Pháp sư - Bí mật của Nicholas Flamel bất tử - Chương 42
CHƯƠNG 42
Hồn ma Ayala dẫn Perenelle theo ông ngang qua những
khối nhà hoang tàn rối rắn như một mê cung. Bà cố nép mình đi trong bóng tối,
hụp đầu dưới những bức tường bị đập vỡ tan tác và những ô của trống hoác, liên
tục cảnh giác trước những sinh vật di chuyển trong đêm. Bà nghĩ con nhân sư
không dám ra khỏi nhà tù—mặc cho vẻ ngoài rất kinh khủng, những con nhân sư lại
là những sinh vật nhút nhát, rất sợ bóng tối. Tuy nhiên, nhiều giống loài khác
nhau bà đã từng thấy trong những xà lim đầy mạng nhện bên dưới lại là những
sinh vật của màn đêm.
Lối vào đường hầm gần như nằm ngay dưới chân tháp đã từng là
nơi duy nhất cung cấp nước sạch. Giàn khung kim loại của nó bị muối biển, phân
chim chứa đầy a-acute;t ăn mòn, làm gỉ rét, và cái thùng chứa khổng lồ bị vô số
những lổ thủng li ti. Tuy nhiên, mặt đất ngay bên dưới tháp cây cỏ lại phát
triển sum sê, được nuôi cũng bằng cùng một thứ nước nhỏ giọt đó.
De Ayala chỉ vào một đám đất không bình thường nằm gần một
trong những cái chân tháp bằng kim loại.
“Bà có thể thấy một ống dẫn xuống tới đường hầm dưới
chỗ này. Có một lối vào đường hầm khác nữa cắt vào mặt vách đá,”
ông nói,
“nhưng chỉ có thể vào đó khi thủy triều xuống. Đó là
cách Dee mang những tù nhân của hắn đến hòn đảo. Hắn không hề biết lối vào
này.”
Perenelle tìm thấy một khúc kim loại gỉ rét và lấy nó gạt
đất đi, để lộ ra một lớp bê tông đã nứt nẻ và gãy bên dưới lớp đất. Lấy cạnh
của thanh kim loại, bà bắt đầu đào xuống chỗ đó. Bà cứ liếc mắt lên, cố phân
định những con chim đã tới gần hòn đảo cỡ nào rồi, nhưng gió lùa trên khối nhà
đổ nát và rên rỉ ai oán xuyên qua những thanh giằng kim loại gỉ rét của tháp
nước, không thể nhận ra bất kỳ tiếng ồn ào nào khác. Những tua xoắn sương mù
dày đặc lúc nãy làm yêu làm sách cả vùng San Francisco và Cầu Cổng Vàng giờ đã
ập đến đảo, bao phủ mọi thứ trong một đám mây ướt sung và đầy mùi muối.
Khi bà cạo lớp đất đi, de Ayala hướng theo một cái đốm đặc
biệt.
“Ngay đây,”
ông nói, tiếng nói của ông như tiếng thở bên tai bà.
“Những tù nhân khám phá ra sự tồn tại đường hầm và
ráng đào một ống thông khí xuống tới đó. Họ đã nghĩ là qua nhiều thập kỷ nước
chảy nhỏ giọt từ tháp sẽ làm mềm đất và thậm chí ăn vào những phiến đá bên
dưới. Nhưng họ tình cờ làm bể thủng xuyên tới hầm phía dưới, lúc đó thủy triều
cao, và họ thấy nó bị ngập. Vì thế họ từ bỏ ý định, không cố đào nữa.”
Ông nhe răng cười, một nụ cười không hề có khi ông còn
sống.
“Giá mà họ chờ cho đến khi thủy triều xuống.”
Perenelle càng cạo thêm nhiều đất, lớp đá bể càng lộ ra.
Chêm thanh kim loại dưới gờ một khối đá, bà bẩy nó lên. Đá đông nhúc nhích. Bà
đè lần nữa bằng cả hai bàn tay, và rồi, khi thấy cũng không được, bà nhấc một
viên đá cuội lên và nện như quai búa trên thanh kim loại một lần: tiếng leng
keng vang lên khắp đảo, gióng lên như một tiếng chuông.
“Ồ, không được,”
bà làu bàu. Bà miễn cưỡng phải dùng năng lượng của
mình. Điều đó sẽ làm lộ vị trí của bà cho con nhân sư biết, nhưng bà không còn
lựa chọn nào khác. Khum bàn tay phải thành hình cái chén, bà để luồng điện của
mình tụ lại trong lòng bàn tay, đọng thành vũng như thủy ngân, Bà hạ bàn tay
một cách nhẹ nhàng, rất đỗi nhẹ nhàng, trên phiến đá, rồi xoay bàn tay lại và
rót nguồn năng lượng thô từ lòng bàn tay bà cho nó chảy thấm vào phiến đá
granite. Phiến đá tan chay như sáp nến. Những khối đá lỏng bị nén cứng lại rơi
ra và biến mất vào vùng tối om tối mù phía dưới.
“Tôi đã chết lâu rồi; tôi nghĩ đã từng nhìn thấy những điều
kỳ diệu, nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ cái gì như thế này,”
de Ayala
nói đầy kinh sợ.
“Một pháp sư
người Scythe đã dạy tôi câu thần chú để đổi lấy sự toàn mạng của ông ta. Nó rất
đơn giản, thật đó,”
bà nói. Bà
chồm người lên cái lỗ và thình lình giật mạnh ra sau, mắt đầy nước.
“Ối chao
ôi, nó bốc mùi!”
Hồn mà Juan
Manuel de Ayala lởn vởn ngay trên cái lỗ. Ông quay người lại và mỉm cười, răng
lại nhe ra.
“Tôi không
thể ngửi thấy gì.”
“Tin tôi đi, hãy
mừng là ông không ngửi thấy,”
Perenelle
vừa lẩm bẩm vừa lắc đầu, những bóng ma thường có một óc hài hước lập dị. Đường
hầm nồng nạc mùi có thối và rong biển lâu năm, phân chim và dơi trở mùi ôi, mùi
gỗ nhão bét và kim loại han gỉ. Cũng có một mùi khác, đắng nghét và cay xè, gần
như mùi giấm. Cúi mình xuống, bà xé toạc một dải vải khỏi chân áo rồi quấn nó
quanh mũi và miệng như một cái mặt nạ thô thiển.
“Có một cái thang leo,”
de Ayala nói,
“nhưng phải cẩn thận, tôi không chắc là nó bị gỉ hết
chưa.”
Chợt ông liếc nhìn lên.
“Những con chim đã đến đầu phía nam của đảo rồi. và có
cái gì khác nữa. Cái rất xấu xa. Tôi ciều đó.”
“Morrigan đó.”
Perenelle cúi mình trên cái lỗ và bật những ngón tay
tanh tách. Một chiếc lông vũ thon thả bằng ánh sáng trắng dìu dịu tách ra khỏi
các đầu ngón tay bà và cuốn xuống cái lỗ, biến mất vào khoảng mờ mờ bên dưới,
tung ra một làn ánh sáng lập lòe trắng như sữa trên những bức tường quằn quện
ướt đẫm. Ánh sáng cũng cho thấy một cái thang hẹp, chĩa ra như những chấn song
nhọn đầu cắm vào tường tạo ra những góc trồi sụt không theo quy luật nào. Những
chấn song nhọn đầu, cái này cách cái kia chỉ khoảng một tấc, dày ụ lên vì hoen
gỉ sét và hơi ẩm đọng lại thành giọt nhiễu xuống. Chồm người tới, bà nắm chấn
song đầu tiên và kéo mạnh hết sức. Hình như nó cũng cứng đủ.
Perenelle xoay vặn người sập xuống và chuồi một chân vào khe
hở. Bàn chân bà vừa rà tìm được một trong những chấn song thì ngay lập tức nó
trơn tuột trật ra. Co chân lại rút ra khỏi cái lỗ, bà tháo phăng đôi xăng đan
ra và nhét chúng vào thắt lưng. Bà có thể nghe tiếng đập cánh của những con
chim—hàng ngàn, có lẽ phải đến hàng vạn con—đang kéo đến rất gần. Bà biết một
chút tiêu tốn năng lượng để làm tan chảy đá và thắp sáng bên trong đường hầm
hẳn sẽ báo hiệu cho Morrigan biết vị trí của bà. Bà chỉ có vài giây trước khi
bầy chim bay đến.
Perenelle đặt chân bà vào ống thông gió lần nữa, bàn chân
trần của bà chạm vào chấn song nhọn đầu bằng kim loại. Nó lạnh ngắt và nhớp
nháp bên dưới da bà, nhưng ít ra thì bà cũng có thể bám tốt hơn. Cầm chặt trong
tay đầy một nắm cỏ dai, bà hạ thấp người xuống, bàn chân lại rà tìm một chấn
song khác, và rồi bà bước xuống, bàn tay trái nắm một cái chấn song. Bà nhăn
mặt. Cảm thấy có cái gì kinh tởm, lẹp nhẹp bên dưới mấy ngón tay. Rồi bà mỉm
cười; sao bà thay đổi đến thế. Khi bà còn là một con bé, lớn lên tại Quimper ở
Pháp cách đây bằng ấy năm, bà thường lội qua những vũng nước nằm trong đá, bắt
và ăn những con trai con sò còn sống nhăn. Bà lang thang bằng chân trần khắp
những con đường bùn và rác ngập lút mắt cá chân.
Kiểm tra từng bước một, Perenelle treo xuống hết chiều dài
ống thông gió. Có một chấn song bên dưới bàn chân bị gãy và kêu vang rền trong
vùng bóng tối. Dường như nó rơi khá lâu. Bà dựa lưng vào bức tường hôi thối bẩn
thỉu, cam thấy sự ẩm ướt qua làn áo đầm mỏng màu hè. Đánh liều bám chặt vào, bà
lần tìm một chấn song khác. Bà cảm thấy cái đinh kim loại trong tay bà như biến
đổi, và trong tích tắc nín thở, bà nghĩ nó đang sút ra khỏi bức tường. Nhưng nó
vẫn cắm chắc.
“Lời mời đang đến gần. Tôi nghĩ bà sắp tham gia cùng với
tôi,”
hồn ma của de Ayala nói, hiện thành một bóng mờ mờ
ngay trước mặt bà.
“Không dễ giết được tôi đâu,”
Perenelle nói dứt khoát, tiếp tục leo xuống.
“Dù có hơi buồn cười, nhưng sống hàng mấy thập kỷ tập
trung chiến đấu với Dee và các Elder Đen tối của hắn, giờ chả nhẽ tôi lại phải
chết chỉ vì một cú ngã.”
Bà nhìn vào hình dáng một khuôn mặt ở trước mặt bà.
“Chuyện gì xảy ra trên đó vậy?”
Bà hất đầu theo chiều mở ra của ống thông thấy được những
dải sương mù xam xám uốn cong rồi nhỏ giọt chảy vào.
“Hòn đảo giờ phủ đầy chim,”
de Ayala nói.
“Có lẽ phải có đến một trăm ngàn con; chúng đậu trên
mọi bề mặt nào có thể đậu. Nữ thần Quạ đã đi vào trung tâm nhà tù, chắc chắn là
để tìm con nhân sư.”
“Chúng ta không còn nhiều thời gian,”
Perenelle cảnh báo. Bà dấn thêm một bước và bàn chân
bà lại ngập tới mắt cá trong lớp bùn đặc quánh dính nhớp nháp. Bà đã xuống dưới
ống thông gió rồi. Lớp bùn lạnh như nước đá, và bà cảm thấy cái lạnh thấu
xương. Có cái gì bò lúc nhúc trên mấy ngón chân.
“Đường nào?”
Cánh tay de Ayala hiện ra, trắng như ma, ngay phía trước bà,
chỉ về bên trái. Bà nhận ra rằng bà đang đứng ngay lối ra vào của một con đường
hầm cao. Bị chặt đẽo lởm chởm hơi dốc xuống. Sự phát quang như ma của de Ayala
thắp sáng lớp tơ nhện phủ ngoài bao bọc những bức tường. Chúng quá dày đến nỗi
những bức tường trông cứ như thể sơn một lớp bạc.
“Tôi không thể đi xa hơn nữa,”
hồn ma nói, tiếng ông gay gắt quanh quẩn mấy bức
tường.
“Dee đã đặt những câu thần chú canh giữ và những con
dấu mạnh đến khó tin; tôi không thể nào đi qua được. Xà lim mà bà muốn tìm còn
phải đi thẳng tiếp khoảng mười bước chân nữa va nằm bên mé tay trái.”
Biết không còn lựa chọn nào khác nên Perenelle đành miễn
cưỡng lại phải dùng đến mà thuật của mình. Bà muốn chắc chắn mình không đi lang
thang trong một đường hầm tối như hũ hút. Bà bật các ngón tay tanh tách và một
quả cầu lửa màu trắng nhấp nháy sống động trên vai của bà. Nó tỏa ra một màu
trắng sữa dìu dịu và phát sáng trên đường hầm, làm nỗi bật mỗi cái mạng nhện
đến từng chi tiết rối rắm phức tạp. Những tấm mạng trải rộng như một tấm màn
dày bắt ngang ngay trên lỗ hổng. Bà có thể nhìn thấy những con nhện lắc lư trên
đầu mấy tấm mạng và tự hỏi không biết có bao nhiêu con nhện ở dưới này.
Perenelle bước thẳng tới trước, ánh sáng di chuyển theo bà,
và bà chợt nhìn thấy thần chú đầu tiên trong một loạt các Thần chú Canh giữ và
Bảo vệ Dee đã đặt dọc theo đường hầm. Một dãy cây giáo gỗ có đầu bằng kim loại
đước cắm sâu trong cái mền đầy bùn. Trên cái đầu kim loại hình dẹt của mỗi cây
giáo cổ xưa, một loại chữ viết tượng hình vuông vức hẳn đã quen thuộc với các
dân tộc Maya cổ ở Trung Mỹ. Bà có thể nhìn thấy ít nhất là hơn một chục ngọn
giáo, mỗi cái được vẽ một biểu tượng khác nhau. Bà biết rằng từng biểu tượng
đơn lẻ thì vô nghĩa, nhưng kết hợp với nhau chúng tạo thành một mạng lưới gồm
năng lượng thô sơ ngoằn ngoèo hình chữ chi mạnh không thể tưởng đan chéo suốt
hành lang phóng ra những chùm ánh sáng đen không nhìn thấy được. Nó nhắc bà
liên tưởng đến những hệ thống báo động bằng laser phức tạp các ngân hàng vẫn
thường dùng. Năng lượng không có tác dụng lên con người—tất cả những gì bà có
thể cảm thấy là tiếng kêu vo vo và cảm giác căng căng sau gáy—nhưng nó lại lào
cẳn không thể qua được đối với mọi Giống loài Elder, Thế hệ Kế tiếp và các Sinh
vật thuộc loại Ma biến hình. Ngay cả de Ayala, một hồn ma, cũng bị ảnh hưởng
bởi rào chắn này.
Perenelle nhận ra một số biểu tượng trên những đầu giáo; bà
từng nhìn thấy chúng trong cuốn Codex và thấy chúng được khắc lên bức tường đổ
nát tại Palenque ở Mexico. Hầu hết đều xuất hiện trước khi có loài người; phần
nhiều trong số đó thậm chí còn lâu đời hơn cả những Elder và thuộc về giống
loài đã cư ngụ trên trái đất rất lâu trong qua khứ xa xăm. Chúng là những Ngôn
từ Quyền năng, những Biểu tượng Ràng buộc cổ xưa, được thiết kế để bảo vệ—hay
giam giữ—cái gì đó hoặc là có giá trị lớn lao đến mức khó tin hoặc là cực kỳ
nguy hiểm.
Bà có cảm giác đây sẽ là loại thứ hai.
Và bà cũng tự hỏi không biết Dee kiếm đâu ra những từ ngữ cổ
xưa này.
Bước lõm bỏm qua những đám bùn đặc quánh, Perenelle bước
chân đầu tiên vào đường hầm. Tất cả mạng nhện đều kêu sột soạt và rung rung,
một âm thanh giống như tiếng thì thầm xào xạc của lá cây. Phải có đến hàng
triệu con nhện ở đây, bà nghĩ. Chúng không làm bà sợ hãi; bà đã từng phải chống
cự các sinh vật kinh hãi hơn những con nhện này nhiều, nhưng bà vẫn nhận thức
rằng chắc chắn có những con nhện đầy nọc độc màu nâu mang tên người ẩn dật,
những con nhện màu đen mang tên bà góa hoặc thậm chí con Nam Mỹ còn có thể săn
những con nhện khác trong hàng khối rất lớn những động vật thuộc lớp nhện. Chỉ
một vết cắn từ một con trong bọn chúng thôi chắc chắn sẽ khiến bà mất hết sức
mạnh, thậm chí có thể giết chết bà.
Perenelle thình lình rút mạnh một cây giáo ra khỏi bùn và
dùng nó để vụt những tấm mạng đi. Biểu tượng hình vuông trên đầu ngọn giáo rực
sáng màu đỏ và những sợi mỏng nhẹ như tơ kêu rít lên và phát ra tiếng xèo xèo
khi ngọn giáo chạm vào chúng. Một bóng tối dày đặc mà bà biết là một khối những
con nhện chảy ngược vào tạo thành cái bóng mờ mờ. Từ từ đi xuống đường hầm hẹp,
bà bết bùn từ cây giáo trên lối bà đi tới để lớp bùn bẩn thỉu rửa sạch Ngôn từ
Quyền năng, dần đần tháo gỡ kiểu ma thuật rắc rối phức tạp này. Nếu Dee đã dùng
tất cả điều phiền phức này để giam giữ cái gì đó trong xà lim, thì có nghĩa là
hắn không thể kiểm soát cái gì đó. Perenelle muốn tìm ra nó là cái gì và phóng
thích nó. Nhưng khi bà đến gần hơn, quả cầu trên vai bà ném một thứ ánh sáng
lập lòe qua hành lang, thì một ý nghĩ khác vụt qua đầu óc bà: phải chăng Dee đã
cầm tù thứ gì đó mà ngay cả bà cũng nên dè chừng, một thứ gì cổ xưa, một thứ gì
thật kinh khiếp? Bất chợt, bà không biết mình có đang phạm một sai lầm kinh
khủng không đây nữa.
Trên những gióng cửa và lối vào xà lim được vẽ những biểu
tượng làm mắt bà xốn xán khi nhìn vào. Thô ráp và đầy góc cạnh, dường như chúng
biến đổi và uốn éo xoắn tít trên đá, không như những chữ viết trong cuốn sách
Abraham. Trong khi những chữ trong cuốn sách cổ hình thành nên những chữ của
những ngôn ngữ gần như có thể hiểu được, hoặc ít nhất cũng nhận ra được, thì
những biểu tượng này xoắn vặn thành những hình thù không thể tưởng tượng ra.
Bà gập người xuống, vốc lên một ít bùn và bôi nó lên những
con chữể xóa chúng đi. Chỉ khi bà đã lau sạch xong những Ngôn từ Quyền năng
nguyên sơ thì bà mới bước tiếp tới trước, rồi khiến quả cầu ánh sáng xoắn lại
và nhảy nhót chiếu vào xà lim.
Perenelle chỉ mất một tích tắc để hiểu được những gì bà đang
nhìn thấy. Và ngay lúc đó, bà nhận ra rằng việc tháo gỡ các hoa văn bảo vệ năng
lượng có thể thật sự là một sai lầm kinh khủng.
Toàn bộ xà lim là một cái kén mạng nhện rất dày. Giữa xà
lim. Đong đưa đến một sợi tơ không dày hơn ngón trỏ của bà, là một con nhện.
Sinh vật này khổng lồ, kích thước cũng cỡ như cái tháp nước khổng lồ nhô cao
khỏi hòn đảo trên đầu bà. Nó hơi giống con nhện tarantuala lông lá to lớn ở
vùng nhiệt đới, ngoại trừ lớp lông tím ngắt tua tủa phủ khắp mình nó, đầu ngọn
lông nhuộm một màu xám xịt. Tám chân của nó cái nào cũng lớn hơn cả thân hình
Perenelle. Nằm giữa thân mình là một cái đầu khổng lồ gần giống như đầu người.
Trơn láng và trong trịa, không tai, không mũi và chỉ có một cái vạch nằm ngang
cái miệng. Cũng như tarantuala, nó có tam con mắt nhỏ xíu nằm gần đỉnh sọ.
Và lần lượt từng cái một, cả tám con mắt đó chầm chậm mở ra,
mỗi cái đều có một màu sắc của một vết tím bầm rất cũ kỹ. Chúng đổ dồn lại nhìn
chằm chằm vào khuôn mặt của người phụ nữ. Rồi cái miệng há rộng ngoác, và hai
cái răng nanh dài như hai ngọn giáo ló hẳn ra.
“Bà
Perenelle. Nữ Phù thủy,”
nó
ngọng nghịu.
“Areop-Enap,”
bà kinh ngạc thốt lên, nhận ra con nhện Elder cổ xưa.
“Tưởng bà chết rồi.”
“Ý bà là bà tưởng rằng bà đã giết được tôi thì có!”
Tấm mạng co giật mạnh và thình lình sinh vật gớm guốc đó lao
thẳng vào Perenelle.

