Người đưa tin - Phần 2 - Chương 13

Chương 13

Luân Đôn

Tôi cần một bức Van Gogh,
Julian”.

“Ai mà không cần, bạn thân
mến”.

Isherwood kéo cổ tay áo lên
nhìn đồng hồ. Bây giờ là mười giờ sáng. Giờ này mọi ngày anh đang có mặt tại
phòng triển lãm tranh, chứ không phải đi dạo dọc theo công viên Thánh James.
Anh dừng bước một lát ngắm đàn vịt bơi trên mặt nước tĩnh lặng về phía đảo.
Gabriel dùng cơ hội này đảo mắt quanh công viên xem họ có bị theo dõi không.
Sau đó anh nắm khuỷu tay Isherwood kéo về phía đường Kỵ Binh.

Họ là một cặp không tương
xứng, giống như những nhân vật đến từ những bức họa khác nhau. Gabriel mặc quần
jeans đen và đi giày êm không gây ra tiếng động khi di chuyển. Tay anh thọc vào
túi áo khoác ngoài bằng da, vai nghiêng về phía trước, còn đôi mắt xanh đảo
khắp công viên. Isherwood, lớn hơn Gabriel mười lăm tuổi và cao hơn anh vài
cen-ti-mét, mặc bộ vest sọc trắng và áo khoác ngoài bằng len. Những lọn tóc
muối tiêu xòa ra bên ngoài cổ áo khoác, nó nâng lên rồi hạ xuống theo mỗi nhịp
sải bước dài nhưng không chắc chắn. Có điều gì đó chênh vênh trong dáng đi của
Julian Isherwood. Như mọi khi, Gabriel luôn phải cưỡng lại mong muốn thò tay ra
giữ anh ta lại cho chắc.

Họ đã biết nhau 30 năm. Cái
họ đầy chất Anh-Isherwood và dáng người cao lêu nghêu đặc trưng của dân Anh đã
giúp anh ta che giấu sự thực trái ngược. Julian có quốc tịch và hộ chiếu là ở
Anh, nhưng sinh ở Đức, được nuôi dưỡng ở Pháp và theo đạo Do Thái. Chỉ một vài
người bạn tin cẩn biết rằng hồi nhỏ Isherwood được hai người chăn cừu xứ Basque
đưa qua núi Pyrenees đầy tuyết phủ sang nước Anh tị nạn. Rằng cha anh, một
người bán tranh nổi tiếng ở Paris tên Samuel Isakiwitz, đã bị giết tại trại tử
thần Sobibor cùng mẹ. Có một việc khác Isherwood cũng giấu những người cạnh
tranh trong thế giới nghệ thuật Luân Đôn - và hầu hết những người khác. Trong
thuật ngữ của Văn phòng, Julian Isherwood là sayan, một người ủng hộ tự nguyện
theo đạo Do Thái. Anh được Shamron tuyển mộ với lí do duy nhất: giúp xây dựng
và duy trì vỏ bọc của một điệp viên duy nhất rất đặc biệt.

“Người bạn Mario Delveccio
của tôi sao rồi?” Isherwood hỏi.

“Biến mất không còn dấu vết”,
Gabriel nói. “Tôi hi vọng vụ bại lộ của tôi không gây cho anh khó khăn nào”.

“Cho đến giờ vẫn chưa có gì”.

“Không có lời đồn đại nào
trên đường? Không có câu hỏi khó xử nào trong các cuộc đấu giá? Không nhân viên
MI5 nào ghé thăm?”

“Ý cậu muốn hỏi những người ở
Luân Đôn có xem tôi như là điệp viên đắc lực của Israel không à?”

“Đúng vậy”.

“Ở mặt trận này mọi thứ rất
yên ắng. Nhưng thật ra lúc đó chúng ta cũng không phô trương mối quan hệ với
nhau nhiều. Đó không phải là phong cách của cậu. Cậu không phô trương về bất cứ
điều gì. Cậu là một trong vài nhà phục chế tranh giỏi nhất thế giới, vậy mà
không ai biết điều này. Thật tiếc”.

Họ đến góc đường Great
George. Gabriel chuyển hướng sang bên phải vào Lối đi lồng chim.

“Ai biết về chúng ta ở Luân
Đôn, Julian? Ai biết anh có mối quan hệ chuyên môn với Mario?”

Isherwood nhìn hàng cây rũ
xuống dọc vệ đường. “Thật ra là rất ít người. Có Jeremy Crabbe tại Bonhams. Anh
ta vẫn rất giận dữ với cậu vì cậu đã lấy bức họa Rubens trước mũi anh ta”.
Isherwoob đặt bàn tay dài xương xẩu lên vai Gabriel. “Có người đã đặt mua bức
tranh này. Tất cả những gì tôi cần là vẽ”.

“Tôi đã quét vécni lên bức
tranh hôm qua trước khi rời Jerusalem”, Gabriel nói. “Tôi sẽ dùng một trong
những công ty chuyển phát hàng đầu để nhận được nó càng nhanh càng tốt. Anh sẽ
có bức tranh vào cuối tuần. Tiện thể, anh nợ tôi 150 ngàn bảng”.

“Hóa đơn gửi trong thư, bạn
thân mến”.

“Còn ai nữa không?”. Gabriel
hỏi. “Còn ai khác biết về chúng ta?”

Isherwood suy nghĩ một lát.
“Gã Oliver Dimbleby xấu xa”, anh nói. “Cậu nhớ Oliver không? Tôi giới thiệu cậu
với hắn tại nhà hàng Green khi chúng ta đang dùng bữa trưa. Một nhà bán tranh
nhỏ không mấy danh tiếng ở đường King. Hắn đã từng có lần nài tôi bán lại cho
hắn phòng triển lãm tranh”.

Gabriel vẫn còn giữ tấm danh
thiếp dát vàng hợm hĩnh mà Oliver đã nhét vào tay anh. Khi đó Oliver hầu như
không nhìn về phía anh. Oliver là như thế.

“Tôi đã giúp Crabbe nhiều
trong những năm qua”, Isherwood nói. “Những kiểu giúp đỡ mà chúng tôi không
thích nói đến trong ngành. Còn đối với Oliver Dimbleby, tôi đã giúp hắn dọn dẹp
sạch sẽ đống bầy nhầy hắn tạo ra với một cô bé làm trong phòng tranh mình. Tôi
nhận cô bé tội nghiệp vào. Cho cô bé một công việc. Cô ta bỏ tôi qua nhà bán
tranh khác. Những cô gái của tôi cô nào cũng thế. Tôi có gì khiến phụ nữ bỏ đi
nhỉ. Tôi là mục tiêu dễ chinh phục, chắc vậy. Hẳn phụ nữ sẽ nhận thấy điều này.
Chỗ của cậu cũng thấy thế. Và Herr Heller chắc chắn cũng không là ngoại lệ”.

Herr Rudolf Heller, một người
đầu tư rủi ro đến từ Zurich, là một trong những bí danh ưa thích nhất của
Shamron. Đó chính là tên ông dùng khi tuyển mộ Isherwood.

“Nhân tiện, ông sao rồi?”

“Ông gửi đến anh lời chào”.

Gabriel hạ mắt xuống nhìn vỉa
hè ẩm ướt. Một cơn gió lạnh từ công viên thổi lá rụng cuốn lên từ dưới chân họ.

“Tôi cần một bức Van Gogh”,
Gabriel nhắc lại.

“Được rồi, tôi đã nghe cậu
nói về điều này rồi. Vấn đề là tôi không có bức Van Gogh nào. Nếu cậu quên thì
tôi nhắc lại cho cậu nhớ, phòng tranh Isherwood chỉ chuyên về các bậc thầy thời
xưa. Nếu cậu muốn một bức theo trường phái Ấn tượng, cậu phải đi chỗ khác”.

“Vậy báo cho tôi biết tôi có
thể tìm bức đó ở đâu”.

“Trừ phi cậu dự định ăn trộm,
hiện tại trên thị trường không có bức nào - ít nhất theo tôi biết là vậy”.

“Nhưng không đúng thế, đúng
không, Julian? Anh có biết về một bức Van Gogh. Cách đây cả thế kỷ anh có kể
cho tôi nghe một lần - câu chuyện về bức tranh trước đây chưa ai biết mà cha
anh đã thấy ở Paris giữa hai cuộc chiến”.

“Không chỉ mình cha tôi”,
Isherwood nói. “Tôi cũng đã thấy bức tranh. Vincent vẽ bức này ở Auvers trong
những ngày cuối cùng của đời ông. Có lời đồn bức tranh này có thể làm hư hại
thanh danh ông. Vấn đề là bức tranh không để bán, và có lẽ chẳng bao giờ được
bán. Gia đình đó đã nói với tôi rất rõ họ không dự định chia tay với bức tranh.
Họ rất kiên quyết và muốn giữ bí mật về sự tồn tại của bức tranh”.

“Kể tôi nghe lại câu chuyện
đi”.

“Bây giờ tôi không có thời
gian, Gabriel. Tôi có cuộc hẹn lúc 10 giờ 30 phút tại phòng tranh”.

“Hủy cuộc hẹn đi, Isherwood.
Kể tôi nghe về bức tranh đó”.

Isherwood băng qua cầu thang
bộ bắc ngang qua hồ vào phòng trưng bày tranh của anh trong công viên St.
James. Gabriel thọc tay sâu hơn vào túi áo khoác bước theo anh.

“Cậu đã phục chế tranh ông ấy
bao giờ chưa?”. Isherwood hỏi.

“Vincent à? Chưa bao giờ”.

“Cậu biết bao nhiêu về những
ngày cuối đời của ông?”

“Cũng như mọi người”.

“Vớ vẩn, Gabriel. Đừng đóng
vai kẻ ngốc với tôi. Bộ óc cậu giống Từ điển Grove về Nghệ thuật”.

“Lúc đó là mùa hè năm 1890
phải không?”

Isherwood gật đầu với vẻ đồng
ý của một chuyên gia. “Cậu tiếp tục đi”.

“Sau khi Vincent rời bệnh
viện tâm thần ở Saint-Rémy, ông đến Paris để thăm Theo và Johanna. Ông thăm một
vài phòng tranh và trưng bày, và dừng lại tại cửa hàng bán dụng cụ vẽ Père
Tanguy để kiểm tra một vài bức vải vẽ ông cất ở đó. Ba ngày sau ông bắt đầu cảm
thấy chán nơi này, vì thế ông lên tàu đi Auvers-sur-Oise, một nơi cách Paris
hai mươi dặm. Ông nghĩ Auvers là nơi lí tưởng, rằng cảnh đồng quê yên tĩnh sẽ rất
thích hợp với công việc sáng tác, và nó vẫn gần Theo, nguồn mạch kinh tế và
tình cảm của ông. Ông thuê phòng ở nhà trọ Café Ravoux và nhờ bác sỹ Paul
Gachet theo dõi sức khỏe”.

Gabriel nắm tay Isherwood và
cùng nhau họ lao qua làn xe cộ trên đường Mall tiến vào đường Marlborough.

“Ông bắt đầu vẽ ngay lập tức.
Phong cách cũng như tâm trạng ông trở nên bình tĩnh và dịu dàng hơn. Sự buồn
bực và bạo lực đặc trưng trong hầu hết các tác phẩm của ông ở Saint-Rémy và
Arles không còn nữa. Sức sáng tạo của ông mạnh mẽ đến mức khó tin. Trong vòng
hai tháng ở Auvers, ông đã vẽ hơn tám mươi tác phẩm. Mỗi ngày một bức. Có vài
ngày đến hai bức”.

Họ quẹo vào đường King.
Gabriel đột nhiên đứng sững lại. Ngay trước mặt họ, đi dọc trên vỉa hè về phía
lối vào nhà đấu giá Christie là Olver Dimbleby. Isherwood quẹo gấp vào đường
Bury và tiếp tục từ chỗ Gabriel dừng lại.

“Khi Vincent không cầm cọ vẽ,
người ta thường thấy ông tha thẩn trong phòng riêng ở trên nhà trọ Café Ravoux
hay ngồi chơi tại nhà Gachet. Gachet là người góa vợ hai con, cậu con trai 15
tuổi và cô con gái vừa bước qua tuổi 21 khi Vincent đến Auvers ở”.

“Marguerite”.

Isherwood gật đầu. “Cô là một
cô gái xinh đẹp, và rất say mê Vincent. Cô đồng ý ngồi làm mẫu cho ông - không
may là không có sự đồng ý của cha mình. Ông vẽ cô trong vườn của gia đình, mặc
đầm trắng”.

“Bức Marguerite Gachet trong
vườn”, Gabriel nói.

“Khi cha cô phát hiện ra, ông
nổi cơn lôi đình”.

“Nhưng cô vẫn làm mẫu cho
ông”.

“Đúng vậy”, Isherwood tán
thành. “Bức vẽ thứ hai là Marguerite chơi đàn piano. Cô ấy cũng xuất hiện trong
bức Trong rừng có hai bóng người, một tác phẩm mang tính tượng trưng sâu sắc
được một vài sử gia nghệ thuật cho là lời tiên đoán cái chết của chính ông.
Nhưng tôi tin đó chính là Vincent và Marguerite sánh bước dọc theo lối đi trong
nhà thờ – đó là linh cảm của Vincent về đám cưới”.

“Có bức vẽ thứ tư về
Marguerite à?”

“Marguerite Gachet tại bàn
trang điểm”, Isherwood đáp. “Bức đẹp nhất trong số này. Chỉ vài người biết đến
sự tồn tại của nó hoặc đã từng được nhìn thấy nó. Vincent vẽ bức này vài ngày
trước khi chết. Sau đó nó biến mất”.

Họ bước tới đường Duke và đi
qua lối hẹp vào sân lát gạch có tên gọi là Mason’s Yard. Phòng tranh của
Isherwood chiếm một gian nhỏ theo kiểu Victoria ở góc xa, nằm kẹp giữa công ty
vận chuyển nhỏ của Hy Lạp và quán rượu toàn những cô gái xinh đẹp lái xe tay
ga. Isherwood chuẩn bị băng qua sân vào phòng tranh thì Gabriel nắm ve áo anh
kéo đi theo hướng ngược lại. Khi họ đi quanh sân băng qua những chỗ râm lạnh
lẽo, Isherwood nói về cái chết của Vincent.

“Vào tối 27/7, Vincent trở
lại nhà trọ Café Ravoux và loạng choạng lên lầu để về phòng. Bà Ravoux đi theo
ông và phát hiện ông đã bị bắn. Bác sỹ dĩ nhiên là Gachet. Ông quyết định để
viên đạn trong bụng Vincent và cho gọi Theo tới Auvers. Khi Theo tới buổi sáng
hôm sau, ông thấy Vincent đang nằm trên giường hút thuốc. Ông chết trong ngày
hôm đó”.

Họ bước ra khoảnh sân có ánh
nắng mặt trời chói chang. Isherwood che mắt bằng bàn tay dài.

“Rất nhiều câu hỏi không lời
giải đáp được đặt ra về vụ tự tử của Vincent. Người ta không rõ ông lấy súng ở
đâu, hay địa điểm chính xác ông tự bắn mình. Cũng có những câu hỏi về động lực
thúc đẩy ông làm việc này. Có phải vụ tự tử là để chấm dứt thời gian dài chiến
đấu chống lại bệnh điên? Hay ông cùng quẫn vì nhận được thư của Theo báo rằng
anh không thể vừa chu cấp cho ông cùng lúc với vợ con của anh ta? Hay Vincent
quyết định dùng mạng mình để khiến các tác phẩm của ông nổi tiếng và bán chạy?
Tôi chưa bao giờ hài lòng vì những giả thuyết này. Tôi nghĩ chuyện này phải có
liên quan đến Gachet. Hay đúng hơn là với con gái của Gachet”.

Họ lại bước vào khoảng sân bị
bóng râm che phủ. Isherwood hạ tay xuống.

“Trước ngày Vincent tự bắn
mình, ông đã đến nhà Gachet. Hai người cãi lộn dữ dội, và Vincent dùng súng đe
dọa Gachet. Đâu là nguyên nhân vụ tranh cãi? Sau đó Gachet nói rằng nó có liên
quan đến một bức vẽ. Tôi nghĩ nguyên nhân là về Marguerite. Có lẽ có liên quan
đến bức Marguerite Gachet bên bàn trang điểm. Đây là một tuyệt phẩm, một trong
những bức chân dung đẹp nhất của Vincent. Dáng ngồi và bối cảnh rõ ràng tượng
trưng cho một cô dâu trong đêm tân hôn. Một người như Paul Gachet không thể nào
bỏ qua ý nghĩa hiển nhiên của bức tranh. Nếu ông đã thấy bức tranh - không có
lí do ông chưa thấy - ắt hẳn ông đã vô cùng giận dữ. Có lẽ Gachet bảo với
Vincent rằng chuyện có một đám cưới với con gái mình là không thể. Có lẽ ông
cấm không cho Vincent được vẽ con gái mình. Có lẽ ông cấm Vincent gặp lại
Marguerite. Chúng ta biết là Marguerite không có mặt tại đám tang của Vincent,
mặc dù ngày hôm sau người ta thấy cô đầy nước mắt đặt hoa hướng dương lên mộ
ông. Cô không bao giờ kết hôn, và sống như một ẩn sỹ tại Auvers cho đến cuối
đời vào năm 1949”.

Họ băng qua lối vào phòng
tranh của Isherwood và tiếp tục đi.

“Sau cái chết của Vincent,
những bức vẽ của ông trở thành tài sản của Theo. Ông chuyển những tác phẩm
Vincent đã vẽ tại Auvers về lưu giữ ở Père Tanguy thuộc Paris. Chẳng bao lâu
sau cái chết của Vincent, Theo cũng qua đời, và những bức họa trở thành tài sản
của Johanna. Không người bà con nào của Vincent muốn lấy tác phẩm của ông. Anh
trai của Johanna nghĩ chúng không đáng giá và đề nghị đốt những bức họa này”.
Isherwood nói. “Cậu có tưởng tượng được không?”. Anh lại đẩy mình về phía trước
bằng sải chân dài. “Johanna lập danh sách những tác phẩm và làm việc không mệt
mỏi để xây dựng danh tiếng của Vincent. Chính nhờ Johanna mà Vincent được coi
là hoạ sĩ vĩ đại. Nhưng có một sự bỏ sót quan trọng trong danh sách những tác
phẩm được biết đến của Vincent”.

“Marguerite Gachet bên bàn trang
điểm”.

“Chính xác”, Isherwood đồng
ý. “Đây là tai nạn hay sự cố tình? Dĩ nhiên chúng ta sẽ không bao giờ được
biết, nhưng tôi có một giả thuyết. Tôi nghĩ rằng Johanna biết bức vẽ đã góp
phần gây nên cái chết của Vincent. Dù gì đi nữa, nó được bán với giá rẻ mạt
trong vòng một năm sau cái chết của Vincent và không có ai còn được nhìn thấy
nó nữa. Đây cũng là lúc cha tôi bước vào câu chuyện”.

Họ hoàn tất vòng đi dạo đầu
tiên vòng quanh sân và bắt đầu vòng đi thứ hai. Bước đi của Isherwood chậm lại
khi anh kể về cha mình.

“Trong tim mình bao giờ ông
cũng là người Berlin. Ông muốn ở đó mãi mãi. Dĩ nhiên chuyện này là không thể.
Cha tôi nhìn thấy dông bão nổi lên nên mau chóng rời bỏ thành phố. Cuối năm
1936, chúng tôi đã rời Berlin và chuyển đến Paris”. Anh nhìn Gabriel. “Thật
không may ông cậu không làm như vậy. Ông là một họa sỹ vĩ đại. Cậu xuất thân từ
một gia đình danh giá, cậu bé của tôi ạ”.

Gabriel nhanh chóng thay đổi
chủ đề. “Phòng tranh của cha anh nằm trên Rue de la Boétie đúng không?”

“Đúng vậy”. Isherwood đáp.
“Rue de la Boétie là trung tâm thế giới nghệ thuật thời đó. Paul Rosenberg có
phòng tranh tại số 21. Picasso và Olga sống bên kia sân tại số 23. Georges
Wildenstein, Paul Guillaume, Josse Hessel, Étienne Bignou - tất cả mọi người
đều ở đó. Phòng tranh của Isakowitz nằm kế bên phòng tranh của Paul Rosenberg.
Picasso là ‘Chú Pablo” của tôi. Ông ấy thường cho tôi xem ông ấy vẽ, còn Olga
hay cho tôi sôcôla đến khi tôi phát ngấy”.

Isherwood cho phép mình mỉm
cười trong chốc lát, nhưng nụ cười ấy nhanh chóng nhạt đi khi anh tiếp tục câu
chuyện về cha mình ở Paris.

“Người Đức đến vào tháng năm
1940 bắt đầu cướp bóc. Cha tôi thuê lâu đài ở Bordeaux bên địa phận thuộc phe
Vichy và chuyển phần lớn các bức tranh của ông về nơi này. Chúng tôi nhanh
chóng theo ông. Người Đức vượt qua khu vực không chiếm đóng năm 1942, và những
vụ bắt bớ trục xuất bắt đầu. Chúng tôi bị kẹt. Cha tôi trả tiền cho hai người
chăn cừu xứ Basque đưa tôi vượt núi tới Tây Ban Nha. Ông đưa tôi một vài tài
liệu để mang theo, danh mục các tác phẩm và hai quyển nhật ký. Đó là lần cuối
cùng tôi nhìn thấy ông”.

Có tiếng còi xe lớn trên
đường Duke; những con chim bồ câu bay tán loạn trên khoảnh sân có bóng râm.

“Mãi nhiều năm sau tôi mới
đọc những quyển nhật ký. Trong một quyển cha tôi đã kể về một bức tranh ông
trông thấy ở Paris tại nhà một người tên là Isaac Weinberg”.

“Marguerite Gachet bên bàn
trang điểm”.

“Wienberg bảo với cha tôi
rằng ông ta mua bức tranh từ Johanna không lâu sau khi Vincent chết và đã tặng
vợ làm quà sinh nhật. Cha tôi hỏi Isaac liệu ông có muốn bán không, và Isaac
trả lời là không. Ông dặn cha tôi không được nhắc về bức tranh cho bất kì ai.
Cha tôi đã làm theo lời ông ấy”.

Điện thoại di động của
Isherwood reo, nhưng anh phớt lờ.

“Vào đầu những năm 1970, ngay
trước khi tôi gặp anh, tôi đang đi công tác tại Paris. Tôi có vài giờ rảnh rang
giữa các cuộc hẹn, nên quyết định đến tìm Isaac Weinberg. Tôi đến địa chỉ ở
quận Marais được ghi trong quyển sổ tay của cha tôi, nhưng Weinberg không ở đó.
Ông đã mất mạng trong chiến loạn. Nhưng tôi gặp con trai ông, Marc, và kể với
anh ta về đoạn trong quyển nhật ký của cha tôi. Ban đầu anh ta phủ nhận câu
chuyện, nhưng cuối cùng cũng nhượng bộ cho tôi xem bức tranh sau khi bắt tôi
thề phải giữ bí mật mãi mãi. Tôi hỏi liệu anh ta có muốn bán nó không. Anh ta
từ chối”.

“Anh chắc chắn đây là tác
phẩm của Vincent?”

“Không mảy may nghi ngờ”.

“Kể từ hồi ấy đến giờ anh
không quay lại đó?”

“Ngài Weinberg đã nói rất rõ
sẽ không bao giờ bán bức tranh. Tôi thấy không cần thiết”. Isherwood dừng lại
quay sang đối diện với Gabriel. “Được rồi, bạn thân mến. Tôi đã kể anh nghe mọi
chuyện. Bây giờ anh kể tôi nghe chuyện này là như thế nào”.

“Tôi cần bức hoạ đó của Van
Gogh, Julian”.

“Để làm gì?”

Gabriel nắm tay áo của
Isherwood dẫn anh ta về phía cửa phòng tranh.

Có tấm bảng gắn bộ đàm kế bên
cánh cửa kiếng có bốn cái nút và bốn bảng tên tương ứng. Một tấm bảng ghi:
PHÒNG TRANH ISHERWOOD: CHỈ TIẾP KHÁCH CÓ HẸN. Isherwood mở cửa bằng chìa khóa
và dẫn Gabriel lên cầu thang trải thảm xơ xác. Trên đầu cầu thang là hai cánh
cửa nữa. Ở bên trái là một đại lý du lịch làm ăn không mấy phát đạt. Người chủ,
một cô gái già tên là Archer, đang ngồi tại bàn dưới tấm áp phích có hình một
cặp nam nữ đang vui vẻ nô đùa trong làn nước xanh ngắt. Cô thư ký mới nhất của anh,
một cô gái đáng thương tên Tanya, nhìn họ chăm chú khi Isherwood và Gabriel
bước vào. “Đây là ông Klein”, Isherwood giới thiệu. “Ông muốn xem vài bức tranh
trên lầu. Không ai được phép quấy rầy chúng tôi. Như vậy mới là cô gái ngoan,
Tanya yêu mến ạ”.

Họ bước vào cầu thang máy có
kích cỡ một trạm điện thoại, và bấm nút đi lên. Họ đứng sát nhau đến nỗi
Gabriel có thể ngửi thấy mùi rượu vang đỏ tối hôm qua trong hơi thở của
Isherwood. Một vài giây sau, thang máy rung rung dừng lại và cánh cửa mở ra kêu
kẽo kẹt. Phòng trưng bày của Isherwood nửa sáng nửa tối, chỉ được chiếu sáng
bởi ánh mặt trời rọi vào qua khung cửa sổ trên mái nhà. Isherwood ngồi xuống
chiếc đi văng bọc nhung ở giữa phòng trong khi Gabriel đi chầm chậm quanh phòng
ngắm các bức tranh. Những bức tranh gần như vô hình trong bóng tối nhưng anh
biết chúng rất rõ: bức Venus của Luini, Lễ Thánh đản của Perino del Vaga, Lễ
rửa tội Chúa Jesu của Bordone, một bức tranh phong cảnh rực rỡ của Claude.

Isherwood mở miệng định cất
tiếng nói nhưng Gabriel đưa tay lên môi và móc ra từ túi áo khoác một đồ vật
nhìn có vẻ giống một chiếc điện thoại Nokia thông thường. Nó thật sự là một
chiếc điện thoại Nokia nhưng có thêm một vài chức năng không dành cho những
người bình thường, như thiết bị dò tín hiệu GPS và thiết bị có thể phát hiện sự
hiện diện của máy phát tín hiệu. Gabriel đi vòng quanh phòng lần nữa, lần này
mắt anh nhìn vào điện thoại. Sau đó anh ngồi xuống kế bên Isherwood, bằng giọng
nhỏ nhất có thể, Gabriel nói cho anh ta biết lí do tại sao mình cần bức Van
Gogh.

“Zizi al-Bakari?”. Isherwood
hỏi với vẻ không tin. “Một tên khủng bố khát máu? Cậu chắc không?”

“Ông ta không gài bom,
Julian. Ông ta cũng không chế bạo bom. Nhưng ông ta trả tiền hoá đơn, và dùng
đế chế kinh doanh của mình để giúp cho hoạt động của những tên khủng bố và vận
chuyển trang thiết bị đi toàn cầu. Trong thế giới ngày nay việc này cũng xấu xa
như trực tiếp thực hiện hành động khủng bố. Thậm chí còn tệ hơn”.

“Tôi gặp ông ta một lần,
nhưng chắc ông ta không nhớ. Tôi đã đến dự bữa tiệc tại dinh cơ của ông ta ở
Gloucestershire. Bữa tiệc thật vĩ đại. Cả biển người. Chẳng thấy Zizi ở đâu.
Ông ta chỉ xuất hiện vào phút cuối giống Gatsby chết tiệt. Được vây quanh bởi
các vệ sỹ, thậm chí là ở ngay trong nhà mình. Một gã kì lạ. Mặc dù vậy ông ta
là người sưu tập rất đam mê, đúng không? Nghệ thuật. Phụ nữ. Bất cứ cái gì tiền
có thể mua được. Kẻ săn mồi, tôi nghe người ta nói về ông ta như vậy. Tôi chưa
bao giờ từng làm ăn với ông ta. Sở thích của Zizi không phải ở tranh của những
bậc thầy. Zizi thích trường phái Ấn tượng và những tác phẩm hiện đại. Tất cả
những người Arập Xêút đều như vậy. Họ không thích hình tượng Thiên Chúa giáo
trong tranh của các bậc thầy thời xưa”.

Gabriel ngồi xuống kế bên
Isherwood. “Ông ta không có bức Van Gogh nào, Julian. Ông ta có hé lộ rằng mình
đang tìm kiếm, nhưng không phải bất cứ bức tranh Van Gogh nào ông ta cũng
thích. Ông ta muốn một bức thật đặc biệt”.

“Theo tôi biết, ông ta mua
tranh rất kỹ tính. Ông ta có thể chi hàng đống tiền, nhưng luôn chi một cách
khôn ngoan. Ông ta có bộ sưu tập sánh ngang với một bảo tàng, nhưng bây giờ tôi
mới được biết là ông ta không có tác phẩm nào của Van Gogh”.

“Cố vấn nghệ thuật của ông ta
là một người Anh tên Andrew Malone. Anh biết ông ta không?”

“Thật không may, Andrew và
tôi biết nhau rất rõ. Ông ta đào bới rất sâu vào túi tiền của Zizi. Đi nghỉ
trên du thuyền của Zizi. Chiếc du thuyền ấy to như chiếc Titanic chết tiệt.
Andrew rất lươn lẹo và có tính cách dơ bẩn”.

“Như thế nào?”

“Ông ta ăn hai bên, bạn thân
mến ạ”.

“Ý anh là sao, Julian?”

“Andrew có bản hợp đồng độc
quyền với Zizi, có nghĩa là ông ta không được nhận tiền từ bất cứ người bán hay
sưu tập tranh nào. Đó là cách những đại gia như Zizi chắc chắn rằng lời tư vấn
họ nhận được không bị ảnh hưởng bởi những mâu thuẫn về quyền lợi”.

“Malone đã làm gì?”

“Tống tiền, ăn hoa hồng nước
đôi”.

“Anh chắc chứ?”

“Chắc chắn, bạn thân mến ạ.
Mọi người ở đây biiết rằng nếu muốn làm ăn với Zizi, phải trả tiền phí qua cửa
cho Andrew Malone”.

Isherwood bỗng nhiên đứng dậy
đi dọc phòng.

“Vậy kế hoạch của cậu là gì?
Nhử hắn ra khỏi ổ bằng bức tranh của Van Gogh à? Nhử bức tranh trước mặt ông ta
và hi vọng ông ta cắn câu? Nhưng sẽ có điều gì khác ở cuối cần câu, đúng không?
Một trong những điệp viên của cậu?”

“Một thứ gần giống vậy”.

“Cậu dự định tiến hành công
việc ngông cuồng này ở đâu? Theo tôi đoán là ở đây à?”

Gabriel nhìn quanh căn phòng
một cách hài lòng. “Đúng vậy”, anh nói. “Tôi sẽ làm công việc này êm thấm
thôi”.

“Tôi sợ điều này lắm”.

“Tôi cần một nguời môi giới”,
Gabriel nói. “Một người có danh tiếng trong ngành. Một người tôi có thể tin
tưởng”.

“Tôi làm trong lĩnh vực tranh
của các bậc thầy, không phải các họa sỹ theo trường phái Ấn tượng”.

“Điều này không ảnh hưởng đến
một thương vụ kín tiếng như vụ này”.

Isherwood không tranh cãi. Anh
biết Gabriel nói đúng. “Cậu đã tính đến hậu quả dành cho tôi nếu vụ làm ăn của
cậu thành công chưa? Tôi sẽ là người bị đánh dấu. Tôi có thể xử những vụ như
Oliver Dimbleby, nhưng bọn al-Qaeda khát máu lại là một chuyện khác”.

“Dĩ nhiên chúng tôi phải lo
sự an toàn cho anh sau khi thành công”.

“Tôi rất thích cách nói giảm
của cậu, Gabriel. Cậu và Shamron luôn tìm cách nói giảm để mọi việc nhẹ nhàng
hơn khi sự thật trở nên quá khủng khiếp. Họ sẽ treo giá lên đầu tôi. Tôi phải
đóng cửa tiệm. Phải chạy trốn”.

Gabriel không bị lay động bởi
những lời phản đối của Julian. “Anh không còn trẻ nữa, Julian. Anh gần kết thúc
con đường của mình rồi. Anh không có con cái. Không người thừa tự. Ai sẽ thừa
kế phòng tranh. Thêm nữa, anh nên suy nghĩ một chút về mức hoa hồng anh nhận
được trong vụ bán riêng một tác phẩm trước đây chưa từng được biết đến của Van
Gogh. Thêm vào đó là việc bán những tác phẩm anh hiện có. Mọi việc còn có thể
tệ hơn nhiều, Julian”.

“Tôi đang hình dung ra một
biệt thự xinh đẹp ở miền nam nước Pháp. Một cái tên mới. Và một đội an ninh của
Văn phòng chăm sóc tôi trong lúc về già”.

“Nhớ để dành phòng cho tôi”.

Isherwood ngồi xuống lại. “Kế
hoạch của cậu có một lỗ hổng lớn. Cậu sẽ dễ lừa lão khủng bố đó hơn là mua bức
Van Gogh. Giả sử bức tranh đó vẫn còn là tài sản của nhà Weinberg, điều gì làm
cậu nghĩ họ sẽ chịu bán nó?”

“Ai nói gì về việc bán những
bức tranh nhỉ?”

Isherwood mỉm cười. “Tôi sẽ
lấy địa chỉ cho cậu”.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.