạnh của tôi. Ông trở về quê hương lòng chứa chan hy vọng
tìm được chút bình yên và an ủi, ấy thế mà...

Nàng đưa tay lên cổ, câu nói nghẹn
ngào qua tiếng khóc.

- Xin cô cho biết rõ ngày, tháng
xảy ra sự việc – Holmes vừa nói vừa mở sổ tay ghi chép ra.

- Cha tôi mất tích ngày 3 tháng
Chạp năm 1878, tính đến nay là đã gần 10 năm.

- Còn hành lý thì sao?

- Vẫn còn ở khách sạn đây. Nhưng
cũng chẳng có dấu tích gì. Toàn là quần áo, sách vở, và rất nhiều vật hiếm, lạ
mang từ đảo Andaman[1] về. Tưởng cũng cần nói rõ thêm rằng cha tôi là sĩ quan
đồn trú, chịu trách nhiệm về những tên tội phạm bị đày biệt xứ đến đó.

- Ở thành phố ông ấy có bạn bè nào
không?

- Theo chỗ tôi biết, cha tôi chỉ có
một người bạn duy nhất: đó là thiếu tá Sholto, cùng đơn vị, trung đoàn bộ binh
thứ 35 Bombay. Viên thiếu tá nay đã nghỉ hưu, trước đó một thời gian về sống ở
Thượng Norwood. Chúng tôi có tìm cách liên lạc với ông ấy; nhưng ông ấy lại
không ngờ rằng bạn ông ấy lại có mặt tại Anh.

- Một vụ khá lạ lùng đây - Holmes
nhận xét.

- À xin lỗi, tôi quên không thuật
lại với quý ông giai đoạn rối rắm nhất của câu chuyện. Cách đây sáu năm, ngày 4
tháng 5 năm 1882, nếu muốn chính xác hơn, trên nhật báo “Times”, có đăng mục
rao vặt hỏi thăm địa chỉ của cô Morstan, và còn nói rõ là cô nên cho biết tin
tức về cô vì có lợi cho chính bản thân cô. Trong mục rao vặt đó, chẳng có tên,
mà cũng không có địa chỉ. Lúc bấy giờ, tôi vừa mới được thâu nhận làm quản gia
trong gia đình bà Cecil Forrester. Theo lời khuyên của bà này, tôi cũng nhờ
đăng báo địa chỉ của tôi. Cùng ngày, tôi nhận được qua bưu điện một hộp nữ
trang bằng giấy bồi, trong đựng duy nhất một viên ngọc trai cực lớn nước sáng
rất đẹp. Kể từ ngày hôm ấy, năm nào cũng vậy, vào cùng ngày, tôi lại nhận được
một bưu phẩm đựng một viên ngọc trai như thế, mà chẳng có tên tuổi, địa chỉ gì
của người gởi. Tôi đã hỏi ý kiến một chuyên gia: những viên ngọc trai này thuộc
một chủng loại hiếm có và có một giá trị to lớn. Mời ông cứ tự xem lấy mới thấy
là đẹp biết nhường nào.

- Nàng mở một chiếc hộp đẹp, đưa
chúng tôi xem sáu viên ngọc: những viên ngọc tinh thuần nhất mà tôi chưa từng
thấy.

- Câu chuyện của cô rất là kỳ thú -
Shelock Holmes nói - Có còn gì nữa không?

- Vâng, còn ạ. Mới hôm nay thôi ấy
chính vì vậy mà tôi đến gặp ông đấy. Sáng nay tôi có nhận được một bức thư.
Thưa ông, đây.

- Cám ơn, Holmes nói - Xin cho tôi
xem cả phong bì. Dấu nhật ấn bưu điện London, khu vực Tây Nam. Ngày 7 tháng 7.
Hừm! Ở phía góc, có dấu tay trái, có lẽ là của bưu tá. Loại phong bì sáu pence
một tập. Giấy viết thư thuộc loại sang.

Không địa chỉ.

Bức thư như sau:

"Bảy giờ tối nay xin có mặt
tại Nhà hát Lyceum, cạnh cột thứ ba lối đi ra tỉnh từ bên trái. Nếu cô không
tin tưởng, cô có thể mời hai người bạn đi theo. Cô là nạn nhân của một sự bất
công và sự bất công này sẽ được đền bù. Xin đừng đem cảnh sát theo. Nếu không,
tất cả sẽ thất bại. Người bạn vô danh của cố.”

- Thế đấy, quả là một bí ẩn nho
nhỏ, ngồ ngộ. Cô có dự tính gì không, cô Morstan?

- Đó lại chính là câu hỏi tôi muốn
đặt ra với ông đấy.

- Nếu thế thì, chắc chắn chúng ta
sẽ đến điểm hẹn, cô, tôi và... dĩ nhiên, cả bác sỹ Watson nữa. Người viết thư
cho cô chấp thuận cho cô mang theo hai người bạn: bác sỹ đây đúng là người mà
ta cần. Chúng tôi đã từng làm việc chung với nhau.

- Nhưng liệu ông ấy có muốn đến
không? - Nàng hỏi bằng giọng thúc bách.

- Tôi sẽ rất hãnh diện và sung
sướng - Tôi sốt sắng nói - Nếu tôi có thể giúp cô phần nào đó.

- Cả hai ông đều thật là tử tế quá
- Nàng đáp - Tôi vốn sống một cuộc sống thầm lặng, và tôi chẳng có ai là bạn bè
để nhờ cậy cả. Tôi nghĩ là ta sẽ có đủ thời giờ nếu tôi trở lại đây lúc sáu
giờ.

- Nhớ đừng đến trễ nhé - Holmes nói
- Cho tôi hỏi thêm một câu. Tuồng chữ trên phong bì này có giống với tuồng chữ
cô đã trông thấy trên mấy chiếc hộp đựng ngọc trai không?

- Đây, tôi có sẵn đây - Nàng đáp và
đưa ra sáu mẫu giấy.

- Cô quả thật là một thân chủ gương
mẫu, trực giác đã cho cô biết điều gì quan trọng trong nội vụ này. Nào, giờ ta
hãy xem nào.

Trải rộng mấy mẫu giấy lên bàn, anh
so sánh bằng cái nhìn linh hoạt và sâu sắc.

- Nét chữ thì giả mạo, trừ bức thư,
song tác giả chắc chắn chỉ là một - Anh nói - Các bạn cứ xem kỹ chữ “e” kiểu Hy
Lạp cứ xuất hiện mỗi lúc tác giả thiếu chú ý và nét cong đặc biệt ở chữ
"s” cuối từ[2]! Tôi chẳng muốn gây cho cô niềm hy vọng giả tạo, cô Miorxtan
ạ, nhưng cô thấy có gì giống nhau giữa nét chữ này và

nét chữ của cha cô không?

- Hoàn toàn không ạ. Hai tuồng chữ
khác hẳn nhau.

- Tôi cũng đoán trước câu trả lời
ấy rồi. Thế thì xin hẹn đến sáu giờ chiều nay. Cho phép tôi giữ mấy tờ giấy
này. Bây giờ chỉ mới ba giờ rưỡi và có thể tôi sẽ cần đến khoảng thời gian còn
lại trước khi cô trở lại đây. Xin tạm biệt[3]!

- Vâng, xin tạm biệt[4] - Thiếu nữ
đáp lại.

Cầm lại hộp ngọc trai, nàng mỉm
cười duyên dáng và nhanh nhẹn ra về.

Qua cửa sổ, tôi nhìn theo dáng đi
thoăn thoắt của nàng trên đường phố, mãi đến khi chiếc khăn choàng đầu màu xám
và chiếc lông vũ trắng tan biến đi giữa đám đông.

- Chà! Cô gái mới quyến rũ làm sao!
- Tôi vừa nói lớn vừa quay lại với bạn tôi.

Anh đã đốt lại ống điếu và ngồi gọn
sâu vào chiếc ghế bành, mắt nhắm lại.

- Thật à? - Anh nói bằng giọng uể
oải - Thế mà tôi không để ý đấy.

- Anh đích thực là một người máy? -
Tôi nói - Một cái máy biết lý luận. Đôi khi tôi thấy anh hoàn toàn mất hẳn nhân
tính.

Anh mỉm cười, đáp lại:

- Có một điều tối quan trọng là tôi
không được để bị ảnh hưởng bởi những tính chất riêng của từng người. Một thân
chủ đối với tôi chỉ là một yếu tố trong một bài toán mà thôi. Tính cảm xúc cản
trở sức lập luận trong sáng và óc phán đoán lành mạnh. Người đàn bà quyến rũ
nhất mà tôi đã từng biết đã bị treo cổ chỉ vì bà đã đầu độc ba đứa con mình để
lãnh món tiền bảo hiểm nhân mạng ký kết trên đầu chúng nó. Mặt khác, gã đàn ông
đáng ghét nhất trong chỗ quen biết của tôi lại là một người đầy lòng nhân ái,
dám bỏ ra gần nửa triệu bảng cho kẻ nghèo khó.

- Tuy nhiên, trong trường hợp đặc
biệt này...

- Tôi không bao giờ đặt ngoại lệ.
Với tôi ngoại lệ phủ nhận quy tắc. Anh có bao giờ gặp dịp tìm hiểu tính tình
của một người qua nét chữ của họ không? Và anh nghĩ gì về tuồng chữ như thế
này?

- Nó trông dễ đọc và đều đặn - Tôi
đáp - Tuồng chữ của một người từng quen với công việc làm ăn, và có một cá tính
khá mạnh mẽ.

Holmes lắc đầu, không đồng ý.

- Anh hãy nhìn những chữ có vòng
gút: chúng chẳng khác gì nhau lắm. Chữ “d” cũng có thể là chữ “a”, và chữ “l”
có thể là chữ “e”. Những người có cá tính luôn luôn viết rõ ràng những chữ có
vòng gút, dầu cho họ có viết xấu đến đâu chăng nữa. Chữ “k” hơi run, và những
chữ hoa chứng tỏ chút ít tự phụ... Thôi được. Giờ

tôi phải đi. Tôi cần thêm vài tin
tức. Để tôi giới thiệu với anh cuốn sách này trong khi chờ tôi; Watson ạ. Hay
tuyệt đấy. Đó là cuốn "Kiếp đọa đày của con người"[5], của Winwood
Reade. Trong vòng 1 tiếng nữa tôi sẽ trở về thôi.

Tôi cầm lấy cuốn sách ngồi lại gần
cửa sổ, song chẳng mấy chốc dòng suy nghĩ của tôi tách rời khỏi những thuyết lý
táo bạo của nhà văn. Tôi hình dung lại cô thiếu nữ với nụ cười của nàng; tôi
lại nghe thấy giọng nói uyển chuyển và êm ái khi nàng thuật lại điều bí ẩn lạ
lùng đang bao trùm lên cuộc đời nàng.

Nếu nàng vừa mười bảy tuổi lúc cha
nàng mất tích, thì nay chắc nàng phải ở vào độ hai mươi bảy. Ôi, cái tuổi đẹp
biết nhường nào? Cái tuổi thanh xuân, đang còn ở độ rực rỡ, tâm hồn không vướng
bụi vị kỷ và lại được kinh nghiệm đời lắng dịu xuống... Tôi ngồi trong ghế
bành, mải mơ màng như vậy cho đến khi những ý nghĩ độc hại ùa đến trí óc tôi.
Thế là tôi đâm nhào đến bàn giấy và đọc ngấu nghiến đến quên mình tập thảo luận
sau cùng về bệnh lý học. Nhưng, tôi là cái gì kia chứ? Một bác sĩ phẫu thuật
trong quân đội, khổ sở vì cái chân yếu đuối và một trương mục ngân hàng lại
càng yếu kém hơn nữa. Thế thì sao tôi lại có thể thả hồn theo dòng suy nghĩ
ngông cuồng đến thế? Người thiếu nữ kia chẳng qua cũng chỉ là một thành phần,
một yếu tố trong bài toán mà thôi. Nếu tương lai tôi có đen tối đi nữa, tốt hơn
là cứ nhìn thẳng vào nó, mặt đối mặt, như một con người còn hơn là che đậy nó
sau những hình ảnh ngông cuồng huyễn hoặc do óc tưởng tượng thêu dệt nên.

---

[1]
Tên một quần đảo vịnh Bengal, thuộc lãnh thổ Ấn Độ.

[2]
Cụm từ “two friends” (hai người bạn-tiếng Anh)

[3] Nguyên văn: “Au revoir” (tiếng Pháp)

[4]
Như trên

[5]
Nguyên văn: “MARTYRDOM OF MAN”

Chương 3 - Đi tìm một giải đáp

Mãi đến năm giờ rưỡi Holmes với trở
về, hoạt bát và tươi cười, trông anh thật vui vẻ (tâm trạng này, ở anh, thường
xen kẽ với tình trạng suy sụp sâu sắc).

- Trong vụ này chẳng có gì là bí ẩn
lắm đâu! - Anh vừa nói vừa đón lấy tách trà tôi mới rót cho anh - Các sự kiện
xảy ra dường như chỉ chấp nhận có một lối giải thích mà thôi.

- Sao? Anh đã tìm ra lời giải đáp
rồi à?

- Thật ra, nói như thế thì cũng đi
quá xa đấy! Tôi mới chỉ tìm ra một sự kiện có ý nghĩa, thế thôi; nhưng nó rất
có ý nghĩa. Còn thiếu một số chi tiết. Thật vậy, lúc tra cứu kho lưu trữ báo
“Times”, tôi vừa phát hiện ra rằng thiếu tá Sholto, ở Thượng Norwood, nguyên là
sĩ quan thuộc trung đoàn 35 bộ binh, chết ngày 28 tháng Tư năm 1882.

- Có lẽ tôi hơi tối dạ thật anh
Holmes ạ, nhưng thật tình tôi chẳng thấy ý nghĩa gì trong đó cả.

- Không à? Anh làm tôi ngạc nhiên
đấy! Mời anh xét lại các sự kiện sau đây: Đại úy Morstan mất tích. Người duy
nhất mà ông ta quen biết ở London là thiếu tá Sholto. Nhưng ông này quả quyết
là không biết đại úy có mặt ở Anh. Bốn năm sau, Sholto chết. Trong tuần lễ tiếp
theo sau cái chết, con gái đại úy Morstan nhận được một món quà có giá trị rất
lớn, và năm nào cũng nhận được như vậy. Bức thư ngày hôm nay mô tả cô này như
là nạn nhân của một sự bất công nào đó. Thế thì, với cô gái này, ngoài sự mất
tích của người cha ra, đã phải chịu đựng những thiệt hại nào nữa chăng? Và tại
sao những món quà lại khởi đầu ngay sau khi Sholto chết, nếu không phải là vì
người thừa kế của ông này, phát hiện ra được một bí ẩn nào đó nên mới nảy ra ý
muốn đền bù lại sự thiệt hại cho cô ta? Hay là anh có giả thuyết nào khác ăn
khớp với tất cả các sự kiện kia chăng?

- Dẫu sao thì đây cũng là một cách
khá kỳ quặc để đền bù lại cho sự mất tích của người cha! Mà cách tiến hành cũng
lạ lùng nữa chứ? Mặt khác, tại sao lại phải đợi đến hôm nay mới viết lá thư kia,
mà không viết ra trước đây sáu năm? Sau cùng, còn vấn đề đền bù một sự thiệt
thòi nữa chứ? Đền bù bằng cách nào? Bằng cách trả lại người cha cho con gái
chăng? Ta không thể tin rằng người cha vẫn còn sống. Và người thiếu nữ kia
không là nạn nhân của bất cứ một sự thiệt thòi nào khác.

- Vâng, có khó khăn đấy! Nhưng
chuyến đi của chúng ta chiều nay sẽ san bằng tất. A! Cỗ xe ngựa hòm đây rồi! Cô
Morstan ngồi bên trong ấy, anh sẵn sàng chưa? Nào, ta đi xuống đi, đã quá sáu
giờ rồi đấy.

Tôi với lấy cái mũ và cây gậy chống
to nhất. Tôi nhận thấy Holmes lấy khẩu súng ngắn trong ngăn kéo cho vào túi.
Vậy là anh nghĩ rằng câu chuyện tối nay sẽ có hướng phức tạp rắc rối hơn.

Cô Morstan thu mình trong chiếc áo
choàng màu tối; khuôn mặt thanh tú phớt xanh nhưng vẫn điềm tĩnh. Có lẽ nàng
cần phải có nhiều nghị lực hơn một người đàn bà bình thường, mới không cảm thấy
xốn xang, hồi hộp trước một chuyến đi kỳ lạ mà chúng tôi sắp sửa dấn thân vào.
Nếu căn cứ vào lối trả lời rành mạch của nàng đối với những câu hỏi của Holmes
thì nàng rất tự chủ.

- Qua thư từ - Nàng nói - Cha tôi
kể rất nhiều về thiếu tá Sholto. Hai người chắc phải là thân nhau lắm. Chắc hẳn
họ rất thường gặp nhau vì cả hai đều chỉ huy binh sĩ trên đảo Andaman. À, tôi
vừa sực nhớ ra người ta có tìm thấy trên bàn giấy của cha tôi một tài liệu thật
là lạ. Chẳng ai hiểu gì cả. Tôi không nghĩ là nó có một tầm quan trọng nào đó.
Nhưng có lẽ ông cũng muốn xem qua. Thưa ông, đây.

Holmes cẩn thận mở tờ giấy ra, đặt
lên đầu gối vuốt lại cho phẳng phiu. Rồi anh dùng kính lúp xem kỹ mảnh giấy đó.

- Loại giấy này được chế tạo tại Ấn
Độ - Anh nhận xét - Đã có lúc nó được ghim vào một tấm bảng con. Sơ đồ vẽ ra
trong đó xem như là họa đồ một phần của một tòa nhà to lớn có rất nhiều lối ra
vào và hành lang. Một dấu chữ thập nhỏ được đánh dấu bằng mực đỏ. Bên trên dấu
chữ thập, có chú thích: "3,37 tính từ bên trải qua" viết bằng bút
chì. Ở góc trái, một kiểu linh tự trông giống bốn chữ thập xếp hàng cạnh nhau.
Cạnh đó, có ghi bằng nét chữ vụng về và thô kệch:

"Dấu Bộ Tứ. Jonathan Small,
Mahomet Singh, Abdullah Khan, Dost Akbar".

- Không, anh ạ. Thú thật là tôi chả
thấy tài liệu này có liên quan gì đến nội vụ của chúng ta. Song có điều chắc là
nó quan trọng; chẳng thế mà nó được gấp xếp cẩn thận vào ví, vì mặt trái cũng
sạch sẽ như mặt phải.

- Đúng vậy, tôi đã tìm thấy nó
trong ví của cha tôi, cô Morstan nói.

- Thế thì cô nên cất giữ nó cho kỹ
lưỡng, cô Morstan ạ. Nó có thể giúp được việc cho ta đấy. Tôi chợt có ý nghĩ là
phải chăng vụ này còn sâu sắc và tinh vi hơn là tôi tưởng lúc ban đầu. Chắc là
tôi phải duyệt xét lại quan điểm của tôi.

Holmes thu mình vào một góc trên
ghế xe ngựa. Nhìn thoáng qua vầng trán hằn sâu những nếp nhăn và cái nhìn xa
vắng của anh, tôi đoán ra là anh đang suy nghĩ lung lắm. Cô Morstan và tôi đang
nhỏ to về chuyến đi này của chúng tôi và về kết quả có thể có được của nó,
nhưng Holmes vẫn giữ lấy một thái độ dè dặt khó hiểu mãi cho đến cuối cuộc hành
trình.

Dạo ấy là vào tháng Chín, buổi chiều
tối cũng ảm đạm như ban ngày. Một màn sương dày đặc và ẩm ướt thấm sâu vào
thành phố lớn. Từng cụm mây màu đất bùn lê thê một cách thiểu não trên đầu
thành phố lầy lội. Dọc theo phố Strand, những trụ đèn chỉ còn là những điểm
sáng phân tán loãng và như tẩm dầu hắt ra một khoang ánh sáng yếu ớt xuống lòng
đường nhầy nhụa. Đèn vàng trong tủ kính chiếu sáng đó đây bầu không khí ẩm hơi
nước. Tưởng chừng như có một điều gì quái dị khác thường trong cảnh diễu hành
vô tận của những khuôn mặt buồn thảm hay hân hoạn, âu lo hay mãn nguyện. Lướt
nhẹ từ vùng tối ảm đạm ra vùng ánh sáng để rồi lại rơi vào cảnh tối tăm mờ mịt,
những khuôn mặt ấy biểu tượng cho cả đám nhân loại. Bình thường thì tôi đâu có
dễ gì bị xúc cảm, ấy thế mà cái ngoại cảnh ấy kết hợp với tính chất lạ lùng
trong công việc chúng tôi làm đã khiến cho tôi phải xuống tinh thần. Thái độ
của cô Morstan cũng giống như tôi vậy thôi. Còn Holmes thì lại có thể vượt lên
trên những ảnh hưởng tương tự. Anh lật sổ tay, đặt lên đầu gối, đọc dưới ánh
sáng của cây đèn bỏ túi.

Tại Nhà hát Lyceum, thiên hạ chen
lấn nhau trước cửa ra vào hai bên. Dọc theo mặt tiền nhà hát, xe ngựa hòm và xe
tư nối đuôi nhau thành một hàng dài bất tận, các ông các bà xuống xe, súng sính
trong bộ dạ phục. Chúng tôi vừa đến cột thứ ba là nơi hẹn gặp, thì một người
đàn ông nhỏ thó tóc vàng sẫm, song linh hoạt, mặc cải trang làm người đánh xe
ngựa tiến lại gần chúng tôi.

- Các ông là người đi theo cô
Morstan? - Gã hỏi.

- Tôi là Morstan, còn hai ông này
là bạn tôi - Nàng đáp.

Gã ngước mắt nhìn chúng tôi, ánh
nhìn xoi mói lạ thường.

- Cô cũng miễn lỗi cho, cô Morstan
ạ. Hắn nói giọng có phần hơi xấc xược, nhưng cô phải lấy danh dự mà bảo đảm
rằng trong hai ông đây không ai là cảnh sát mới được.

- Tôi xin bảo đảm đúng như vậy. -
Nàng trả lời. Gã huýt lên một tiếng lanh lảnh; một đứa bé dắt cỗ xe lại và mở
cửa. Gã đàn ông leo lên ghế người đánh xe trong khi chúng tôi ngồi vào bên
trong. Chúng tôi vừa an vị thì gã quất ngựa và đưa chúng tôi vào những đường
phố sương mù với một tốc độ điên cuồng. Hoàn cảnh chúng tôi kể cũng oái oăm
thật, chúng tôi đang đi đến một nơi nào không biết với những lý do cũng không
rõ. Nghĩ lại thì lời mời này, hoặc là một trò bịp bợm từ đầu đến cuối - giả
thiết này khó lòng đứng vững được - hoặc đây là bằng chứng cho thấy rằng có
những sự cố quan trọng đang được chuẩn bị. Morstan thì có vẻ quả quyết dứt
khoát hơn bao giờ hết. Tôi tìm cách làm cho nàng khuây khỏa bằng một vài mẩu
chuyện phiêu lưu của tôi hồi còn ở Afghanistan. Nhưng nói đúng ra thì bản thân
tôi cũng hồi hộp muốn biết nơi chúng tôi sẽ đến, nên câu chuyện tôi kể cũng đâm
ra lộn xộn phần nào. Cho đến bây giờ nàng vẫn còn quả quyết là hồi đó tôi đã kể
cho nàng nghe một giai thoại cảm động: có một đầu mũi súng xuất hiện bên trong
lều tôi nghỉ vào lúc nửa đêm và tôi đã chụp ngay lấy khẩu súng săn của mình bắn
về hướng đó.

Dầu sao thì tôi cũng quan tâm đến
lộ trình chúng tôi đang theo hơn là những câu chuyện cũ rích ấy. Lúc đầu, tôi
đã theo dõi hướng đi của chúng tôi nhưng về sau, chẳng mấy chốc mà sương mù,
tốc độ xe chạy và sự hiểu biết khá hạn chế của tôi về London khiến tôi không
tài nào theo dõi được nữa. Tôi chẳng còn biết gì nữa, chỉ rõ một điều là chúng
tôi đang đi một đoạn đường khá dài. Còn Shelock Holmes vẫn bám sát lộ trình.
Anh gọi thầm tên các khu phố và những con đường quanh co mà xe chúng tôi ào ào
băng qua.

- Phố Rochester Row - Anh bảo - Giờ
là Quảng trường Vincent. Ta đang đến đường Vauxhall Bridge. Dường như ta đang
chạy về phố Surrey. Vâng, quả đúng như tôi đã nghĩ. Bây giờ, ta đang chạy trên
cầu. Anh có thể thấy lấp lánh ánh nước sông.

Thật vậy chúng tôi có thể nhận rõ
một đoạn sông Thames hắt bóng một cách yếu ớt mấy ngọn đèn đường. Nhưng rồi xe
đã qua bên kia cầu, đi vào những con đường quanh co khúc khuỷu.

- Đường Wordsworth - Bạn tôi đọc
tên - đường Priory, hẻm Lark Hall, Quảng trường Stockwell, phố Robert, hẻm Cold
Harbour. Chà, cuộc điều tra của chúng ta không có vẻ gì là sẽ đưa ta đến một
khu phố sang trọng nào đó đâu...

Thực tình thì các đường phố chẳng
có phút gì là hấp dẫn cả. Nét đơn điệu của những ngôi nhà gạch thảng hoặc mới
được điểm bằng vài quán cà phê ở ngã tư đường. Tiếp đến, những tòa biệt thự hai
tầng hiện ra giữa mảnh vườn bé tí hon. Rồi lại đến hàng dài bất tận những ngôi
nhà mới tinh màu sắc lòe loẹt, trông chẳng khác nào những ống vòi quái dị mà
thành phố khổng lồ tung và o vùng nông thôn lân cận. Sau cùng chúng tôi dừng
lại trước căn nhà thứ ba trên một con đường xe mới ngoặt vào. Những căn nhà
khác có vẻ như chưa có người ở. Căn nhà chúng tôi dừng lại cũng tối tăm như mấy
căn nhà ấy, nhưng ở cửa sổ nhà bếp có ánh đèn leo lét. Chúng tôi vừa gõ cửa thì
một gia nhân người Ấn Độ, đầu chít khăn vàng, lụng thụng trong bộ y phục có
thắt lưng cũng màu vàng, ra mở cửa. Có một vẻ gì đó, không hòa hợp trong cảnh
xuất hiện đầy màu sắc phương đông đóng khung trong ô cửa của một căn nhà ngoại
ô tầm thường.

- Chủ nhân tôi đang chờ đời quý
ngài! Gã gia nhân nói.

Cùng lúc, một giọng lanh lảnh và
chói chang cất lên từ bên trong:

- Mời họ vào, khitmutgar[1] - Giọng
ấy thét lớn. Đưa họ vào đây ngay.

---

[1]
Tiếng gọi gia nhân của người chủ. (tiếng Ấn Độ)

Báo cáo nội dung xấu