Người đưa tin - Phần 2 - Chương 10

PHẦN 2: CON GÁI BÁC SĨ GACHET

Chương 10

Ein Kerem, Jerusalem

Cuộc đời Gilah Shamron là một
chuỗi những ngày cầu nguyện trong căng thẳng. Bà đã chịu đựng từ những nhiệm vụ
bí mật, những vùng đất nguy hiểm, chiến tranh và khủng bố cho đến các cuộc
khủng hoảng và những cuộc họp Nội các hầu như không bao giờ kết thúc trước nửa
đêm. Bà luôn sợ kẻ thù cũ của Shamron đột ngột nhảy ra trả thù. Bà luôn biết
một ngày nào đó mình sẽ nhận được tin chồng bị thương nặng, thậm chí là chết vì
sự trả thù này.

Gabriel thấy bà ngồi bình
tĩnh trong phòng chờ riêng ở khu chăm sóc đặc biệt của trung tâm Y tế Hadassah.
Chiếc áo khoác chống bom đặc biệt của Shamron nằm trên lòng bà, và bà đang thẫn
thờ cầm chỗ rách tại ngực phải mà Shamron chưa bao giờ thấy cần phải sửa lại.
Gabriel luôn thấy nét của Golda Meir trong ánh nhìn buồn bã và mái tóc xám
hoang dại của Gilah. Anh không thể nhìn Gilah mà không nhớ lại ngày Golda gắn
huy chương vào ngực áo bí mật của anh, nước mắt lưng tròng, và cám ơn anh đã
trả thù cho mười một người Israel bị giết ở Munich.

“Chuyện gì xảy ra vậy,
Gabriel? Làm sao chúng tìm được Ari ngay giữa Jerusalem?”

“Có lẽ ông ấy đã bị theo dõi
trong một khoảng thời gian khá dài. Khi rời căn hộ của tôi tối hôm đó, ông bảo
rằng sẽ quay lại văn phòng Thủ tướng để làm chút việc”. Gabriel ngồi xuống cầm
tay Gilah. “Chúng nổ bom tại chỗ đèn giao thông trên phố King George”.

“Đánh bom tự sát à?”

“Chúng tôi nghĩ có hai tên.
Chúng ngồi trong xe tải hóa trang thành người Do Thái chính thống. Quả bom rất
lớn”.

Bà ngước nhìn chiếc truyền
hình treo cao trên tường. “Tôi có thể thấy trong tivi. Thật thần kỳ nếu có ai
đó còn sống sót”.

“Một nhân chứng thấy xe Ari
tăng tốc trước khi bom nổ. Ắt hẳn Ari đã nhìn thấy điều gì đó không ổn. Lớp bọc
sắt của xe hơi chịu được áp lực của vụ nổ, nhưng chiếc xe bị hất tung trong
không khí. Có vẻ như nó đã lộn hai vòng”.

“Ai làm việc này? Hamas? Hay
cảm tử quân Hồi giáo? Hay bọn al-Aqsa?”

“Hội Huynh đệ Allah đã lên
tiếng”.

“Có phải chính tổ chức đã tấn
công Vatican?”

“Đúng vậy, Gilah”.

“Anh có tin là chúng không?”

“Còn qua sớm để khẳng định
bất kỳ điều gì”, Gabriel trả lời. “Bác sỹ nói sao?”

“Ông ấy còn phải chịu phẫu
thuật ít nhất ba tiếng nữa. Họ bảo chúng ta sẽ có thể gặp ông ấy khi ông được
đẩy ra, nhưng chỉ một hai phút thôi. Họ đã cảnh báo với tôi ông ấy trông tệ
lắm”.

Gabriel chăm chú nhìn bà một
lúc, sau đó nhìn lên ti vi. “Bà lo ông ấy không qua khỏi, đúng không Gilah?”

“Đúng vậy”.

“Đừng lo”, Gabriel an ủi.
“Shamron là người không thể bị hủy diệt. Ông ấy bất tử”.

“Họ nói gì với bà về những
vết thương?”. Gabriel hỏi tiếp.

Gilah điềm tĩnh kể lại. Những
liệt kê về các bộ phận bị hư hại, chấn thương đầu, và xương gẫy khiến Gabriel
hiểu rõ Shamron thật sự đang ở trong tình trạng thập tử nhất sinh.

“Ari khá nhất trong ba
người”, Gilah nói. “Dường như Rami và tài xế bị thương trầm trọng hơn nhiều.
Tội nghiệp Rami. Anh ấy đã bảo vệ cho Ari nhiều năm. Bây giờ lại gặp chuyện
này”.

“Yonatan đâu?’

“Nó đang đi công tác ở miền
bắc. Nó đang trên đường trở về”.

Con trai duy nhất của Shamron
là Đại tá trong Lực lượng Bảo vệ Israel. Ronit, cô con gái bướng bỉnh của ông,
đã chuyển đến sống ở New Zealand để tránh người cha thích áp đặt. Cô và Shamron
không nói chuyện với nhau đã nhiều năm.

“Ronit cũng đang tới”, Gilah nói.
“Ai biết được? Có lẽ trong cái xui cũng có cái may. Sự vắng mặt của Ronit khiến
ông rất đau khổ. Ông tự trách mình, nhưng ông đáng phải như vậy. Ari rất nghiêm
khắc với các con. Nhưng anh biết tính ông ấy mà, phải không Gabriel?”

Gilah nhìn thẳng vào mắt
Gabriel một lúc, sau đó đột ngột quay đi. Trong nhiều năm bà nghĩ anh là người
ngồi bàn giấy biết nhiều về nghệ thuật và sống nhiều năm ở châu u. Giống như
những người dân khác, bà chỉ biết bản chất thật sự công việc của anh qua báo
chí. Cách xử sự của bà đã thay đổi từ khi anh bị lật mặt nạ. Bà ít nói hơn khi
ở gần anh, bà chú ý không làm anh phật ý, và không thể nhìn lâu vào mắt anh.
Trước đây Gabriel đã nhìn thấy cách xử sự này ở tất cả mọi người khi bước vào
nhà mình. Thần Chết đã để lại dấu vết lên khuôn mặt Gabriel, giống như Birkenau
đã làm hỏng khuôn mặt mẹ anh. Gilah không thể nhìn lâu vào mắt Gabriel vì bà sợ
những gì mình có thể thấy trong đó.

“Trước vụ này ông ấy cũng
không được khỏe. Dĩ nhiên, ông đã giấu nhẹm, thậm chí Thủ tướng cũng không biết”.

Gabriel không ngạc nhiên. Anh
biết Shamron đã âm thầm chống đỡ bệnh tật từ nhiều năm nay. Sức khỏe, giống mọi
thứ khác trong cuộc sống của ông, được xem là một điều tuyệt mật.

“Có phải là thận không?”

Gilah lắc đầu. “Căn bệnh ung
thư đã quay trở lại”.

“Tôi tưởng là chúng đã được
lấy ra hết”.

“Ari cũng nghĩ thế”, bà nói.
“Nhưng chưa hết. Phổi ông ấy là một mớ hỗn độn do thuốc lá. Hãy khuyên ông ấy
đừng hút thuốc nhiều nữa”.

“Ông ấy không bao giờ chịu
nghe lời tôi”.

“Cậu là người duy nhất ông ấy
chịu nghe. Ông ấy yêu cậu như con trai, Gabriel. Đôi khi tôi nghĩ ông ấy yêu
cậu hơn Yonatan”.

“Đừng nghĩ thế, bà Gilah”.

“Ông ấy có những phút giây
hạnh phúc nhất là khi ngồi với cậu trên sân thượng ở Tiberias”.

“Chúng tôi thường tranh cãi”.

“Ông ấy thích tranh cãi với
cậu, Gabriel”.

“Tôi cũng thấy thế”.

Trên tivi, các Bộ trưởng Nội
các và những người đứng đầu cơ quan an ninh đang đến văn phòng Thủ tướng họp
khẩn cấp. Bình thường Shamron cũng có mặt ở đó cùng họ. Gabriel nhìn Gilah. Bà
đang nắm chặt chỗ da bị sờn rách của chiếc áo khoác. “Chính Ari phải không?”.
Bà hỏi. “Chính Ari là người đã lôi cậu vào cuộc sống này… sau vụ Munich”.

Gabriel nhìn đèn phòng cấp
cứu nhấp nháy và lơ đãng gật đầu.

“Cậu ở trong quân đội à?”

“Không, lúc đó tôi đã ra khỏi
quân đội. Tôi đang học tại Học viện Mỹ thuật Bezalel. Ari đến gặp tôi sau khi
những con tin bị giết chết. Khi đó không ai biết chuyện này, nhưng Golda đã ra
lệnh giết tất cả những ai có dính líu”.

“Tại sao ông ấy chọn anh?”

“Tôi nói nhiều thứ tiếng, và
khi xem báo cáo về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của tôi, ông ấy nhận ra tôi có
những đức tính cần thiết cho loại công việc mà ông đang dự tính”.

“Giết người ở khoảng cách
gần, mặt đối mặt. Anh đã làm thế, đúng không?”

“Đúng vậy, Gilah”.

“Bao nhiêu?”

“Gilah”.

“Bao nhiêu, Gabriel?”

“Sáu”, anh trả lời. “Tôi giết
sáu tên”.

Bà chạm đám tóc muối tiêu ở
hai bên thái dương của anh. “Nhưng lúc đó anh mới là một thanh niên”.

“Chuyện này dễ làm hơn khi
người ta còn trẻ. Càng lớn làm việc này càng trở nên khó khăn”.

“Nhưng dù sao thì anh cũng
hoàn thành nhiệm vụ. Anh là người đi giết Abu Jihad, đúng không? Anh vào nhà
hắn ở Tunis và giết chết hắn trước mặt vợ con. Rồi bọn chúng trả thù, chúng
không trút lên quốc gia mà trút lên anh. Chúng đặt bom dưới xe anh ở Viên”.

Bà siết chặt vết rách trên áo
Shamron. Gabriel nắm tay bà. “Không sao, Gilah. Chuyện đó xảy ra từ lâu rồi”.

“Tôi nhớ lúc điện thoại reo.
Ari bảo với tôi bom đã nổ dưới xe hơi một nhân viên ngoại giao ở Viên. Tôi nhớ
lúc đó mình vào bếp pha cho ông một tách cà phê. Khi quay trở ra tôi thấy ông
đang ngồi khóc. Ông nói. ‘Lỗi của tôi, Gilah. Tôi đã giết vợ con anh ta’. Đó là
lần duy nhất tôi thấy ông ấy khóc. Tôi không gặp ông ấy suốt một tuần. Cuối
cùng, khi ông về nhà, tôi hỏi chuyện gì đã xảy ra. Dĩ nhiên ông không trả lời.
Lúc đó ông đã điềm tĩnh trở lại. Nhưng tôi biết ông đã luôn day dứt về chuyện
này bao nhiêu năm qua. Ông tự trách mình vì chuyện xảy ra”.

“Ông ấy chẳng nên tự trách
mình làm gì”, Gabriel nói.

“Anh không được phép đau buồn
như bao người bình thường khác, đúng không? Chính phủ thông báo với thế giới
rằng vợ và con của nhà ngoại giao đều đã chết. Anh chôn con mình ở đỉnh Olive -
chỉ anh, Ari, và một vị giáo sỹ - và anh giấu vợ mình ở một nơi nào đó dưới tên
giả. Nhưng Khaled đã tìm thấy cô ấy, và dùng cô ấy để nhử anh đến ga Lyon”. Một
giọt nước mắt lăn trên gò má Gilah. Gabriel lấy tay lau nó đi, và cảm nhận được
làn da nhăn nheo của bà vẫn mềm như nhung. “Tất cả những chuyện này xảy ra vì
chồng tôi đã tìm gặp anh một buổi trưa tháng Chín cách đây lâu lắm rồi. Đáng lẽ
anh có thể có một cuộc đời khác. Thay vì thế chúng tôi đã biến anh thành một
tên sát nhân. Tại sao anh không trở nên cay độc, Gabriel? Tại sao anh không
ghét ông ấy như các con của chúng tôi ghét bố chúng nó?”

“Hướng đi của đời tôi đã được
vạch sẵn vào ngày người Đức chọn tên hạ sỹ người Áo nhỏ bé làm quốc trưởng cho
chúng. Ari chỉ là người đưa đường dẫn lối mà thôi”.

“Cậu tin vào định mệnh đến
thế sao?”

“Hãy tin tôi, Gilah, có một
thời kỳ tôi cũng không thể chịu nổi khi nhìn mặt Ari. Nhưng tôi nhận ra mình
giống ông hơn là tôi nghĩ”.

“Có lẽ đó chính là điều ông
thấy trong bản báo cáo về khả năng của cậu”.

Gabriel cười mỉm. “Có lẽ đúng
vậy”.

Gilah sờ vết rách trên áo
Shamron. “Cậu có biết vì sao việc ấy lại xảy ra không?”

“Đó là một trong những bí ẩn
lớn nhất của Văn phòng”, Gabriel đáp. “Có đủ loại giả thuyết điên rồ để phỏng
đoán nguyên nhân và diễn biến, nhưng ông ấy không chịu nói sự thật”.

“Đó là đêm xảy ra vụ đánh bom
ở Viên. Ari vội vàng đến đại lộ King Saul. Khi trèo lên xe, chiếc áo khoác bị mắc
lại ở cửa, thế là ông kéo rách”. Bà đưa ngón tay mân mê chỗ rách. “Tôi nhiều
lần muốn vá, nhưng ông ấy không chịu để tôi làm. Cứ để thế để tưởng nhớ Leah và
Dani, ông nói. Ông ấy đã mặc chiếc áo rách nhiều năm nay vì những gì xảy ra với
vợ con anh”.

Điện thoại reo. Gabriel nhấc
ống nghe áp vào tai và lắng nghe một lúc trong yên lặng. “Tôi sẽ có mặt ngay,
thưa ngài”, anh nói rồi cúp máy và quay sang Gilah.

“Điện thoại của Thủ tướng.
Ông ấy muốn gặp tôi ngay lập tức. Tôi sẽ quay trở lại sau buổi họp”.

“Đừng lo, Gabriel. Yonatan sẽ
đến đây ngay”.

“Tôi sẽ quay trở lại, Gilah”.

Giọng anh cương quyết. Anh
hôn má bà, cảm thấy mình có lỗi, rồi đứng dậy bước đi. Gilah nắm tay Gabriel
khi anh đi về phía cửa. “Mang theo cái này”, bà nói. “Ông ấy sẽ muốn anh giữ
nó”.

“Đừng nói như thể Ari sẽ
không qua khỏi”.

“Mặc áo vào và đi đi”. Bà mỉm
cười cay đắng. “Anh không được để Thủ tướng chờ”.

Gabriel bước ra hành lang và
đi vội đến thang máy. Anh không được để Thủ tướng chờ. Đó là những lời Gilah
luôn nói với Shamron mỗi khi ông rời xa bà đi làm nhiệm vụ.

Xe hơi và đội cận vệ đang chờ
anh ở bên ngoài. Họ chỉ mất năm phút để tới văn phòng Thủ tướng ở số 3 đường
Kaplan. Những người cận vệ đưa Gabriel vào tòa nhà qua lối ngầm và dắt anh lên
cầu thang vào một văn phòng lớn đơn giản đến bất ngờ trên lầu cao nhất. Căn
phòng tranh tối tranh sáng. Thủ tướng đang ngồi tại bàn làm việc trong một chùm
ánh sáng chiếu vào. Trông ông nhỏ bé hẳn đi trong tương quan với bức vẽ chân
dung cao lớn của nhà lãnh đạo Do Thái Theodore Herzl đang treo trên tường. Đã
hơn một năm Gabriel mới được diện kiến ông. Trong khoảng thời gian này, tóc ông
đã chuyển từ màu bạc sang trắng, và đôi mắt màu nâu đã có ánh nhìn mệt mỏi của
người già. Cuộc họp với Bộ An ninh vừa kết thúc, và Thủ tướng đang ở một mình cùng
Amos Sharret, tân Giám đốc của Văn phòng. Ông ta đang nhấp nha nhấp nhổm đầy
căng thẳng trong chiếc ghế bằng đồng, Gabriel bắt tay ông lần đầu tiên. “Rất
hân hạnh, cuối cùng cũng được gặp anh”, Amos nói. “Tôi ước rằng chúng ta gặp
nhau trong hoàn cảnh khác”.

Gabriel ngồi xuống.

“Cậu đang mặc áo của
Shamron”, Thủ tướng nhận xét.

“Gilah muốn tôi mặc chiếc áo
này”.

“Chiếc áo hợp với cậu đấy”.
Ông mỉm cười xa vắng. “Cậu biết không, cậu đang bắt đầu trở nên giống ông ấy”.

“Đây có phải là lời khen
không?”

“Ông ấy rất đẹp trai khi còn
trẻ”.

“Ông ấy chưa bao giờ trẻ,
thưa Thủ tướng”.

“Chúng ta cũng vậy thôi,
chúng ta già trước tuổi, và hi sinh tuổi thanh xuân để xây dựng đất nước này.
Shamron chưa có lấy một ngày nghỉ phép kể từ năm 1947. Chẳng lẽ mọi chuyện lại
kết thúc như thế này sao?” Thủ tướng lắc đầu. “Không, ông ấy sẽ sống. Tin tôi
đi, Gabriel, tôi biết ông ấy còn lâu hơn cậu”.

“Shamron là người bất tử.
Gilah nói thế”.

“Có lẽ không phải là bất tử,
nhưng ông ấy sẽ không thể bị một nhóm khủng bố cướp đi mạng sống”.

Thủ tướng cau mày nhìn đồng
hồ.

“Thủ tướng có chuyện muốn bàn
với tôi?”

“Về việc bổ nhiệm cậu làm đội
trưởng Lực lượng Đặc nhiệm”.

“Tôi đã đồng ý nhận nhiệm vụ
này, thưa Thủ tướng”.

“Tôi biết, nhưng có lẽ bây
giờ không phải là thời điểm thích hợp để cậu nhậm chức”.

“Tôi có thể hỏi lí do tại sao
không?”

“Bởi vì cậu cần tập trung sức
lực lần theo dấu vết và trừng phạt những kẻ đã làm điều này với Shamron”.

Thủ tướng đột ngột im lặng,
tựa như muốn cho Gabriel cơ hội thoái thác. Gabriel ngồi im, mắt nhìn xuống đôi
bàn tay của mình.

“Cậu làm tôi ngạc nhiên”, Thủ
tướng lên tiếng.

“Về việc gì?”

“Tôi cứ sợ cậu sẽ bảo tôi tìm
một người khác”.

“Không ai được phép từ chối
Thủ tướng”.

“Nhưng chắc chắn không chỉ vì
lý do này”.

“Tôi có mặt ở Rome khi bọn
khủng bố tấn công Vatican, và tôi cũng tiễn Shamron ra xe tối nay. Tôi nghe
tiếng bom nổ”. Anh ngừng lại. “Mạng lưới này cần phải bị tiêu diệt, cho dù
chúng là ai hay mục đích của chúng là gì - và phải tiêu diệt càng nhanh càng
tốt”.

“Cậu nói như thể muốn trả
thù”.

Gabriel nhìn lên. “Tôi muốn
làm điều đó, thưa Thủ tướng. Có lẽ trong hoàn cảnh như thế này, tôi không phải
là người thích hợp cho công việc”.

“Thực ra trong hoàn cảnh này,
anh là người hoàn toàn thích hợp”.

Chính Amos là người thốt lên
câu ấy. Lần đầu tiên, Gabriel quay lại nhìn kỹ ông. Người ông nhỏ nhưng khỏe
khoắn, người như hình vuông. Tóc ông màu đen với đường viền như giáo sỹ, đôi
lông mày ông rậm rạp. Ông vẫn là tướng trong IDF 1nhưng bây giờ ông không mặc
quân phục mà mặc bộ đồ vest màu xám nhạt. Sự thẳng thắn của ông đã đem lại
những thay đổi mới cho văn phòng. Lev giống que chọc của nha sỹ, lúc nào cũng
tìm ra yếu điểm và những chỗ hư thối. Amos giống búa đóng đinh hơn. Gabriel sẽ
phải rất cẩn thận khi làm việc cùng ông, phòng ngừa trường hợp búa rơi lên đầu
mình.

“Chỉ cần cẩn thận không để sự
giận dữ làm mờ đi sự sáng suốt của mình”, Amos nói thêm.

“Chưa bao giờ có chuyện ấy”,
Gabriel trả lời, ánh mắt anh đáp trả cái nhìn cú vọ của Amos.

Amos cười nhạt, tựa như muốn
nói. Sẽ không có vụ nổ bom ở ga Lyon nếu trong ca trực của tôi, chắc chắn là
như thế. Thủ tướng tì lên hai khuỷu tay và ngả người tới trước.

“Cậu có nghĩ người Arập Xêút
đứng sau vụ này?”

“Chúng ta có bằng chứng cho
thấy mối liên hệ của Arập Xêút với hội Huynh đệ Allah”. Gabriel thận trọng nói,
“Nhưng chúng ta cần thêm thông tin mới có thể bắt đầu tìm kiếm một nhân vật cụ
thể”.

“Ví dụ như Ahmed bin Shafiq”.

“Vâng, thưa Thủ tướng”.

“Nếu đúng là hắn thì sao?”

“Theo ý kiến của tôi, chúng
ta đang đối mặt với một tổ chức, không phải là đang đối mặt với một phong trào.
Đó là một tổ chức được chi trả bằng tiền của Arập Xêút. Nếu chúng ta tiêu diệt
tên thủ lĩnh, tổ chức này sẽ chết. Nhưng việc này không dễ, thưa Thủ tướng.
Chúng ta biết rất ít về hắn, thậm chí còn không biết hình dáng hắn như thế nào.
Việc này cũng sẽ rắc rối về mặt chính trị, vì có liên quan đến người Mỹ”.

“Chẳng có gì phức tạp. Ahmed
bin Shafiq cố giết cố vấn thân cận nhất của ta. Vì thế hắn phải chết”.

“Nếu hắn hành động theo mệnh
lệnh của Hoàng tử Nabil hay của một ai đó trong hoàng tộc - gia đình có mối
quan hệ về kinh tế và lịch sử chặt chẽ với đồng minh quan trọng nhất của
Israel?”

“Chúng ta sẽ sớm biết việc
này”.

Thủ tướng nhìn sang Amos.

“Adrian Carter bên CIA muốn
nói chuyện với cậu”, Amos thông báo.

“Ngày mai tôi sẽ đi Washington
để tóm tắt cho anh ta những gì chúng ta biết về vụ tấn công Vatican”.

“Carter đã yêu cầu đổi địa
điểm gặp mặt”.

“Ông ta muốn gặp ở đâu?”

“Luân Đôn”.

“Tại sao lại là Luân Đôn?”

“Do Carter đề nghị”, Amos trả
lời. “Ông ta muốn gặp tại một địa điểm trung lập tiện lợi cho cả hai bên”.

“Căn nhà an toàn của CIA ở
Luân Đôn trở thành đất trung lập từ khi nào vậy?”. Gabriel nhìn Thủ tướng, sau
đó nhìn Amos. “Tôi không muốn rời Jerusalem - cho đến khi biết chắc liệu
Shamron có qua khỏi không”.

“Carter bảo việc này khẩn
cấp”, Amos nói. “Ông ta muốn gặp cậu tối mai”.

“Vậy thì cử người khác đi gặp
ông ta”.

“Chúng tôi không thể”, Thủ
tướng nói. “Cậu là người duy nhất được mời”.

Chú thích

* * *

1. Lực lượng phòng thủ
Israel.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.