Oan nghiệt - Chương 09 phần 2
- Ông cứ mặc sức mà nói thế. Chuyện như thế này, đêm chủ nhật mới đây - đúng ra là vào sáng sớm thứ hai - khoảng 12 giờ rưỡi, phải nói cho chính xác mới được, một chiếc xe màu trắng bị cướp cạn ở khu vực B6348 giữa đường A, và làng Chatton. Đồ đạc trên xe bị cướp hết và tài xế đang còn trong tình trạng hôn mê.
- Tên anh ta là gì?
- Jonathan Fearn.
Banks gõ cây bút lên bàn.
- Chưa hề nghe nói đến.
- Chẳng có lý do gì khiến ông phải nghe. Nhưng hắn sống ở đây. - Dalton nhìn vào cuốn sổ. - Số 36 đường Darlington.
- Tôi biết số nhà này. - Banks nghĩ, ghi chú vào giấy: - Chúng tôi sẽ tìm hiểu hắn. Có tiền án không?
- Không. Nhưng thú vị thay là chiếc xe tải trắng này được một công ty có tên là Công ty máy tính PKF thuê, và...
- Khoan đã. Có phải anh nói công ty PKF không?
- Đúng thế. Bắt đầu nhận ra gì rồi à?
- Mới sơ sài thôi, nhưng cứ nói tiếp đi.
- Thế nhưng khi chúng tôi kiểm tra công ty PKF, đi điều tra một vòng thì mới biết công ty này không có.
- Anh nói thế nghĩa là sao?
- Thì như tôi vừa nói đấy. Công ty Hệ thống máy vi tính PKF không đăng ký hoạt động kinh doanh.
- Có nghĩa là có kẻ đã lấy tên...
- ... in trên đầu giấy dùng làm văn thư, có lắp ráp đường dây điện thoại, mở tài khoản ngân hàng... đúng hệt. Một công ty ma.
- Anh có tìm ra kẻ nào không?
- Chính vì thế mà tôi hi vọng ông có thể giúp chúng tôi. Chúng tôi lần ra công ty PKF này đóng ở trung tâm thương mại Daleview, nằm ngoài thành phố Eastvale, và chúng tôi khẳng định chiếc xe đang trên đường đến một cơ sở thương mại mới gần Wooler. Ít ra, công ty PKF đã thuê cơ sở vật chất ở đây để bắt đầu làm ăn vào sáng thứ hai.
- Để tôi nói cho rõ việc này. - Banks nói: - Công ty PKF, thực chất là không có, đã di chuyển hết hàng hóa, dụng cụ đồ đạc khỏi Trung tâm thương mại Daleview, nơi mà họ không hoạt động hơn hai hay ba tháng nay, vào đêm chủ nhật và đi về phía đường A1 để đến một trung tâm thương mại khác gần Tyneside, nơi họ đã thuê cơ sở vật chất. Cách nơi đến khoảng vài dặm thì chiếc xe bị cướp cạn và đồ đạc bị lấy hết. Phải thế không?
- Quá rõ.
- Vào ngày thứ Ba, - Banks nói tiếp, - người gác đêm ở Trung tâm thương mại Daleview được người ta tìm thấy nằm chết trong một cái rừng gần Market Harborough, Leicestershire. Chết vì bị súng ngắn bắn.
- Thanh toán nhau à?
- Hình như thế. Chúng tôi nghĩ hắn bị giết vào chiều thứ Hai.
- Có liên hệ với việc này phải không?
- Tôi nghĩ thế, anh không thấy sao? Nhất là khi anh chàng gác đêm này cứ gởi đều đều vào ngân hàng mỗi tuần hai trăm bảng, vượt quá số lương của hắn.
- Và công ty PKF là giả mạo.
- Đúng thế.
- Ông có biết chiếc xe chở cái gì không? - Dalton hỏi.
- Khi người Trung sĩ thám tử của tôi lục tìm khu vực công ty PKF thuê ở Daleview, chỉ tìm thấy độc nhất một cái hộp không đựng đá quí, trong đó có một cái đĩa từ ghi âm.
- Đĩa từ ghi âm à? Lần đầu tiên tôi nghe có chuyện ăn cướp xe chở đĩa CD.
- Chúng tôi không biết đấy có phải là lý do không. Chúng tôi chỉ nói rằng chúng tôi đã tìm ra một cái hộp đựng đá quí ở công ty PKF, thứ thích ứng với công việc của họ trong việc kinh doanh máy vi tính. Có lẽ chính vì các thiết bị máy vi tính mà bọn trộm đã theo dõi chúng không?
- Có thể như thế. Hàng này cũng có giá trị.
- Có manh mối gì nữa không?
Dalton lắc đầu.
- Chúng tôi canh chừng khu vực chúng thuê gần Wooler, nhưng chưa thấy ai đến đấy hết. Bây giờ nghe ông nói chuyện xảy ra như thế này, chúng tôi không trông đợi gì chúng nữa. Trời khi ấy thì tối rồi, đường sá vắng vẻ, cho nên không có ai để làm chứng hết. Chúng để xe lại ở chỗ rộng bên đường dành cho xe đậu. Như tôi đã nói, tài xế vẫn còn hôn mê và người ta đang lấy dấu tay để bổ túc cho việc điều tra, cho đến khi tiếp xúc được nơi hắn ở. Nhưng cả ông và tôi đều biết, khi làm một công việc chuyên môn như thế này thì phải hết sức cẩn thận. Thế là chúng ta đã có một đầu mối chung - đó là công ty PKF và Trung tâm thương mại Daleview.
- Được rồi! - Banks nói, ông đứng dậy: - Chúng ta sẽ hợp tác để làm vụ này.
- Tôi ở lại đây vài hôm, đến quan sát Trung tâm thương mại, đi quanh xem sao, có được không?
- Cứ làm khách của tôi. - Banks kéo xấp giấy đến gần: - Điều hay nhất bây giờ là chúng ta giúp đỡ lẫn nhau. Anh có thể tiếp xúc với Thanh tra Collaton ở Market Harborough. Cứ xem như chúng ta cần phải liên lạc với nhau. Anh ở đâu?
- Ở khu Fox and Hounds, thuộc phố chợ Bắc. Mới đến hôm qua, chỉ một phòng nho nhỏ thôi.
- Tôi biết chỗ ấy rồi. - Banks nói. - Nếu anh tìm ra được cái gì, hãy cho chúng tôi biết liền.
- Tuân lệnh. - Dalton đưa tay chạm đầu ngón tay vào đầu với tư thế chào thân mật, rồi ra khỏi phòng.
Banks đến bên cửa sổ, nhìn xuống khu chợ rải đá sỏi. Hai chiếc kim màu vàng trên mặt đồng hồ xanh của nhà thờ chỉ 10 giờ 15. Sương mù buổi sáng đã tan hết, bây giờ chỉ còn một lớp mỏng và có thể như thế này cả ngày. Ông chỉ thấy Thanh tra Dalton đi băng qua khu chợ, dừng lại một lát trước sợi dây căng ngang cửa vào hộp đêm Bar None có người cảnh sát đứng gác, rồi gã rẽ trái vào đường York, đi về phía bến xe đò và Trung tâm Swaindale.
Từ lúc Emily bị giết chết, Banks cảm thấy khó mà tiếp tục chú ý đến công việc điều tra vụ Charlie Courage, nhưng ông nghĩ cứ tiếp tục chỉ huy công việc này. Ông cũng nghĩ ông nên hợp tác với Dalton để điều tra công ty PKF. Bất kỳ anh ta tìm ra được cái gì mới mẻ, thì chắc Ron đỏ cũng phải khen ngợi ông, đương nhiên là thế.
Vụ Emily ưu tiên hàng đầu thật đấy, nhưng không vì thế mà bỏ qua anh chàng Charlie tội nghiệp. Có thể Dalton sẽ khám phá đôi điều hữu ích. Banks sẽ để cho gã tiếp xúc với Hatchley, còn với Annie, thì để cho cô ấy san sẻ cho gã những điều cô đã khám phá ra ở Daleview.
Nhìn ánh sáng yếu ớt xám xịt đang bao trùm lên vạn vật, làm cho thành phố mang vẻ thê lương, Banks ước sao đi khỏi nơi đây để đến nơi nào ấm áp, có ánh nắng mặt trời chừng hai tuần, tìm nơi nào xinh đẹp trên bãi bể để ngồi đọc sách, đọc tiểu sử danh nhân và lắng nghe sóng biển cả ngày.
Thường thường ông không thích loại nghỉ lễ như thế này, mà chỉ thích đi bộ trong một thành phố ở nước ngoài để khám phá những điều xa lạ, nhưng vì mùa đông ở Yorkshire dài và tối tăm, nên ông đâm ra ao ước được đến những nơi trong sáng, như vùng đảo Canaries hay Azonres. Hay là vịnh Montego. Nhưng nếu điều kiện cho phép, ông muốn được đi đến Mexico một thời gian để xem di tích lịch sử của người Maya. Nhưng chuyện này còn xa vời quá, vì ông còn nợ tiền vay thế chấp ngôi nhà và Tracy đang học đại học.
Ngoài ra, Banks nghĩ, mở cửa sổ ra một tí, hút điếu thuốc, ông không thể quên chuyện Emily được. Ông có trách nhiệm về những gì đã xảy ra cho cô, ít ra là phần lớn. Không trốn tránh trách nhiệm được. Nếu ông không xuống Luân Đôn và gây chuyện với Clough, thì chắc chắn cô ta sẽ không về nhà để rồi cuối cùng chết trong hộp đêm dơ bẩn ở Eastvale.
Cô đã nối gót theo Graham Marshall, theo Jem và Phil Simpkins, và ông không thể, không muốn bỏ qua chuyện này, ông phải làm cái gì mới được.
- Cho máy quay, Ned! - Banks nói.
Ông đang ở trong phòng có máy truyền hình mạch kín ở tầng dưới với các Sĩ quan thám tử Winsome Jackman và Kevin Templeton, Annie Cabbot và người chuyên viên kĩ thuật dân sự, Ned Parker.
Trên màn hình hiện ra khu chợ từ đồn cảnh sát, bao trùm cả mép quán Queen's Arms nằm bên phải, mặt tiền nhà thờ đến bên trái và tất cả các tiệm buôn, quán rượu và cơ sở văn phòng nằm ở phía bên kia, kể cả lối vào hộp đêm Bar None. Hình ảnh trắng đen lốm đốm hạt vì ống kính Camera mở rộng góc và vì ánh đèn Giáng sinh quá sáng làm nhiễu, nhưng vẫn có thể nhận ra những hình ảnh đi lui đi tới.
Banks lo sợ không biết họ có nhận ra được người nào từ sợi băng vải giăng ngang trước hộp đêm Bar None đi ra hay không. Thời gian hiện lên màn hình đang chạy ở dưới góc bên phải là 10 giờ, Parker cho hình chạy nhanh đến độ người đi qua khu vực chợ trông như những vai phụ trong một bộ phim thuộc loại săn đuổi của cảnh sát ở Keystone.
Khoảng hai mươi lăm phút sau, Banks thấy một nhóm người đi vào màn hình từ bên phải, lối ra của quán Queen's Arms, ông biểu Parker cho máy chạy chậm lại với tốc độ bình thường. Bỗng ông thấy Emily đi qua khu chợ. Cô đi có vẻ hơi xiêu vẹo trên mặt sỏi ở quãng trường chợ, điều này không làm ông ngạc nhiên vì cô đi giày đế cao và hôm ấy cô uống rượu nhiều.
Khi cô đến cây thánh giá ở quãng trường, cô quay mặt nhìn vào đồn cảnh sát và nhún nhảy một chút, và khi nhảy xong, cô cúi chào và vung hai tay trước ống kính camera, nhưng trước khi đi, cô đưa ngón tay lên, chỉ một ngón thôi, theo kiểu người Mỹ, rồi quay người, cô ngoáy mông nguầy nguậy vừa đi vào hộp đêm. Những người khác cười. Banks cũng cười khi nhìn cô, hầu như trong giây lát ông quên phứt đây là cử chỉ hơi táo tợn mà sẽ không bao giờ tái diễn nữa.
Banks nhìn họ đi vào hộp đêm, ông yêu cầu Parker giữ cho máy chạy tốc độ bình thường khi ông nhìn những người khác đi theo. Ông cố nhìn kĩ, nhưng không có dấu hiệu gì đáng ngờ vừa xảy ra trên khu chợ hết. Không có cảnh trao tay nhau những gói nhỏ đựng bột trắng. Khi ông nhìn, ông ước chi có thể thấy cảnh diễn ra ở bên trong hộp đêm như thế nào biết bao, nhưng trong đó không có camera.
Lúc 10 giờ 47 có hai người bước ra khỏi hộp đêm, họ đi ra đường York. Banks không nhìn rõ được mặt họ, nhưng ông thấy một thanh niên mặc quần jean, áo blu-dông da ngắn và một cô gái mặc áo khoác dài và đội cái mũ kéo sụp xuống. Ông yêu cầu Parker chỉnh hình ảnh cho rõ hơn, nhưng ông cũng không thấy gì rõ thêm. Sau đó, có thêm ba cặp nữa đi vào, nhưng không ai đi ra. Khi thám tử Rickerd và thanh tra Jessup đi vào trên màn hình, Banks biểu Parker tắt máy.
Khi nhìn cho thật kĩ, người ta thấy Emily như thể đã dùng Cocain nhiều trước khi đến Bar None, như Banks đã đoán, và điều này càng khiến cho ông khó mà tìm ra được ai là người đã cung cấp thứ ma tuý hỗn hợp chết người ấy cho cô.
- Thôi được rồi! - Banks nói, ông đứng dậy, vươn vai. - Hôm nay thế là quí vị đã giải trí rồi đấy. Bây giờ, Winsome, cô mang Darren Hirst vào cho tôi, được không? Có lẽ cậu ấy giúp ta tìm ra được hai người ra về ấy.
- Đối xử thân thiện chứ, thưa ngài?
- Thân thiện. Anh ta không phải là kẻ bị tình nghi, anh ta chỉ giúp chúng ta trả lời các câu hỏi thôi.
Winsome mỉm cười khi nghe mình trả lời câu rất nhàm tai:
- Tuân lệnh, thưa ngài.
- Kevin, tôi muốn anh làm việc với Ned ở đây để xem thử có thể nhận diện được hai kẻ ra về ấy không. Tìm ra vài nét mà chúng ta có thể đoán được họ là ai.
- Được thôi, Sếp.
- Và Kevin này!
- Thưa Sếp?
- Vui lòng đừng gọi tôi là Sếp. Gọi thế tôi có cảm tưởng như tôi đang ở trên truyền hình.
Templeton cười toe toét.
- Ông nói đúng, thưa ngài.
Rồi Banks nhìn vào đồng hồ tay và quay qua Annie.
- Tốt hơn là chúng ta nên đi. - Ông nói: - Chúng ta đã có hẹn với bác sĩ Glendenning trong vài phút nữa.
*
* *
Banks lái xe đi đến nhà máy xay cổ sau khi đã có kết quả mổ tử thi của Emily Riddle. Chiếc máy hát trên xe đang chơi bài Lễ cầu hồn của Fauré. Ông vẫn còn cảm thấy tức giận và buồn nôn trước cảnh tượng ông vừa trông thấy.
Đây không phải là cô gái đầu tiên mà ông đã xem bác sĩ Glendenning mổ trên bàn mổ, nhưng đây là cô gái đầu tiên mà ông biết sinh lực của cô, người mà ông đã chia sẻ những nỗi lo sợ và những ước mơ, và người mà khi nhìn ông bác sĩ Glendenning bình tĩnh đưa con dao mổ rạch lên cái hình xăm con nhện đen, khi cắt trên người cô ta theo hình chữ Y, đã làm cho Banks cảm thấy xây xẩm như Annie đã xây xẩm ở Market Harborough. Nhưng lần này Annie lại bình tĩnh, không sao hết. Lặng lẽ, căng thẳng nhưng không sao hết, ngay cả khi lưỡi cưa cưa vào xương sọ Emily.
Bác sĩ Glendenning xác định quyết đoán ban đầu của bác sĩ Burns là đúng, ông cho rằng chính chất stristnin đã trộn với liều lượng cao trong côcain là dược phẩm gây tử vong cho Emily. Chính Glendenning thực hiện thử nghiệm tìm độc tố này trong cơ thể nạn nhân, ông đã cho hoà tan một ít tinh thể nghi ngờ vào trong nước axít sulfuric, rồi nhúng vào dung dịch miếng kim loại kiềm crôm. Miếng kim loại biến thành màu tía rồi sang hồng và cuối cùng màu biến mất.
Thí nghiệm dương tính, người ta sẽ tiếp tục cho thử nghiệm ở viện Wetherby để xác định độc tố, nhưng bây giờ như thế này cũng đủ rồi. Hiện giờ giới truyền thông đại chúng chỉ biết cô ta chết vì đang nghi ngờ dùng ma tuý quá liều, nhưng chắc có lẽ chẳng bao lâu nữa sẽ có phóng viên đánh hơi được sự thật. Đôi khi báo chí còn tỏ ra thành thạo trong việc săn tin hơn cả cảnh sát nữa.
Thì ra cổ của Emily không gãy; cô ta chết vì ngạt thở. Bác sĩ Glendenning còn nói cho Banks biết rằng chính độc tố mới gây tử vong cho cô, chứ sức khoẻ của cô rất tốt. Ma tuý, rượu và thuốc lá không đủ sức đánh gục cô được.
Nhà máy xay cổ toạ lạc cuối một con đường cụt, giống như ngôi nhà đạm bạc của Banks, cho nên cảnh sát sắc phục đứng gác cách đấy hơn 100 mét, nơi tiếp giáp với con đường lớn, để không cho các phóng viên vào nhà quấy phá gia đình Riddle. Banks đưa thẻ hành nghề cho cảnh sát xem, anh ta vẫy tay cho ông đi.
Bà Rosalind ra mở cửa, dẫn ông vào chính cái phòng nơi ông đã đến báo tin cho chủ nhà biết. Bà mặc áo đen, mắt thâm quầng vì mất ngủ. Banks đoán đêm qua chắc ông Riddle đã đánh thức bà dậy khi ông ra về. Cả hai vợ chồng hẳn không ngủ ngáy gì từ khi ấy.
- Chào Banks! - Ông Riddle từ từ đứng dậy khi Banks vào phòng.
Ông ta vẫn còn mặt bộ áo quần từ đêm qua, việc thay áo quần chắc cũng phiền phức, khó thực hiện. Trông ông hốc hác phờ phạc, có vẻ suy sụp, thờ ơ, cử chỉ mà trước đây không khi nào Banks trông thấy ở ông ta. Trước đây lúc nào ông ta cũng mạnh bạo, nhanh nhẹn. Có lẽ ông ta dùng thuốc an thần, hay có lẽ do kết quả những biến cố vừa xảy ra đã tác động đến tâm trí ông. Bất cứ vì nguyên nhân gì thì ông ta cũng cần đến bác sĩ chăm sóc hay cần một giấc ngủ ngon cho lại sức.
- Có tin gì lạ không? - Ông ta hỏi, giọng thờ ơ thất vọng.
- Tôi thấy chưa có gì. - Banks không muốn kể chuyện mổ tử thi, nhưng ông nghĩ chắc ông Riddle đã biết chuyện phẫu thuật đã xong xuôi. Ông chỉ mong sao ông cảnh sát trưởng đủ tỉnh táo để không nêu vấn đề này ra trước mặt vợ.
- Đã xác nhận nguyên nhân gây ra tử vong rồi? - Ông hỏi.
- Đúng như điều chúng tôi nghĩ đấy.
Rosolind áp tay vào cổ.
- Vì Stristnin. Tôi đã đọc về chất này rồi.
Banks nhìn ông Riddle:
- Ông nói cho bà...?
- Ros hiểu vấn đề không nên nói cho ai biết nguyên nhân gây nên cái chết. Tôi nghĩ chuyện bí mật này không thể giữ lâu được. Phải không?
- Chắc thế! - Banks đáp: - Bây giờ việc mổ tử thi đã xong, miệng ông Glendenning oang oang như cái chuông, thế nào cũng có người tiết lộ chuyện bí mật này. Thưa bà Riddle, - Ông ngồi thẳng tựa người lên thành ghế: - Tôi muốn hỏi bà vài câu. Tôi cố không làm cho bà đau khổ đâu.
- Tôi hiểu. Jerry đã có nói cho tôi biết rồi.
- Tốt! Emily từ Luân Đôn về nhà được khoảng một tháng. Trong thời gian này, cô ấy có gây phiền phức gì cho bà không?
- Không! - Rosalind đáp: - Thực ra, nó cư xử rất tốt. Là vì nó...
- Bà nói thế nghĩa là sao?
- Ông Chánh thanh tra này, nghĩa là nếu nó muốn đi vui chơi trác táng cả đêm, nó cứ đi. Tôi nghĩ chắc ông đã biết, Emily là đứa phóng đãng, khó mà kiểm soát nổi. Nhưng tôi thấy không có dấu hiệu cho thấy nó dùng ma tuý, và nó thường đối xử với tôi rất lễ phép, vui vẻ.
- Tôi nghĩ chắc không thường như thế?
- Không thường.
- Từ khi về nhà cô ấy đi chơi có nhiều không?
- Không nhiều. Đêm qua là lần thứ hai hay thứ ba gì đấy.
- Lần sau cùng là khi nào?
- Đêm trước đó. Vào thứ Tư. Nó đi xem cinê với bạn. Rạp cinê mới mở ở Eastvale, và trước đó khoảng một tuần nó đi dự sinh nhật một người bạn ở Richmond. Cả hai lần, lần nào cũng về sau nửa đêm một lát.
- Cô ấy làm gì cho hết giờ?
- Nó ở nhà, đọc sách, không biết ông có tin hay không. Rồi xem video. Nó còn hỏi về cách xin vào học lớp dự bị đại học. Tôi nghĩ, rốt lại chắc nó quyết định sống nghiêm chỉnh hơn.
- Cô ấy có tâm sự gì với bà về vấn đề khó khăn cô ấy đang gặp phải không? Như vấn đề bạn trai, hay cái gì đại loại như thế?
- Tính của Emily không thế, - Rosalind đáp. - Nó thường rất kín đáo, ngay cả khi nó còn nhỏ. Nó thích cảm giác giữ kín mọi chuyện.
- Còn về bồ bịch thì sao?
- Tôi nghĩ nó không có bồ. Nó đi chơi với đám đông.
- Chắc cô ta khó tìm được bạn thân ở địa phương sau khi đã đi học trường ở miền Nam lâu ngày rồi.
- Đúng thế. Và chắc ông biết dân địa phương ở đây cũng không mặn nồng gì với dân miền Nam, ngay cả bây giờ. Nhưng khi nghĩ lễ về nhà, nó thường gặp nhiều người. Tôi không biết tại sao. Nó có vẻ kết bạn không mấy khó khăn. Nó đi chơi thoải mái. Và dĩ nhiên cũng vì nó vẫn còn quen biết nhiều người ở đây từ thời nó học trường Saint Mary. Chỉ mới cách đây hai năm.
- Còn Darren Hirst thì sao? Có khi nào cô nói đến cậu ấy không?
- Có! Thực ra thì tuần trước nó có đi dự tiệc sinh nhật của anh ta. Nhưng anh ta không phải là bồ của nó; anh ta chỉ là người trong nhóm mà nó đi chơi. Anh ta có xe hơi. Họ đến đón nó tại nhà vào ngày thứ Tư - Darren và một cô gái, Nina hay Tina gì đấy - và họ có vẻ vui lắm, mặc dù tôi không bằng lòng để nó đi chơi với những người lớn hơn nó đến ba bốn tuổi, hầu hết đều lớn hơn nó. Tôi biết nó đến quán rượu và được phục vụ quá dễ dàng, tôi không thích thế. Tôi thường nói với nó, nhưng nó cho tôi là khó tính, cuối cùng tôi đành chịu thua.
- Có khi nào cô ấy nói đến một người tên là Andrew Handley không?
- Không.
- Thế tên Andy Pandy?
- Có phải đây là chuyện đùa không? Hắn là ai?
- Không đùa đâu. Đây là bí danh. Hắn là đồng nghiệp với Emily đã cùng sống ở Luân Đôn.
- Chưa bao giờ nghe nói đến. - Rosalind đáp. Bà vói tay rút cái khăn giấy trong hộp để trên bàn rồi hỷ mũi vào đấy: - Tôi xin lỗi! - Bà nói lầm bầm: - Xin tha lỗi cho tôi!
Ông Riddle đến gần bà, để tay lên vai bà, nhưng với vẻ ngần ngại chứ không nồng ấm lắm. Đáp lại, người bà Rosalind sượng ra. Rồi bà quay mặt đi, Banks cảm như mình thoáng thấy có cái gì đó trong mắt bà khi bà quay mặt đi - có lẽ sự lo sợ hay bối rối.
Phải chăng bà nghi ngờ chồng có dính líu đến cái chết của Emily? Hay là ông che chở cho bà? Dù gì đi nữa thì tình cảm gia đình Riddle cũng đáng thất vọng thật.
- Thưa bà Riddle, Emily có nói cho bà biết về dự định trong tương lai của cô ấy không? - Banks hỏi, ông đổi đề tài phỏng vấn sang một vấn đề mà ông nghĩ có thể nhẹ nhàng dễ chịu cho bà ta hơn.
- Nó chỉ nói nó muốn thi bằng A để vào đại học. - Bà Rosalind đáp, mắt vẫn nhìn vào cái khăn giấy: - Nó thích học ở Mỹ. Tôi thấy nó muốn đi xa khỏi đây và xa chúng tôi.
Xa mặt cách lòng, Banks nghĩ. Và để khỏi làm ảnh hưởng đến sự nghiệp chính trị còn non trẻ của ông Riddle, mặc dù cô không gây thiệt hại gì trầm trọng cho ông ta. Banks nhớ lần đầu tiên ông đến đây khi vợ chồng Riddle yêu cầu ông đi Luân Đôn tìm cô, ông đã có cảm giác bà Rosalind không muốn cô về nhà. Bây giờ ông cũng có cảm giác ấy.
- Đương nhiên tôi bằng lòng. Thế còn tốt hơn là để nó chạy đến Luân Đôn sống với thằng... tôi không biết tên hắn... thằng buôn bán ma tuý.
- Tôi không biết hắn có buôn bán ma tuý không! - Banks nói: - Thực ra thì Emily quả quyết hắn không buôn bán ma tuý, và tôi thấy tôi tin lời cổ.
- Đấy, Emily luôn luôn có tài làm cho đàn ông nghe theo lời nó.
- Clough thì không. Cô ấy đã gặp đối thủ ở đấy.
- Ông tin hắn phải chịu trách nhiệm về việc này à? - Ông Riddle hỏi.
- Ồ, vâng. Tôi có cảm giác hắn ta là kẻ nguy hiểm và hắn không thích đối mặt với ai hết.
- Mà sao hắn muốn hại nó? Hắn không biết lý do gì hết.
- Tôi không biết. - Banks đáp: - Tôi chỉ nói với ông rằng tôi đã gặp hắn, tôi tin hắn đang làm ăn phi pháp. Có lẽ hắn giết cô ấy để che giấu tung tích. Có lẽ hắn nghi cô ấy biết nhiều về công việc làm ăn của hắn. Có khi nào cô ấy nói cho ông nghe về hắn không?
- Không. Anh định làm gì hắn? - Riddle hỏi.
- Ngày mai tôi sẽ đi Luân Đôn. Nhưng trước khi đi, tôi muốn tìm ở đây xem thử có thêm vài dấu hiệu gì tôi phải theo dõi không? - Banks ngừng lại một lát: - Tôi cũng xin báo cho ông biết, vào hôm Emily chết, tôi có ăn trưa với cô ấy, và...
- Anh nói sao?
- Cô ấy điện thoại đến mời tôi ăn trưa với cổ, cổ nói cổ đang ở tại Eastvale. Cô muốn cám ơn tôi.
- Nó không nói cho chúng tôi biết. - Riddle nói, nhìn bà Rosalind, bà cau mày.
- Đúng thôi, bà nhà đã nói cô ấy rất kín đáo và vì thế có lẽ câu hỏi sau đây của tôi chỉ mất thì giờ thôi, nhưng khi cổ đi gặp người nào đấy. Thế cổ có nói với ai trong hai ông bà chiều hôm đó cổ sẽ gặp ai ở Eastvale này không?
Cả hai đều lắc đầu. Bà Rosalind hỏi:
- Nó có nói với ông không? Nó có nói gì không?
- Nói về cái gì?
- Tôi không biết. Về điều có thể giúp cho ông hiểu rõ chuyện xảy ra.
- Cô ấy chỉ nói cổ tin là cổ đã thấy một tên làm việc với Clough ở Eastvale. Tôi nghĩ chắc cổ không nói cho bà biết?
- Không! - Bà Rosalind đáp.
- Hôm qua cô ấy gặp bà lần chót là khi nào?
- Chúng tôi không gặp. - Riddle trả lời: - Buổi sáng Ros và tôi đi làm việc lâu nó mới dậy, và khi chúng tôi về thì nó đã đi rồi.

