Tam quốc diễn nghĩa - Chương 089
HỒI 89
Võ Vương hầu bốn phen dùng mẹo;
Nam
Man vương năm lượt vào tròng.
Lại nói Khổng Minh ngồi chiếc xe nhỏ, dẫn vài trăm kị binh
đi lên phía trước xem địa thế. Ở đây có một con sông gọi là Tây Nhĩ Hà, nước
chảy tuy không xiết mấy nỗi, nhưng chẳng thấy một chiếc thuyền bè nào đi lại. Khổng
Minh sai dẫn gỗ đóng bè thả xuống sông, nhưng vừa thả xuống, bè đã chìm. Khổng
Minh mới hỏi Lã Khải. Khải nói:
- Tôi nghe trên thượng lưu sông này, có một trái núi, tre
mọc như rừng, có lắm cây to, nên sai người dẫn xuống bắc cầu cho quân mã qua
sông.
Khổng Minh lập tức sai ba vạn quân vào núi chặt vài vạn cây
tre, thuận dòng thả xuống, tới chỗ khúc sông nhỏ hẹp, bắc một dịp cầu rộng hơn
mười trượng. Rồi điều đại quân suốt dọc bờ sông, hạ một dãy trại, lấy ngay sông
làm hào, cầu làm cửa trại, đất lũy làm thành trì, cho quân sang mé bên kia sông,
hạ ba cái trại to nữa để đợi quân Man.
Nói về Mạnh Hoạch dẫn vài chục vạn quân, hằm hằm kéo đi; gần
đến bờ sông, Hoạch đem một vạn quân đao mộc tới thẳng cửa trại khiêu chiến. Khổng
Minh đầu đội khăn lượt, mình mặc áo cánh bạc, tay cầm quạt lông, ngồi trên xe
bốn ngựa kéo. Các tướng xúm quanh tả hữu đi ra. Khổng Minh trông sang bên kia, thấy
Mạnh Hoạch mình mặc áo giáp da tê, đầu đội mũ chỏm sơn đỏ, tay tả cầm mộc, tay
hữu cầm đao, cưỡi trâu đỏ, miệng đang chửi mắng lảm nhảm. Quân thủ hạ múa may
đao mộc, hung hăng xông xáo.
Khổng Minh kịp rút quân về trại, bốn mặt cửa đóng chắc chắn,
không cho ra đánh. Quân Man cởi trần truồng đến thẳng cửa trại chửi mắng.
Các tướng giận lắm, vào bẩm với Khổng Minh, xin ra quyết một
trận tử chiến. Khổng Minh không nghe. Các tướng cố nằn nì mãi, Khổng Minh bảo
rằng:
- Quân rợ không tuân vương hóa, chuyến này lại đây, thế đang
hung tợn, chưa nên đánh vội, hãy giữ vững vài ba hôm, thế hung tợn giảm đi, ta
khắc có mẹo phá được.
Vài hôm sau, Khổng Minh trèo lên gò cao xem, nhìn thấy quân
Man đã ra dáng trễ nải mới hội các tướng lại hỏi rằng:
- Các ngươi có dám ra đánh không?
Các tướng hớn hở xin đi. Khổng Minh trước hết gọi Triệu Vân,
Ngụy Diên vào trướng, ghé tai dặn dò mẹo mực. Hai người lĩnh kế đi trước. Lại
gọi đến Vương Bình, Mã Trung lĩnh kế ra đi. Rồi gọi Mã Đại dặn rằng:
- Sau khi quân ta lui rồi, trong trại phải đốt đèn lửa cho
nhiều. Mạnh Hoạch biết tin, tất đem quân đuổi theo, ngươi nên lẻn ra mặt sau mà
chặn đường.
Trương Dực nhận kế lui ra.
Khổng Minh sai Quan Sách hộ xe, rút hết quân mã, nhưng trong
trại đèn đuốc vẫn đốt sáng choang. Quân Man thấy vậy không dám xông xáo.
Sáng hôm sau, Mạnh Hoạch dẫn quân đến, thấy ba trại không có
quân mã gì cả, bỏ lại hơn một trăm xe lương thực khí giới.
Mạnh Ưu nói:
- Gia Cát Lượng bỏ trại mà chạy, hoặc là có mẹo gì chăng?
Mạnh Hoạch nói:
- Gia Cát Lượng bỏ cả xe lương mà chạy thế này, chắc trong
nước có việc gì khẩn cấp, phi Ngô xâm, tất Ngụy cướp, cho nên phải đốt đèn đó
để làm nghi binh mà đi cho thoát đây! Ta phải đuổi gấp, không nên để lỡ mất cơ
hội.
Bởi thế, Mạnh Hoạch cầm quân đi trước, đến sát bờ sông Tây
Nhĩ Hà, trông sang bên kia thấy tinh kì vẫn chỉnh tề như trước, đỏ ối một góc
trời. Quân Man không dám tiến sang nữa.
Hoạch bảo Ưu rằng:
- Đây hẳn là Gia Cát Lượng sợ quân ta đuổi theo, cho nên còn
tạm đóng quân lại đây, chỉ vài ngày nữa tất phải rút hết.
Bèn đóng quân ở bờ sông, sai vào núi chặt tre đóng bè, sửa
soạn sang sông, rồi bắt những tên can đảm dời đến ở trước trại. Nhưng quân Man
không biết quân Thục đã vào tận tổ mình từ lâu rồi. Bữa ấy gió nổi to, bốn phía
lửa cháy nghi ngút, trống khua inh ỏi, quân Thục kéo đến. Quân Man xô đẩy lẫn
nhau. Mạnh Hoạch vội vàng dẫn họ hàng đánh mở đường trở về trại cũ. Bỗng đâu
một toán quân ở trong xông ra, đó là Triệu Vân. Hoạch vội vàng lẻn chạy vào
phía khe núi, lại gặp một toán quân đánh ra, đó là Mã Đại. Hoạch chỉ còn vài
mươi tên quân đi theo, chạy chúi vào trong hang núi. Hoạch trông ra ba mặt tây,
nam, bắc, chỗ nào cũng bụi bay lửa cháy, vì thế không dám tiến nữa, phải quay
chạy về phía đông. Hoạch vừa qua khỏi cửa núi, trông ra mé rừng trước mặt, thấy
vài mươi người đang đẩy một cỗ xe, Khổng Minh ngồi chễm chệ ở trên, cười khanh
khách, mà rằng:
- Man vương Mạnh Hoạch, trời làm thua đến thế này, ta đợi ở
đây đã lâu rồi!
Hoạch nổi giận, ngoảnh lại bảo tả hữu rằng:
- Ta mắc phải quỷ kế người này, chịu nhục đã ba phen rồi; nay
lại gặp nhau ở đây, chúng mày phải cố sức sấn vào, băm nhỏ xe lẫn người như cám
cho ta!
Quân Man tràn sang, Mạnh Hoạch hò hét đi đầu. Khi gần đến
nơi, bỗng nhiên đánh ầm một tiếng, quân Man lăn nhào cả xuống hố. Ngụy Diên dẫn
vài trăm quân ra, trói ráo lại không chừa một người nào.
Khổng Minh về trại trước, chiêu an quân Man và tù trưởng các
động, cho ăn cơm uống rượu, đem lời ngọt ngào dỗ dành, tha cho đâu về đấy. Ai
nấy đều cảm tạ bụng Khổng Minh.
Một lát Trương Dực giải Mạnh Ưu vào, Khổng Minh trách rằng:
- Anh ngươi ngu dại, ngươi nên cản ngăn mới phải, nay bị ta
bắt bốn phen rồi, còn mặt mũi nào trông thấy người ta nữa không?
Mạnh Ưu hổ thẹn quá, lạy phục xuống đất xin tha tội.
Khổng Minh nói:
- Ta chưa giết vội, hãy tha cái mạng ngươi, để về mà anh em
khuyên bảo nhau.
Rồi sai cởi trói thả Mạnh Ưu về. Ưu khóc lạy ra đi.
Một lát, Ngụy Diên giải Mạnh Hoạch đến. Khổng Minh hằm hằm
quát rằng:
- Lần này lại bị ta bắt, ngươi còn nói gì nữa?
Hoạch nói:
- Ta lỡ mắc phải mẹo lừa, dẫu chết cũng không nhắm được mắt!
Khổng Minh quát võ sĩ lôi ra chém. Hoạch không chút sợ hãi, ngoảnh
lại bảo Khổng Minh rằng:
- Nếu lại tha cho ta về, ta phải quyết trả thù được bốn phen
phải bắt này.
Khổng Minh cười rộ, sai cởi trói cho Hoạch, cho uống rượu tử
tế rồi để nghỉ ngơi trong trướng. Khổng Minh hỏi rằng:
- Ta bốn lần đãi ngươi tử tế, cớ sao ngươi vẫn không chịu
phục?
Hoạch nói:
- Ta tuy là người rợ mọi, nhưng không chuyên dùng quỷ kế như
thừa tướng, cho nên ta chưa phục.
Khổng Minh nói:
- Ta lại tha cho ngươi về, còn dám đánh nhau nữa thôi?
Hoạch nói:
- Chuyến này thừa tướng cho ta về, nếu lại bắt được ta nữa, ta
xin dốc lòng hàng phục, dâng hết cả của cải trong động, thề không dám làm phản
nữa.
Khổng Minh liền cười, tha cho. Hoạch vui vẻ lạy tạ, về tụ tập
được vài ngàn quân các động, kéo xuống phía nam. Đang đi bỗng gặp một toán quân
mã kéo đến, té ra Mạnh Ưu. Ưu định thu nhặt tàn quân đến đánh báo thù cho anh. Hai
anh em ôm lấy nhau mà khóc, kể lể việc trước.
Ưu nói:
- Quân ta thua luôn, quân Thục được mãi thế này, khó lòng
chống lại được. Ta chỉ nên ẩn lánh vào nơi động sâu không ra nữa. Quân Thục
không chịu được nóng nực, tất nhiên phải rút về.
Hoạch nói:
- Có chỗ nào ẩn lánh được không?
Ưu nói:
- Từ đây đi về mé tây nam, có một động gọi là động Thứu Long.
Chúa động tên là Đóa Tư đại vương, chơi thân với anh lắm, nên sang đấy mà ẩn.
Hoạch sai Mạnh Ưu đến nói chuyện trước với Đóa Tư đại vương.
Đóa Tư vội dẫn quân ra đón Mạnh Hoạch vào động. Chào hỏi nhau xong, Hoạch thuật
lại chuyện trước.
Đóa Tư nói:
- Đại vương khoan tâm chớ ngại; nếu quân Xuyên đến đây, một
mống cũng không sống được mà về đến làng, ngay cả Gia Cát Lượng cũng sẽ phải
chết ở xứ này mà thôi!
Hoạch mừng lắm, hỏi Đóa Tư xem có mẹo gì hay thế.
Đóa Tư nói:
- Ở động này chỉ có hai con đường vào được. Một con về mé
đông bắc, tức là con đường đại vương đi đến đây. Đường ấy địa thế phẳng phiu, đất
lành nước ngọt, người ngựa đi lại dễ dàng. Nếu lấy đá gỗ chặn lấp cửa động, thì
dẫu có trăm vạn quân, cũng không sao vào lọt. Còn một con đường ở mé tây bắc, núi
non hiểm ác, đường sá hẹp hòi, lại lắm rắn dữ, rết độc, mỗi ngày về buổi chiều,
chướng khí bốc lên, đến mãi trưa hôm sau mới tan, chỉ trong giờ Thân, giờ Dậu
mới có thể đi lại được. Nước không uống được, ngựa người khó đi lắm. Lại có bốn
ngọn suối độc: Một là A Toàn, nước tuy ngọt, nhưng uống phải thì không nói được,
chỉ mười ngày là chết. Hai là Diệt Toàn, nước nóng như đun sôi, nhỡ ai động
phải thì da thịt ruỗng ra, thấu đến xương mà chết. Ba là Hoắc Toàn, nước hơi
trong, ai dúng phải thì chân tay đen cả ra mà chết. Ở xứ này đến con chim, con
sâu cũng không có. Trước kia chỉ có quan Phục Ba tướng quân nhà Hán đến đây một
lần; từ đấy, không ai dám qua nữa. Nay chặn lấp đường đông bắc, đại vương cứ ở
yên trong động tôi. Quân Thục thấy vậy, tất phải đi theo con đường mé tây. Qua
đó, uống phải nước suối thì dẫu trăm vạn quân cũng không sao về được. Can gì
phải đánh chác cho mệt?
Mạnh Hoạch mừng lắm, giơ tay lên trán, nói:
- Nay mới có chỗ ở yên đây!
Lại trỏ sang mặt bắc, nói:
- Tha hồ cho Gia Cát Lượng mưu thần mẹo thánh cũng chẳng làm
trò gì! Chỉ bốn ngọn suối này cũng đủ báo thù được bốn phen ta thua trước!
Từ đó, Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu cả ngày chỉ cùng với Đóa Tư uống
rượu ăn yến.
Lại nói Khổng Minh mấy hôm không thấy Mạnh Hoạch tiến ra, liền
truyền lệnh cho quân rời Tây Nhĩ Hà, kéo xuống phía nam. Bấy giờ, đang tháng
sáu, trời nắng chang chang, nóng hơn lửa đốt. Người đời sau vịnh cái nóng
phương Nam như sau:
Núi đầm đều khô cháy,
Lửa nóng tựa vầng dương.
Biết đâu ngoài trời đất,
Nóng bức thực khôn lường.
Khổng Minh dẫn quân đang đi, chợt có tiễu mã về báo rằng:
- Mạnh Hoạch ẩn trong động Thửu Long, chặn lấp mất cửa động,
cho quân canh giữ, chốn ấy núi non hiểm hóc, không thể tiến lên được.
Khổng Minh đòi La Khải đến hỏi. Khải nói:
- Tôi từng nghe động này có một con đường, nhưng không rõ
thế nào.
Tưởng Uyển nói:
- Mạnh Hoạch bốn lần bị bắt, đã sợ mất vía, còn giám ra gì
nữa? Huống lúc này tiết trời nóng nực, quân đã mệt mỏi, đánh cũng vô ích, thà
đem quân về còn hơn.
Khổng Minh nói:
- Về thì trúng phải kế của Mạnh Hoạch rồi. Quân ta rút lui, hắn
tất thừa thế đuổi theo. Đã đến đất này, lẽ đâu ta chịu về không?
Bèn sai Vương Bình mang vài trăm quân làm tiền bộ, bắt quân
Man dẫn lối, tìm con đường nhỏ mé tây bắc đi vào. Quân mã đến một ngọn suối, đang
khát tranh nhau xuống múc nước uống. Vương Bình tìm được đường rồi, định về báo
với Khổng Minh. Nhưng về đến trại thì thấy quân sĩ không ai nói được, chỉ lấy
tay trỏ vào mồm ra hiệu. Khổng Minh giật mình, biết là trúng độc, mới cưỡi
chiếc xe nhỏ, dẫn vài mươi tên quân đến xem, thấy một vũng nước trong suốt đến
tận đáy, trong mà rùng mình không ai dám lội xuống. Khổng Minh xuống xe, lên
cao đứng ngắm thấy bốn phía núi cao chót vót, lặng ngắt như tờ, không có tiếng
chim chóc gì cả, Khổng Minh trong bụng lấy làm nghi lắm. Chợt thấy trên đỉnh
núi có một tòa cổ miếu. Khổng Minh liền vịn cành níu dây, mon men trèo lên tận
đỉnh, thấy một pho tượng tướng quân ngồi uy nghi ở giữa. Cạnh miếu có một tấm
bia đá, xem ra là miếu quan Phục Ba tướng quân Mã Viện, khi xưa đánh Man, qua
đây, người bản xứ lập miếu thờ, Khổng Minh bèn vào lạy và khấn rằng:
- Tôi là Lượng, vâng lời tiên đế ủy thác con tôi, nay phụng
thánh chỉ đến đây bình Man. Tôi muốn dẹp xong Man phương, quay về đánh Ngụy, diệt
Ngô, đem lại giang sơn nhà Hán. Quân sĩ không tường địa lí, lỡ uống phải nước
độc, nói không ra tiếng. Xin tôn thần nghĩ đến ân nghĩa bản triều, thông linh
hiển thánh cứu cho ba quân!
Khấn xong, ra ngoài cửa miếu xem có người nào qua lại thì
hỏi. Bỗng thấy một ông cụ già từ trái núi bên kia đang chống gậy đi lên, hình
dung kì lạ. Khổng Minh mời cụ già ấy vào miếu, chào hỏi xong, ngồi chơi trên
tảng đá. Khổng Minh hỏi tên tuổi. Cụ già nói:
- Lão phu nay nghe danh thừa tướng, may được bái kiến ở đây!
Người Man phương này, được đội ơn thừa tướng tha tội cho cũng nhiều, đều có
bụng cảm ơn lắm.
Khổng Minh hỏi đến suối độc.
Cụ già nói:
- Quân của thừa tướng uống phải suối câm, chỉ vài ngày là
chết. Ngoài suối ấy ra lại có ba ngọn suối nữa, gọi là Diệt Toàn, Nhu Toàn, Hắc
Toàn. Bốn suối ấy toàn là khí độc tụ lại, không thuốc gì chữa được. Hơn nữa
chướng khí bốc lên, chỉ trong vài giờ Mùi, giờ Thân, giờ Dậu là qua lại được, còn
đi vào giờ khác đều nhiễm phải chướng khí mà chết liền.
Khổng Minh nói:
- Nếu thế, phương Man không thể bình được. Phương Man không
bình xong, đánh sao được Ngô, Ngụy nữa, mà đem lại giang sơn cho nhà Hán, há
chẳng phải mất việc phó thác của tiên đế ru? Ta sống nữa cũng vô ích, sao bằng
chết đi cho rảnh!
Cụ già nói:
- Thừa tướng đừng lo, lão phu xin chỉ dẫn một chỗ có thể cứu
vãn được.
Khổng Minh nói:
- Lão trượng có cao kiến gì, xin chỉ bảo ngay cho.
Cụ già nói:
- Tự đây đi thẳng mé tây vài dặm, có một hang núi, vào trong
hang đi hai trăm dặm nữa, đến một cái khe, gọi là khe Vạn An. ở đó, có một cao
sĩ, gọi là Vạn An ẩn giả. Đã vài mươi năm nay, người ấy không rời khỏi khe. Sau
nhà ông có một cái suối, gọi là suối Ba Lạc. Ai trúng phải độc, uống nước suối
ấy khỏi liền. Hoặc người nào sinh ghẻ, nhiễm phải chướng khí, tắm nước suối ấy
tự nhiên không việc gì. Trước nhà có một thứ cỏ gọi là giới diệp vân hương, ngậm
lá cỏ ấy trong mồm, thì chướng khí không nhiễm vào được. Thừa tướng nên đến đấy
mà cầu cho mau.
Khổng Minh lạy tạ, nói:
- May nhờ trưởng giả rủ lòng cứu mệnh, ghi nhớ không bao giờ
dám quên. Xin trưởng giả cho tôi được biết tên tuổi?
Cụ già nói:
- Ta là thần núi ở xứ này, phụng mệnh quan Phục Ba tướng
quân, lại chỉ bảo giúp ngài.
Nói đoạn, quát một tiếng, cửa đá trong miếu tự nhiên mở ra, ông
cụ bước vào rồi biến mất.
Khổng Minh lấy làm lạ, vào miếu lạy tạ, rồi tìm đường cũ lên
xe về trại.
Hôm sau, Khổng Minh đem hương hoa lễ vật dẫn Vương Bình và
bọn quân câm, theo lời thần chỉ, lần mò kéo đi, vào một hang núi, đi hai mươi
dặm nữa, thấy thông to, bách cổ, trúc lạ, hoa thơm, rườm rà xung quanh một khu
nhà. Sau bức rào, có mấy gian nhà tranh, mùi hoa ngào ngạt. Khổng Minh mừng lắm,
bước tới gõ cửa. Một tiểu đồng đi ra. Khổng Minh toan hỏi, thì lại thấy một
người đội nón nan, đeo dép cỏ, áo bào trắng, dây lưng thâm mắt biếc, tóc vàng, hớn
hở bước tới, hỏi ngay rằng:
- Có phải Hán thừa tướng đến đó không?
Khổng Minh nói:
- Cao sĩ sao lại biết tôi thế?
Ẩn giả nói:
- Lâu nay nghe thừa tướng sang nam chinh, sao lại không
biết?
Bèn mời Khổng Minh vào nhà chơi. Khổng Minh nói:
- Tôi chịu lời ủy thác của Chiêu Liệt hoàng đế, nay lại
phụng chỉ tự vương, dẫn quân đến đây, dẹp yên cõi rợ, cho theo về vương hóa. Không
ngờ, Mạnh Hoạch ẩn lấp trong động này, quân sĩ lỡ uống phải suối câm. Đêm qua, nhờ
có Phục Ba tướng quân hiển thánh, bảo rằng cao sĩ có suối thuốc chữa được. Vậy
xin cao sĩ rộng lượng cho ít nước thần, để cứu vớt cái sống thừa của ba quân.
Ẩn giả nói:
- Lão phu là người quê kệch ở chốn núi rừng, thừa tướng lọ
phải uổng công đến đây. Suối này ở ngay sau nhà, xin cứ việc ra mà uống.
Ẩn giả mới sai tiểu đồng đưa Vương Bình và quân lính ra suối
lấy nước. Uống xong, quân lính đều liền thổ ra dãi độc, rồi nói được ngay. Tiểu
đồng lại đưa cả bọn đến khe Vạn An tắm táp.
Ẩn giả ở trong nhà pha chè hạt bách, thiết đãi Khổng Minh, và
nói:
- Ở xứ này lắm giống rắn dữ, rết độc, hoa liễu bay vào trong
khe, nước không sao uống được phải đào giếng mới xong.
Khổng Minh xin hỏi tên họ. Ẩn giả cười, nói:
- Chẳng giấu gì thừa tướng, tôi là Mạnh Tiết anh ruột Mạnh Hoạch
đây!
Khổng Minh ngạc nhiên.
Ẩn giả nói:
- Thừa tướng chớ nghi, tôi xin nói rõ. Cha mẹ tôi sinh được
ba người con, tôi là trưởng, thứ hai là Mạnh Hoạch, thứ ba là Mạnh Ưu. Cha mẹ
chúng tôi mất sớm, hai em tôi cứng đầu, cứng cổ, không tuân vương hóa. Tôi can
bảo chúng nó không nghe, nên phải đổi tên, ẩn dật ở đây. Nay em tôi làm phản, để
thừa tướng phải khó nhọc, đến xứ bất mao này, tội tôi thật đáng muốn chết; bởi
thế, xin thú tội với thừa tướng trước.
Khổng Minh than rằng:
- Thế mới biết việc Đạo Trích với Liễu Hạ Huệ thời nay cũng
có.
Bèn bảo Mạnh Tiết rằng:
- Tôi xin tâu với thiên tử cử ông lên làm vua xứ này có được
không?
Tiết nói:
- Tôi vì ghét công danh, nên trốn ra đây, còn bụng nào tham
phú quý nữa!
Khổng Minh bèn lấy vàng lụa ra tạ. Mạnh Tiết cố từ chối
không chịu lấy. Khổng Minh cảm phục, từ biệt ra về.
Có thơ khen rằng:
Thảnh thơi trong một túp lều tranh,
Suối mát, hoa thơm, cảnh cũng thanh,
Cổ thụ um tùm, người vắng ngắt,
Hãy còn khói biếc khóa non xanh.
Khổng Minh về đến trại, sai quân đào giếng lấy nước, đào sâu
hơn hai mươi trượng, không thấy một giọt nước nào, mười chỗ đào đều thế cả, quân
sĩ nhao cả lên.
Nửa đêm hôm ấy Khổng Minh đốt hương, kêu khấn trời rằng:
- Lượng bất tài, ngẩng đầu mang ơn phúc nhà Đại Hán, phụng
mã khao khát cả. Trời ví bằng chưa tuyệt nhà Hán, xin cho ngay suối ngọt chảy
ra, nếu khi số nhà Hán đã hết, Lượng cũng xin chết tại xứ này.
Khổng Minh khấn xong, đến sáng ra giếng nào cũng đầy ăm ắp
nước ngọt.
Có thơ rằng:
Vì nước đem binh tới cõi Man,
Giời hè, đất sỏi, giếng khô khan.
Lòng thành âu có thần minh chứng,
Khấn khứa vừa xong nước chảy giàn.
Quân sĩ được suối ngọt, ăn uống thỏa thuê, mới theo đường
tắt đến thẳng trước động Thứu Long hạ trại.
Quân Man dò thấy, về báo với Mạnh Hoạch rằng:
- Quân Thục không nhiễm phải chướng khí, mà cũng chẳng thấy
khô khát gì cả; các suối độc là thế mà không nghiệm.
Đóa Tư đại vương không tin, cùng Mạnh Hoạch trèo lên núi
đứng xem, thấy quân Thục quả nhiên yên ổn như thường, kẻ gánh thùng to, người
xách thùng nhỏ, tranh nhau lấy nước về thổi cơm và cho ngựa uống. Đóa Tư rợn
tóc gáy, ngoảnh lại bảo Mạnh Hoạch rằng:
- Đây chắc là thần binh!
Hoạch nói:
- Hai anh em tôi, xin liều đánh nhau với quân Thục một trận,
dù chết ngay cũng đánh, chớ đâu ngồi bó tay chịu trói!
Đóa Tư đại vương nói:
- Nếu quân đại vương thua, thì vợ con tôi cũng nguy cả. Vậy
phải giết trâu, mổ bò, khao thưởng quân động để chúng cố sức lăn xả vào trại
Thục mà đánh, may ra mới thắng được.
Bèn mở đại tiệc khao quân. Lúc quân Man sắp khởi hành, sực
có tin báo chúa động Ngân Dã là Dương Phong ở mé tây sau động này, dẫn ba vạn
quân lại giúp.
Mạnh Hoạch mừng rỡ, nói:
- Quân láng giềng giúp ta, phen này chắc đánh được quân Thục.
Bèn cùng Đóa Tư đại vương ra đón tiếp Dương Phong vào.
Phong nói:
- Tôi có ba vạn tinh binh đều mặc thiết giáp, giỏi nghề trèo
non vượt suối, có thể địch được quân Thục trăm vạn. Tôi lại có năm con tinh
thông võ nghệ, xin đem lại giúp đại vương.
Nói rồi, gọi năm con ra lạy. Người nào cũng mình beo dáng hổ,
tướng giữ sức mạnh. Mạnh Hoạch mừng lắm, Mở tiệc khoản đãi cha con Dương Phong.
Rượu nửa chừng, Phong nói:
- Trong quân không có gì làm vui, tôi đã đem theo bọn gái
Man, múa đao che mộc cực giỏi, xin cho ra giúp vui một chút.
Hoạch mừng rỡ, ưng lời. Một lát, vài ba chục cô gái Man, người
nào cũng xõa tóc, đi chân không, từ ngoài trường múa mênh đi vào. Bọn Man vỗ
tay ca hát, hòa theo nhịp múa. Dương Phong lại sai hai con dâng chén chúc mừng
Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu. Hai người đỡ chén toan uống, Phong bèn quát to một tiếng, hai
con bắt ngay Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu trói nghiến lại. Đóa Tư toan chạy, bị Dương
Phong bắt nốt. Bọn gái Man đứng dàn ở ngoài trướng, không ai dám đến gần.
Hoạch bảo Dương Phong:
- Thỏ chết, cáo thương, vật còn biết xót đồng loại huống chi
ta với ngươi đều là chúa các động, xưa nay không thù hằn gì nhau, tại sao ngươi
chực hại ta làm vậy?
Phong nói:
- Anh em con cháu ta, đều đội ơn Gia Cát thừa tướng tha tội,
không biết lấy gì báo đền. Nay ngươi làm phản, nên ta bắt đem nộp cho thừa
tướng đây!
Quân Man các động, tan chạy đâu về đấy cả. Dương Phong giải
Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu, Đóa Tư đến trại Khổng Minh. Khổng Minh đòi vào, Phong lạy
ở dưới trướng, thưa rằng:
- Con cháu chúng tôi, đều được đội ơn đức thừa tướng, cho
nên bắt bọn Mạnh Hoạch lại nộp.
Khổng Minh trọng thưởng cho Dương Phong, rồi sai điệu Mạnh
Hoạch vào. Khổng Minh cười, nói:
- Phen này ngươi đã chịu chưa!
Hoạch nói:
- Ta bị bắt là không phải do tài của ngươi. Vì người trong
động ta hại lẫn nhau, mới đến nỗi này! Muốn giết thì giết, chớ ta vẫn chưa
chịu!
Khổng Minh nói:
- Ngươi lừa ta vào nơi không có nước, lại đem bốn suối độc
hại quân ta. Thế mà quân ta không việc gì, chẳng phải là lòng trời ư? Sao người
u mê làm vậy?
Hoạch lại nói:
- Tổ ta ở núi Ngân Hàng, ở đó có ba con sông hiểm trở, hai
từng ải vững bền. Nếu ngươi đến tận đấy mà bắt được ta, thì chẳng những là ta
phải phục, mà đến đời con đời cháu ta cũng dốc lòng phụng thờ nữa.
Khổng Minh nói:
- Ta tha cho ngươi lần này, về thu nhặt quân mã, quyết sống
chết một trận nữa với ta. Nếu ta tóm được mà ngươi còn không chịu, ta sẽ giết cả
chín họ nhà ngươi đi đó!
Liền quát tả hữu cởi trói cho Mạnh Hoạch. Hoạch lạy từ ra về.
Khổng Minh lại sai cởi trói cho Mạnh Ưu, Đóa Tư và cho uống
rượu hoàn hồn. Hai người sợ run cầm cập, không dám ngẩng mặt lên nhìn. Khổng
Minh cho ngựa và sai người đưa về.
Đó là:
Cõi hiếm xông pha nào việc dễ,
Mẹo kì bày đặt cũng khôn thay!
Chưa biết Mạnh Hoạch được thua thế nào, xem hồi sau phân
giải.