Người đưa tin - Phần 2 - Chương 20
Chương 20
Luân Đôn
Bức tranh Marguerite Gachet
đến trước Zizi, nó nằm trong thùng sau xe tải nhỏ, được ngụy trang cẩn thận, do
một tài xế chuyên nghiệp lái đến từ ga Luân Đôn. Rồi nó được bí mật chuyển vào
phòng tranh Isherwood thông qua khu bốc dỡ hàng hóa an toàn. Có hai gã thuộc
đội bảo vệ của Wazir bin Talal theo dõi việc vận chuyển. Hai gã này yên vị trên
một chiếc xe hơi đậu tại đường Duke, chính Jafar Sharuki, cận vệ cao cấp, cũng
đang ngồi nhấm nháp món khoai tây chiên tại một quán bar cạnh phòng tranh của
Isherwwod. Thư điện tử xác nhận tranh đã vận chuyển đến nơi an toàn được nhóm
đặc vụ gửi đến nhà Surrey vào lúc 3 giờ 18 phút chiều. Dina nhận thư, và đọc
thành tiếng cho Gabriel nghe. Lúc này anh đang đi đi lại lại trên tấm thảm cũ
rích trải trong phòng khách. Thi thoảng anh ngừng bước, nghiêng đầu như đang
lắng nghe tiếng nhạc văng vẳng từ xa, rồi lại tiếp tục cuộc hành trình đi tới đi
lui trong phòng khách.
Trong Gabriel là cảm giác bất
lực của một nhà viết kịch của đêm chính thức mở màn. Anh đã tạo ra nhân vật,
diễn tập lời thoại với họ và sắp chứng kiến họ biểu diễn trên sân khấu. Đó là
Isherwood trong trang phục đen sọc trắng với cà vạt đỏ may mắn của mình, anh ta
uống nước và tranh thủ nhấm nháp móng tay ngón trỏ trái để giảm căng thẳng.
Chiara ngồi sau mặt bàn gương bóng loáng, tóc búi cao, chân bắt chéo, còn
Sarah, thanh lịch với bộ trang phục Chanel đen mua ở cửa hàng Harrods trước đó
hai tuần, ngồi thẳng trên trường kỷ trong phòng trưng bày trên lầu. Cô đăm đăm
nhìn bức họa Maguerite Gachet nhưng tâm trí lại nghĩ đến tên hung thần sắp sửa
bước ra khỏi thang máy trong hai tiếng nữa. Nếu anh có thể phân lại vai diễn,
có thể đó sẽ là vai của Sarah. Nhưng bây giờ thì đã quá trễ, sắp đến giờ mở màn
rồi.
Cho nên, thay vì thế, nhà
soạn kịch bất đắc dĩ của chúng ta đành phải đi đi lại lại trong lòng, nôn nóng
chờ đợi thông tin cập nhật. Vào lúc 3 giờ 4 phút, chiếc phi cơ 747 của ngài Baker
hạ dần cánh xuống sân bay, ngài Baker ở đây chính là bí danh cho Zizi
al-Bakari. Lúc 3 giờ 32 phút, ngài Baker và đoàn tùy tùng làm xong thủ tục hải
quan. Lúc 3 giờ 45 phút, họ leo lên những chiếc limousine đang đợi sẵn, 3 giờ
52 phút: xe bon bon lăn bánh trên quốc lộ A4. Lúc 4 giờ 9 phút cố vấn nghệ
thuật của ngài Baker, với bí danh là Marlowe, từ đoàn xe hộ tống, gọi điện
thoại cho Isherwood báo rằng xe đến trễ vài phút. Tuy vậy, mọi việc có vẻ tiến
triển thuận lợi, vì vào lúc 4 giờ 27 phút, người ta đã thấy đoàn xe hộ tống từ
quảng trường Piccadilly rẽ vào đường Duke. Đúng lúc đó, lộn xộn bắt đầu xảy ra,
phần lỗi thuộc về đoàn xe của Zizi. Chuyện xảy ra là do chiếc limousine cố rẽ
vào con đường chật hẹp Mason’s Yard. Thế nhưng chỉ đi được một đoạn ngắn, tài
xế đành phải dừng chiếc xe cồng kềnh lại. Có lẽ do anh bạn cận vệ Sharuki đã
tính toán không chính xác phạm vi lòng đường. Đó cũng là lúc Gabriel nhận một
thông điệp từ nhóm tình báo của anh rằng ngài Baker, Chủ tịch Hội đồng quản trị
kiêm Giám đốc công ty Jihad, sẽ phải bước ra ngoài xe và cuốc bộ vào phòng
tranh.
Sarah không thể kiên nhẫn
ngồi chờ trong phòng trưng bày trên lầu được nữa, cô nhảy xuống lầu dưới, nơi
là phòng làm việc của cô và Julian, ghé mắt quan sát khung cảnh đang diễn ra
trên đoạn đường trước phòng tranh. Đây cũng là hành vi chống đối mệnh lệnh đầu
tiên của cô, vì rằng Gabriel đã yêu cầu cô phải ở yên vị trí trên lầu, không
được phép lộ mặt cho đến phút chót. Theo kế hoạch, sự xuất hiện của cô sẽ đồng
thời với việc vén màn bức tranh Marguerite. Cô sẽ tuân theo mệnh lệnh, thế
nhưng điều đó chỉ xảy ra sau khi cô được tận mắt diện kiến dung nhan Zizi.
Sarah đã nghiên cứu nhân dạng của Zizi qua những bức ảnh Yossi đưa cho cô lúc
trước, cô ghi nhớ tiếng nói của hắn trên video. Nhưng rõ ràng những cái đó
không sống động bằng hình ảnh thật. Đó lý do khiến cô cãi lại mệnh lệnh, xuống
quan sát Zizi và đoàn tùy tùng của hắn lần lượt tiến vào khu vực sân phòng
tranh.
Dẫn đầu đoàn là Rafiq
al-Kamal, trưởng nhóm cận vệ của Zizi. Ngoài đời, trông hắn kềnh càng hơn trong
hình, nhưng di chuyển nhanh nhẹn y như người bằng nửa kích thước của hắn. Hắn
không mặc áo khoác, vì áo khoác sẽ cản trở hành động rút súng tự vệ. Rafiq
al-Kamal là kẻ vô lương tâm, Eli Lavon từng miêu tả về hắn như thế. Còn lúc này,
hắn đảo mắt quan sát xung quanh khoảnh sân, theo cái cách người hướng đạo sinh
dò tìm kẻ thù, rồi quay đầu, ra dấu an toàn theo ước định để đoàn người phía
sau tiếp bước.
Kế đến là hai cô nàng cực kỳ
xinh đẹp trong bộ áo khoác dài, tóc xoã đen tuyền, vẻ mặt cáu kỉnh vì phải lội
bộ cả đoạn đường gần 50 mét từ chiếc xe hơi sang trọng vào phòng tranh. Cô nàng
bên phải chính là Nadi al-Bakari, con gái cưng của Zizi, còn bên trái là
Rahimah Hamza, con gái của Daoud Hamza, người Li-băng, từng tốt nghiệp Đại học
Standford danh tiếng, hiện là quản lý tài chính tài ba của Tập đoàn AAB. Chính
Hamza, cha cô ta đang đi sau vài bước, tay cầm điện thoại, chăm chú lắng nghe.
Tiếp theo là Herr Manfred
Wehrli, Giám đốc ngân hàng Thụy Sĩ, nơi nắm giữ tiền của Zizi. Đi cạnh Wehrli
là một chú nhóc, không rõ con cái nhà ai, và ngay sau chú ta, là hai cô nàng
cũng không kém phần xinh đẹp, một cô với mái tóc vàng óng ả, còn cô kia thì tóc
ngắn, màu hạt dẻ. Khi chú nhóc bất thình lình nghịch ngợm nhảy sang hướng khác,
thì ngay lập tức bị chặn lại bởi người đàn ông có cái tên Jean-Michel, với động
tác cực kỳ nhanh nhẹn. Hắn là một võ sỹ người Pháp, hiện là huấn luyện viên
riêng kiêm cận vệ thân tín của Zizi.
Thứ nữa là Abdul-Jalil và
Abdul-Hakim, hai luật sư được đào tạo bài bản ở nước Mỹ. Yossi từng tạm dừng
bài huấn luyện nửa chừng chỉ để mỉa mai rằng Zizi cố tình chọn ra hai luật sư
riêng với cái tên có thể dịch nôm na là: Tôi tớ của Vĩ nhân và Tôi tớ của nhà
thông thái. Kế đến là Mansur, Giám đốc điều hành du lịch, Hansan, Giám đốc
truyền thông, Andrew Malone, cố vấn nghệ thuật sắp hết nhiệm kỳ của Zizi. Cuối
cùng, ngài Zizi cũng xuất hiện, được hai cận vệ khác là Wazir bin Talal và
Jafar Sharuki hộ tống nghiêm ngặt.
Sarah ngưng quan sát, quay
người đứng dậy. Chiara dõi theo cho đến lúc Sarah bước vào thang máy và nhấn
nút di chuyển lên tầng trên cùng của tòa nhà. Một thoáng sau, cô đã yên vị
trong phòng trưng bày, và ngay giữa phòng là bức tranh Van Gogh được phủ màn,
nằm trên giá đỡ. Tiếng bước chân thình thịch của Rafig vang lên ở đầu cầu
thang.
Cô không được nghĩ rằng hắn
là một tên khủng bố, Gabriel đã căn dặn như vậy. Cô không được tự hỏi liệu tiền
của hắn có nằm trong túi Marwan al-Shehhi hay có chi trả cho bất cứ tên khủng
bố nào đã giết hại Ben hay không. Cô phải xem hắn là người đàn ông của sự giàu
có và quyền lực. Đừng ve vãn, đừng dụ dỗ, mà hãy xem đó chỉ đơn thuần là một
cuộc phỏng vấn. Cô sẽ không lên giường với hắn, mà cô sẽ làm việc cho hắn. Và
cho dù cô làm gì đi chăng nữa, cũng không nên đưa ra bất kỳ lời khuyên nào, vì
hành động đó sẽ làm hỏng vụ giao dịch cũng như các nhiệm vụ tiếp theo.
Cô nhìn lại hình dáng mình
phản chiếu trong cánh cửa thang máy. Cô cảm nhận mình khác đi so với vẻ bề
ngoài, vẫn với cái tên Sarah Bancroft, nhưng là một phiên bản khác, như là tác
phẩm phục chế lại của cùng một bức tranh. Cô vuốt thẳng bộ đồ hiệu Chanel, và
tự nhủ mình không vì Zizi, mà vì Gabriel. Và cô nghe văng vẳng từ phía dưới
lầu, lần đầu tiên, giọng của quái nhân. “Chào ông Isherwood”, ngài Chủ tịch Hội
đồng quản trị kiêm Giám đốc điều hành của Tập đoàn Jihad nói. “Tôi tên là Abdul
Azizal-Bakari. Andrew bảo tôi anh có một bức tranh hay hay dành cho tôi”.
Chuyến thang máy đầu tiên chỉ
toàn những tên cận vệ. Rafig tiến thẳng vào phòng, dò xét cô từ đầu đến chân,
trong khi Shakuri săm soi dưới trường kỷ xem có vũ khí bí mật nào giấu ở đó hay
không. Võ sĩ Jean-Michel thì nện gót giày thình thịch rảo quanh căn phòng giống
như một vũ sư ba lê chính hiệu. Chuyến thang máy kế tiếp là của Malone và
Isherwood, cặp đôi này có vẻ vui sướng bên cạnh hai người đẹp Nadia và Rahimah.
Cửa thang máy xịch mở lần nữa, lần này là ông chủ Zizi và bin Talal - cận vệ
thân tín nhất. Thân hình béo phị được khéo léo che dấu bởi bộ quần áo màu sẫm,
bộ râu tỉa tót cẩn thận, cùng với cái đầu hói cũng được chăm sóc không kém phần
tỉ mỉ. Đôi mắt tinh ranh và nhanh nhẹn lập tức hướng tầm nhìn về phía người xa
lạ duy nhất trong phòng.
Cô đừng mất công tự giới
thiệu mình làm gì, Sarah ạ. Mà cũng đừng nhìn thẳng vào mắt hắn. Nếu cần phải
có cử chỉ điệu bộ gì, nên để Zizi bộc lộ trước.
Sarah nhìn xuống chân. Cánh
cửa thang máy lại xịch mở, hai tên Abdul và Abdul, những tôi tớ của Chủ nhân
thông thái xuất hiện cùng lúc với Herr Wehrli - cái bị tiền Thụy Sĩ. Sarah nhìn
họ, rồi liếc mắt nhìn Zizi, lúc ấy vẫn đang chăm chú quan sát cô.
“Xin thứ lỗi cho tôi, thưa
ngài al-Bakari”, Isherwood mở lời. “Hôm nay, tôi không được chu đáo lắm. Đây là
cô Sarah Bancroft, trợ lý Giám đốc của công ty. Sarah đã giúp chúng ta có được
buổi hội ngộ hôm nay”.
Đừng bắt tay lâu với hắn. Nếu
hắn có bắt tay với cô, thì chỉ bắt nhẹ, rồi thả tay ra ngay.
Sarah đứng thẳng, tay để sau
lưng, mắt vẫn nhìn xuống. Cô cảm nhận được ánh mắt của Zizi. Cuối cùng hắn tiến
về phía trước và chìa tay ra “Chào cô, rất hân hạnh được gặp cô”. Sarah nghe
thấy mình thốt lên. “Tôi cũng rất hân hạnh, thưa ngài al-Bakari”.
Zizi mỉm cười và nắm tay cô
lâu hơn mức cần thiết, thế rồi, hắn đột ngột buông tay và đi về phía bức tranh.
Sarah quay lại, quan sát hắn từ phía sau, cô nhận thấy một bờ vai hẹp không
tương xứng với vòng eo khá rộng. “Tôi rất muốn xem tranh”, hắn cất lời, không
rõ dành cho ai. Sarah chợt nhớ tới lời Gabriel.
Hãy để của Zizi tự dẫn dắt
mọi việc. Nếu cô bắt hắn ngồi nghe câu chuyện cả buổi thì chỉ tổ làm hắn nổi
điên. Hãy nhớ rằng ngôi sao của vở diễn là Zizi chứ không phải bức tranh mà hắn
ta muốn mua.
Sarah tiến lên phía trước,
khéo léo không để chạm vai Zizi, và bắt đầu tháo tấm vải choàng xuống. Cô làm
công việc này một cách tỉ mỉ, kéo dài thời gian đứng trước bức tranh, che tầm
nhìn của Zizi trước khi để bức tranh lộ diện. “Tôi xin giới thiệu với ngài bức
tranh Thiếu nữ Marguerite Gachet tại bàn trang điểm của danh họa Vincent Van
Gogh”, cô trịnh trọng tuyên bố và tiếp lời. “ Tranh làm từ chất liệu sơn dầu,
được vẽ tại Auvers vào tháng 7 năm 1890”.
Những tiếng trầm trồ thán
phục vang lên từ phía đám tùy tùng của Zizi, chỉ mình hắn là im lặng. Cặp mắt
đen u ám của hắn đảo quanh trên bức tranh, vẻ mặt kín bưng. Một lát sau, hắn
thôi không chú ý bức tranh nữa mà quay sang Isherwood.
“Anh bạn tìm thấy bức tranh ở
đâu vậy?”
“Tôi ước gì mình đã làm điều
ấy, thưa ngài al-Bakari kính mến, nhưng chính cô Sarah đây mới là người khám
phá ra nó”.
Zizi chuyển hướng sang Sarah.
“Là cô à?”. Giọng hắn có chút thán phục.
“Vâng, thưa ngài al-Bakari”.
“Vậy thì tôi xin hỏi lại điều
tôi đã hỏi Isherwood nhé. Cô tìm thấy tranh ở đâu vậy?”
“Như những gì ông Malone đã
biết, chủ nhân bức tranh không muốn được nêu tên”.
“Tôi không hỏi về chủ nhân,
tôi chỉ muốn biết làm thế nào cô tìm ra nó mà thôi”.
Cô phải cho hắn biết điều gì
đó, Sarah ạ. Hắn có quyền được biết, nhưng hãy tỏ vẻ do dự và bí ẩn, vì hắn là
loại người thích được khám phá.
“Đó là kết quả tìm tòi công
phu trong vài năm của tôi, thưa ngài”.
“Hay lắm! Cho tôi biết thêm
được chứ, cô Bancroft”.
“Tôi e rằng tôi không thể nói
thêm gì, vì như thế sẽ vi phạm sự thỏa thuận giữa tôi và những chủ nhân, thưa
ngài al-Bakari”.
“Một chủ nhân chứ nhỉ”, Zizi
sửa lời cô. “Andrew cho tôi biết, bức tranh là sở hữu của một phụ nữ người
Pháp”.
“Đúng vậy thưa ông, nhưng tôi
chỉ có thể khẳng định đến thế mà thôi”.
“Nhưng tôi vẫn hết sức tò mò
về việc làm sao cô lại tìm ra bức tranh”. Hắn khoanh tay trước ngực và tiếp.
“Tôi thích nghe truyện trinh thám lắm”.
“Tôi rất muốn làm ông hài
lòng, nhưng tôi không thể. Tuy vậy tôi có thể cho ông biết rằng tôi đã mất hai
năm đi tìm bức tranh này ở Pháp và Auvers, thêm một năm nữa mới thuyết phục
được chủ nhân nhượng lại nó cho tôi”.
“Có thể một ngày nào đó, khi
ta đã biết nhau nhiều hơn, tôi sẽ có hân hạnh được nghe cô kể về câu chuyện lý
thú ấy”.
“Tôi cũng mong vậy, thưa
ngài”, cô trả lời. “Riêng về nguồn gốc của bức tranh, chúng tôi xin khẳng định
chắc chắn đây chính là nguyên tác của danh họa Vincent, và chúng tôi có đủ giấy
tờ chứng thực điều này”.
“Đương nhiên tôi rất vui nếu
được xem qua giấy chứng nhận, cô Bancroft ạ, nhưng thật tình mà nói, tôi cũng
không nhất thiết phải làm điều đó. Cô thấy đấy, đây rõ ràng là tác phẩm của Van
Gogh”. Nói đoạn hắn đặt tay lên vai Sarah. “Cô lại đây”, giọng hắn đầy vẻ trìu
mến. “Tôi sẽ cho cô xem cái này”.
Sarah tiến lại gần. Zizi chỉ
tay vào góc trái bức tranh.
“Cô nhìn thấy vết nhỏ trên bề
mặt tranh chứ? Nếu tôi không lầm, đó là dấu tay của Vincent. Vicent nổi tiếng
cẩu thả về việc bảo quản tác phẩm của mình. Khi hoàn thành bức tranh này, rất
có thể ông đã cầm vào phía trên bức tranh để đưa nó từ Auvers về phòng tranh
riêng ở nhà nghỉ Café Ravoux. Căn phòng lúc nào cũng chất đầy tranh, tranh chất
quanh tường, tấm này chồng lên tấm kia. Ông ta vẽ nhanh đến nỗi có khi bức này
chưa khô là đã để bức khác lên trên. Vì vậy, nếu quan sát kỹ cô sẽ thấy rất
nhiều vết cọ xát trên bề mặt tranh”.
Tay hắn vẫn đặt trên vai
Sarah.
“Rất ấn tượng, thưa ngài
al-Bakari. Nhưng tôi không ngạc nhiên về điều này, tài thẩm tranh của ông đã
vang lừng trước khi tôi gặp ông”.
“Tôi nhận ra rằng một người
đàn ông ở vị trí quan trọng như tôi không thể chỉ dựa vào lời của người khác.
Phải luôn cảnh giác với những mưu mô, gian kế lọc lừa. Và tôi tự tin rằng đến
tận bây giờ, không có ai có thể qua mặt tôi, trong kinh doanh cũng như trong
nghệ thuật”.
“Chỉ có kẻ ngốc mới làm như
vậy, thưa ngài al-Bakari”.
Zizi quay sang Isherwood và
nói tiếp. “Anh bạn có vẻ có duyên với những bức tranh chưa được công bố bao giờ
nhỉ. Tôi cũng từng nghe đồn anh khám phá ra bức Ruben, có đúng thế không?”
“Vâng, đúng vậy”.
“Và bây giờ là đến lượt tranh
của Van Gogh”. Rồi hắn quay lại nhìn bức tranh. “Andrew bảo ông đã đưa ra giá
bán rồi”.
“Chúng tôi nghĩ giá đó hoàn
toàn hợp lý thưa ngài”.
“Tôi cũng nghĩ vậy”. Hắn đưa
mắt về phía Herr Wehrli, Giám đốc ngân hàng. “Manfred này, trong tài khoản của
tôi có đủ tám mươi lăm triệu không?”
“Đủ đấy, Zizi”.
“Vậy là chúng ta có thể tiến
hành giao dịch, ông Isherwood”. Hắn quay sang nhìn Sarah và nói. “Tôi sẽ đưa
Marguerite đi”.
Vào lúc 4 giờ 53 phút, nhóm
đặc vụ báo cho Gabriel biết rằng việc mua bán đang được tiến hành tại khu văn
phòng bên dưới. Isherwood đang thảo luận với Herr Wehrli và Abdul & Abdul
về các phương thức thanh toán và chuyển khoản. Cuộc thương lượng kéo dài một
giờ đồng hồ, và lúc 6 giờ 5 phút, ngài Baker cùng đoàn tùy tùng băng qua khoảng
sân đến nơi đỗ xe trên đường Duke. Lần này, đến lượt Eli Lavon bám theo đoàn.
Lúc đầu, có vẻ như đích đến của đoàn người là Mayfair, nhưng vào lúc 6 giờ 15
phút, ngài Baker và những người hộ tống chuyển hướng sang Heathrow để đến một
nơi không xác định. Gabriel ra lệnh cho Lavon ngưng theo dõi. Bây giờ anh chẳng
quan tâm họ sẽ đi đâu, vì anh biết sẽ sớm gặp lại họ.
Đoạn băng ghi hình được
chuyển đến lúc 7 giờ 45 phút. Nó được ghi lại băng máy camera bảo vệ gắn ở góc
trên phòng trưng bày. Khi Gabriel xem băng, anh có cảm giác như mình đang ngồi
ở hàng ghế cao và quan sát sân khấu.
“Đây là cô Sarah Bancroft,
trợ lý Giám đốc của công ty. Sarah đã giúp chúng ta có được buổi hội ngộ hôm
nay…”.
“Vậy là chúng ta có thể tiến
hành giao dịch, ông Isherwood. Tôi sẽ đưa Marguerite đi”.
Gabriel dừng đoạn băng và
nhìn Dina. Cô lên tiếng. “Anh đã bán cho hắn một cô gái, bây giờ chuẩn bị thêm
một cô nữa”.
Gabriel mở lại băng ghi âm
cuộc nói chuyện giữa Isherwood và Andrew Malone.
“Đó không phải là tiền của
Zizi. Đó là tiền của tôi. Zizi không biết được, khuất mắt trông coi mà”.
“Lỡ ông ta biết thì sao? Ông
ta sẽ đày anh đến thung lũng cát Empty Quarter rồi để mặc anh cho lũ kền kền
phanh thây”.

