Người đưa tin - Phần 2 - Chương 18 phần 1
Chương 18
Luân Đôn
Vào thứ tư đầu tiên của năm
mới, người ta loan tin phòng tranh Isberwood đã bán bức Daniel trong chuồng sư
tử của Peter Paul Rubens với giá mười triệu bảng. Đến thứ sáu, thông tin chấn
động này đã bị lu mờ bởi lời đồn đại Isherwood đang chuẩn bị giới thiệu người
hùn vốn.
Chính Oliver Dimbleby, khắc
tinh của Isherwood ở đường King, là người biết tin này đầu tiên, mặc dù sau đó
anh ta cũng không thể nào tìm ra nguồn gốc của tin đồn. Theo anh ta nhớ chính
Penelope, bà chủ quán bar gợi cảm ở đường Jermyn nơi Isherwood hay ghé qua
trong những buổi trưa nhàn rỗi là người đầu tiên gieo rắc mầm mống tin đồn. “Cô
ta tóc vàng”, Penelope nói. “Vàng tự nhiên, Oliver. Không giống những cô gái của
cậu. Xinh đẹp. Người Mỹ có một chút giọng Anh”. Ban đầu Penelope nghi ngờ
Isherwood đang bị một người phụ nữ trẻ tuổi hơn dụ dỗ, nhưng chẳng bao lâu sao
cô ta nhận ra rằng đó chỉ là một người đến dự phỏng vấn xin việc. “Không phải
là bất cứ công việc nào đâu, Oliver. Hình như là vụ gì lớn lắm”.
Có lẽ Dimbleby đã không nghĩ
nhiều về chuyện này nếu không được nghe kể về cuộc gặp mặt lần thứ hai, lần này
là từ Percy, một người hóng chuyện nổi tiếng phục vụ bàn trong phòng ăn sáng
của khách sạn Dochester. “Họ chắc chắn không phải là tình nhân”, anh ta bảo
Dimbleby với vẻ tự tin của người biết mình đang nói gì. “Họ toàn bàn chuyện về
lương và quyền lợi. Họ tranh cãi rất nhiều. Cô ấy đang ra yêu sách đấy”.
Dimbleby giúi cho Percy 10 bảng hỏi anh ta có nghe được tên của người phụ nữ
không. “Bancroft”, Percy trả lời. “Sarah Bancroft. Đã ở hai đêm. Hoá đơn thanh
thoán được phòng tranh Isherwood, ở Mason’s Yard, khu đường James trả toàn bộ”.
Lần gặp nhau thứ ba, một bữa
tối ấm cúng tại Mirabelle, khiến Dimbleby khẳng định chắc chắn có chuyện bất
thường đang diễn ra. Buổi tối hôm sau anh ta tình cờ gặp Jeremy Crabbe, Giám
đốc bộ phận Bậc thầy Thời xưa của Bonhams, tại một quán rượu ở nhà hàng Green.
Crabbe đang uống một ly whiskey lớn và vẫn đang gặm nhấm nỗi đau mà vụ mua bán
lịch sử của Isherwood gây ra. “Tôi đã có bức Rubens đó, Oliver, nhưng Julie
chơi tay trên tôi. Bây giờ hắn giàu thêm mười triệu, còn tôi sắp phải đối mặt
với đội bắn súng tử hình lúc bình minh. Hiện tại hắn đang mở rộng làm ăn kinh
doanh, thậm chí còn tuyển thêm một nhân viên xinh đẹp, theo như những gì tôi
nghe được. Nhưng đừng nói lại với ai những lời tôi nói, chỉ tổ gây hiềm khích
mà thôi”. Khi Dimbleby hỏi có phải nhân viên mới xinh đẹp của Isherwood là một
phụ nữ tên là Sarah Bancroft, Crabbe nhếch mép. “Chuyện gì cũng có thể xảy ra,
tình yêu ạ. Nên nhớ rằng chúng ta đang nói về Julie Isherwood Số Đỏ”.
Trong vòng bốn mươi tám tiếng
sau đó Oliver dành thời gian dư dả của mình để nghiên cứu lai lịch của cô Sarah
Bancroft nọ. Bạn nhậu ở khoa Courtauld mô tả cô là “Sao băng”. Anh ta còn kể
một người quen ở Harvard bảo rằng ai có thái độ nghiêm túc với đề tài hoạ sĩ
biểu hiện Đức thì nên tìm đọc luận văn của cô. Sau đó, Dimbleby gọi điện cho
người bạn cũ làm nghề phục chế các bức họa ở phòng triển lãm Nghệ thuật Quốc
gia Washington, nhờ dò la tại bảo tàng Phillips về lí do Sarah Cooft nghỉ làm
việc ở đấy. Anh bạn này bảo là do tranh cãi về tiền lương. Hai ngày sau anh ta
gọi điện lại cho Dimbleby bảo là do có liên quan đến chuyện yêu đương không
thành với người trong bảo tàng. Cú điện thoại thứ ba thông báo Sarah Bancroft
rời bảo tàng Phillips trong vui vẻ, và động cơ cô rời chỗ làm là do mong muốn
có được một cơ hội việc làm tốt hơn. Còn về cuộc sống cá nhân, ý muốn nói tình
trạng hôn nhân, thì cô vẫn độc thân nhưng không quen ai.
Điều này khiến một thắc mắc
mới nảy sinh: Tại sao Isherwood lại đột nhiên tìm người hùn vốn? Jeremy Crabbe
bảo nghe đồn anh ta bị ốm. Roddy Hutchinson bảo nghe đồn anh ta có khối u to
bằng trái dưa mật trong bụng. Penelope, bà chủ quán bar Isherwood hay ghé, bảo
nghe đồn anh ta đang yêu một quý bà người Hy Lạp, đã ly dị và rất giàu có, và
đang lên kế hoạch sống nốt quãng đời còn lại với người phụ nữ trời ban này tại
một bãi biển ở Mykonos. Mặc dù những lời đồn đại này khá vui tai, nhưng
Dimbleby nghi ngờ sự thật đơn giản hơn nhiều. Julian đang già đi. Julian đang
mệt mỏi. Julian vừa mới làm xong một vụ ngon ăn. Tại sao không nhận người nào
đó làm cùng với mình để giúp giảm nhẹ gánh nặng?
Ba ngày sau, những nghi ngờ
của anh ta được củng cố khi một mẩu tin nhỏ cuối trang nghệ thuật của tờ Times
thông báo rằng Sarah Bancroft, trước đây làm cho bảo tàng Phillips ở
Washington, sẽ vào làm cho phòng tranh Isherwood với chức trợ lí Giám đốc đầu
tiên của nơi này. “Tôi đã làm nghề tranh được 40 năm”, Isherwood trả lời tờ
Times. “Tôi cần người chung lưng đấu cật, và các thiên thần gửi Sarah cho tôi”.
Ngày thứ hai tuần tiếp theo,
Sarah Goft đến làm việc. Thật trùng hợp, Oliver Dimbleby đang đi trên đường
Duke đúng lúc cô quẹo vào con đường dẫn đến Mason’s Yard. Hôm ấy cô bận áo
khoác hiệu Burberry, mái tóc vàng óng ả mượt như sa tanh được cột lại sau lưng.
Thoạt đầu Oliver không nhận ra cô là ai, nhưng sự nhạy cảm với nhan sắc không
cho anh bỏ qua dễ dàng. Anh ta ngoảnh cổ ngoái nhìn theo cô. Trước sự ngạc
nhiên của Oliver, cô đi về hướng phòng tranh Isherwood ở góc xa của khu đất.
Ngày đầu tiên làm việc cô phải bấm chuông, và sau hai phút tưởng như vô tận mới
thấy Tanya, cô thư ký thờ ơ của Isherwood ra mở cửa. Đây chính là lễ kết nạp
của Tanya đối với người mới đến, Dimbleby thầm nghĩ. Anh ta cũng đoán là Tanya
sẽ bị đuổi việc trước thứ sáu.
Sarah gây ảnh hưởng ngay lập
tức. Sarah là cơn gió lốc. Sarah là luồng gió tươi mát rất cần thiết. Sarah là
tất cả mọi thứ Isherwood không có: nhanh nhẹn, có tổ chức, có kỷ luật, và dĩ
nhiên là rất Mỹ. Mỗi buổi sáng cô đến phòng tranh lúc 8 giờ. Isherwood, người
thường bước vào nơi làm việc lúc 10 giờ theo phong cách Ý, cũng bắt đầu điều
chỉnh giờ đi làm cho phù hợp. Cô sắp xếp những quyển sách vứt bừa bãi của anh
cho ngăn nắp, và trang trí lại phòng làm việc chung của họ. Cô thay những chữ
cái bị mất trên bộ đàm và cả tấm thảm đầy bụi trên cầu thang. Sau đó, cô bắt
đầu thanh lý đống hàng tồn kho, và thương lượng êm thấm với cô Archer đang làm
việc tại đại lí du lịch ế ẩm để mở rộng văn phòng liền kề. “Cô ta là người Mỹ”,
Dimbleby nói. “Về bản chất cô ta là người thích mở rộng. Cô ta sẽ chiếm đất
nước của người khác rồi nói rằng mình làm điều này vì lợi ích của người đó”.
Thực tế thì Tanya không thể
trụ nổi đến thứ sáu. Cô ta rời khỏi phòng tranh lần cuối vào tối thứ tư. Đích
thân Sarah xử lý việc ra đi của cô ta và khiến nó êm thấm một cách bất thường
so với thông lệ xưa nay tại phòng tranh Isherwood. Sự đền bù cho nghỉ việc làm
đã hài lòng cô gái. “Theo tôi biết thì Tanya được đền bù rất rộng rãi”,
Dimbleby nói. “Số tiền đó đủ để cho phép cô ta đi nghỉ đông dài ngày ở
Morocco”. Vào thứ hai tuần sau đã xuất hiện một cô gái mới ngồi làm việc tại
phòng tiếp tân của Isherwood. Đó là một người phụ nữ cao ráo, da bánh mật, mái
tóc đen bồng bềnh và đôi mắt màu caramel, tên là Elena Frames. Một cuộc thăm dò
nhỏ do Roddy Hutchinson thực hiện cho thấy, theo ý kiến của những người đàn ông
ở đường James, cô ấy còn xinh đẹp hơn Sarah vốn là người đang thu hút nhiều sự
chú ý. Cái tên “phòng tranh Isherwood” bỗng có một ý nghĩa mới đối với những
người sống trên đường Duke, và phòng tranh trở nên đông khách hơn, nhộn nhịp
hơn. Thậm chí, ngay cả Jeremy Crabbe bên nhà đấu giá Bonhams cũng thực hiện
những cuộc viếng thăm không báo trước để xem bộ sưu tập của Isherwood.
Sau khi củng cố lại phòng
tranh của mình, Sarah bắt đầu làm quen với những người cùng nghề. Cô chính thức
hẹn gặp những người có vai trò như ánh đèn dẫn đường tại các nhà đấu giá ở Luân
Đôn. Cô ăn trưa với các nhà sưu tập những bữa trưa đắt tiền, sau đó lại nhâm
nhi riêng với những người tư vấn và đủ loại bạn bè ăn theo của họ. Cô ghé thăm
và chào hỏi các phòng tranh đối thủ của Isherwood. Cô cũng đến quầy bar nhà
hàng Grenn một lần và bao mỗi người có mặt ở đó một cốc rượu. Oliver Dimbleby
cuối cùng cũng lấy hết can đảm mời cô đi ăn trưa, nhưng cô đã khôn khéo chuyển
thành bữa uống cà phê. Buổi trưa hôm sau họ cùng nhau thưởng thức cà phê sữa
trong tách giấy tại một chuỗi cửa hàng của Mỹ ở Piccadilly. Oliver vuốt ve tay
cô và mời ăn tối. “Tôi e rằng mình không thể nhận lời mời đi ăn tối”. Tại sao
không? Oliver tự hỏi khi quay trở về phòng tranh của mình ở phố King. Thực sự
thì tại sao không nhỉ?
Uzi Navot đã để mắt đến nó
được một thời gian. Cậu ta luôn nghĩ đây là cảng trú hoàn hảo trong cơn bão.
Nơi có thể an toàn trong những ngày chắc chắn mưa. Nơi này có vị trí cách đường
vành đai M26 ở Surrey mười dặm - hay, theo như cậu ta giải thích với Gabriel,
cách phòng tranh Isherwood một giờ đi tàu điện ngầm và xe hơi. Căn nhà xây theo
kiểu Tudor thành một đống không có hình thù rõ ràng, có hàng cột cao và cửa sổ
nhỏ bằng chì, có con đường cây sồi dẫn vào nhà do xe chạy nhiều mà thành. Ngôi
nhà được bảo vệ bởi cánh cửa xây bằng sắt và gạch. Ở đây cũng có nhà kho xập
xệ, hai nhà kính bị vỡ, có khu vườn cây cối um tùm để ngồi suy nghĩ, tám mẫu
đất riêng để vật lộn với những con quỷ dữ trong bản thân mỗi người, và một cái
ao không được đánh cá suốt 15 năm. Nhân viên đại lí cho thuê đã gọi nó là Thiên
đường Winslow khi trao chìa khóa cho Navot. Đối với người như Navot, chốn này
là cõi Niết bàn.
Dina, Rimona, và Yaakov làm
việc trong thư viện bụi bặm; Lavon và Yossi thu xếp chỗ tác nghiệp trong một
căn phòng ồn ào treo lủng lẳng đầu lâu của các con vật đã chết. Về phần
Gabriel, anh dựng tạm xưởng vẽ trên căn phòng khách lầu hai, nơi có nhiều ánh
sáng nhìn ra vườn. Bởi không thể xuất hiện trong thế giới nghệ thuật ở Luân
Đôn, anh phái những người khác đi nhận nguồn hàng thay mình. Nhiệm vụ của họ
cũng rất đặc biệt. Dina và Yossi thực hiện những chuyến đi riêng lẻ tới L.
Cornelissen và Các con trai trên đường Russel, cẩn thận phân chia công việc
giữa họ để những nữ nhân viên làm việc ở đó không nhận ra rằng họ đang làm theo
lệnh của một nhà phục chế tranh chuyên nghiệp. Yaakow đến cửa hàng bán đèn ở
Erla’s Court để mua đèn Halogens cho Gabriel, sau đó đến một người thợ mộc bậc
thầy ở thị trấn Camden để lấy cọ vẽ đã đặt trước. Eli Lavon lo khung tranh. Là
chuyên gia mới nghiên cứu về al-Bakari, anh ta tranh luận khi thấy Gabriel chọn
đồ cổ của Ý. “Sở thích của Zizi là Pháp cao cấp”, anh ta nói. “Gu Ý choảng nhau
chan chát với phong cách của Zizi”. Nhưng Gabriel nhận thấy loại khung được
chạm trổ nổi bật của Ý rất phù hợp với lối vẽ đắp của Picasso, vì vậy Lavon đặt
loại khung này tại cửa hàng Arnold Wiggins và Con trai trên phố Bury. Sarah đến
với họ đầu giờ tối mỗi ngày, mỗi lần đi bằng một đường khác nhau, và luôn được
Lavon kiểm tra lại lần nữa xem cô có bị bám đuôi hay không. Cô học rất nhanh,
và đúng như Gabriel nghĩ, cô có trí nhớ hoàn hảo. Mặc dù vậy, anh vẫn cẩn thận
không để cô bị ngạt thở bởi những đống thông tin khổng lồ. Ho thường bắt đầu
lúc bảy giờ trong phòng ăn chính, sau đó ngừng lại để ăn tối cùng những người
khác, rồi lại tiếp tục đến 12 giờ đêm. Sau đó cô được Yossi hộ tống về căn hộ
của mình ở Chelsea. Yossi sống trong một căn hộ khác bên kia đường.
Họ dành một tuần để nói về
Zizi al-Bakari trước khi chuyển sang những người ông ta quen và những thành
viên khác trong đoàn phụ tá và giới thân cận. Họ chú ý đặc biệt đến Wazir bin
Talal, Trưởng bộ phận an ninh có mặt khắp nơi của AAB. Bin Talal thiết lập hệ
thống tình báo trực tiếp của mình, gồm một nhân viên an ninh trong AAB và một
mạng lưới thu mua tin tức trải rộng khắp thế giới, có nhiệm vụ cung cấp cho hắn
thông tin về những nguy hiểm tiềm tàng đối với AAB và chính Zizi. “Nếu Zizi
thích món hàng, thì chính bin Talal là người tiến hành những kiểm tra cần
thiết”, Lavon giải thích. “Không ai tiếp cận được người đứng đầu mà không qua
sự kiểm tra sơ bộ của bin Talal. Nếu ai đó bước ra khỏi vạch, chính bin Talal
là người ra lệnh giải quyết”. Nghiên cứu của Yossi cho thấy ít nhất nửa tá
người quen trước kia của al-Bakari đã chết một cách bí ẩn. Gabriel ra lệnh giấu
kín việc này, không cho Sarah biết.
Trong những ngày tiếp theo, vài
nhân vật được gọi là “chuyên gia có ích” của Văn phòng lần lượt ghé thăm ngôi
nhà an toàn ở Surrey. Người đầu tiên là một phụ nữ từ Đại học Hebrew, bà đã
dành hai đêm để giảng giải cho Sarah về những phong tục xã hội của người Arập
Xêút. Tiếp đó, một nhà tâm lý học đã dành thêm hai đêm nữa khuyên cô những cách
chiến đấu với sự sợ hãi và lo lắng khi làm nhiệm vụ tay trong. Một chuyên gia
về giao tiếp dạy cô những hình thức cơ bản của loại chữ viết bí mật. Võ sư dạy
cô về môn đấu tay đôi theo kiểu Israel. Gabriel chọn Lavon, người theo dõi giỏi
nhất trong lịch sử của Văn phòng, để dạy cô khóa vỡ lòng về nghệ thuật theo dõi
bằng điện tử và con người. “Cô sẽ phải bước vào nơi thù địch”, anh tổng kết.
“Người ta sẽ theo dõi từng bước đi và lắng nghe từng lời cô nói. Nếu cô thực
hiện được những điều này, sẽ không có gì bất ổn xảy ra”.
Trong phần lớn các buổi học,
Gabriel chỉ đóng vai khán giả. Anh đón cô khi cô đến nhà mỗi tối, ăn tối cùng
cả đội, sau đó tiễn cô lúc nửa đêm để cô quay lại Luân Đôn cùng Yossi. Ngày qua
ngày, Gabriel bắt đầu tỏ ra bồn chồn. Lavon, người đã từng làm việc với anh
nhiều hơn những người khác, phân tích tâm trạng của Gabriel là thiếu kiên nhẫn.
“Anh ấy muốn cô bắt đầu tham gia trò chơi”, Lavon nói, “Nhưng biết rằng cô chưa
sẵn sàng”. Gabriel dành nhiều thời gian hơn mỗi lần đứng trước các bức vẽ, anh
cẩn thận phục chế những hư tổn của bức Marguerite. Cường độ làm việc cao chỉ
khiến anh thêm bất an. Lavon khuyên anh thỉnh thoảng nên nghỉ ngơi, và Gabriel
ngập ngừng đồng ý. Anh tìm thấy một đôi ủng cao su trong phòng để đồ và bắt đầu
thực hiện cuộc thám hiểm trên những con đường mòn quanh làng. Anh tìm đựơc cần
câu trong nhà kho và dùng nó để câu một con cá hồi màu nâu rất to từ ao vườn.
Dưới lớp vải dầu trong ga-ra, anh tìm thấy một chiếc xe. Chiếc MG cổ có vẻ như
đã nằm im ở đó đến hơn hai mươi năm. Ba ngày sau, những người trong nhà nghe
thấy tiếng xe rú lên từ phía kho, kế đó là tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả vùng
đồng quê. Yaakov lao thốc ra khỏi nhà và nghĩ rằng Gabriel đã bị nổ tung thành
những mảnh nhỏ, nhưng thay vì vậy, Yakoov lại thấy anh đứng trước nắp xe đang
mở, tay ngập dầu đến tận khuỷu, và mỉm cười lần đầu tiên kể từ khi họ đến
Surrey. “Xe vẫn hoạt động tốt”, anh hét lên giữa tiếng động cơ nổ xình xịch.
“Cái đồ phải gió này vẫn chạy tốt”.
Tối hôm đó lần đầu tiên
Gabriel tham gia vào buổi huấn luyện Sarah. Lavon và Yaakov không ngạc nhiên,
vì chủ đề của buổi thảo luận là Ahmed bin Shafiq, kẻ đã trở thành kẻ thù truyền
kiếp của Gabriel. Anh chọn Dina, với chất giọng nhẹ nhàng và vẻ bề ngoài giống
một góa phụ từ lúc còn trẻ, để truyền đạt những thông tin ngắn gọn. Trong đêm
đầu tiên, cô giảng về nhóm 205, đơn vị bí mật của bin Shafiq, và cho mọi người
thấy rằng, sự kết hợp giữa học thuyết Wahhabi và tiền của Arập Xêút đã gây ra những
nguy hiểm như thế nào ở Trung Đông và Nam Á. Vào đêm thứ hai, cô điểm lại con
đường biến bin Shafiq từ một nhân viên trung thành của nước Arập Xêút trở thành
bộ óc của hội Huynh đệ Allah. Sau đó, cô mô tả chi tiết vụ tấn công vào
Vatican, mặc dù không hề nhắc đến việc Gabriel đã có mặt tại hiện trường vụ tấn
công. Gabriel nhận thấy rằng hầu hết thông tin là dư thừa, nhưng anh muốn tư
tưởng Sarah thêm dứt khoát về việc Ahmed bin Shafiq xứng đáng với số phận đang
chực chờ hắn.
Vào đêm cuối, Sarah được xem
những tấm hình tái tạo từ máy vi tính cho thấy các diện mạo hiện tại của bin
Shafiq. Bin Shafiq có râu. Bin Shafiq hói đầu. Bin Shafiq đội tóc giả muối
tiêu. Tóc giả màu đen. Tóc xoăn. Không tóc. Khuôn mặt với những nét dữ dằn của
người Arập du cư đã được làm nhẹ bớt nhờ phẫu thuật thẩm mỹ. Nhưng chính cánh
tay bị thương mới là đầu mối quí giá nhất để nhận dạng hắn, Gabriel lưu ý với
cô. Vết sẹo trong bắp tay mà hắn không bao giờ cho ai thấy. Bàn tay mà hắn không
bao giờ chìa ra và luôn đút vào túi nhằm tránh xa cặp mắt của những người không
theo đạo.

