Charlie Bone (Tập 6) - Chương 18

Charlie và cuộc hành trình nguy hiểm

Ý định của Charlie là đi tới
tiệm Ấm Đun cành nhanh càng tốt, nhưng có rất nhiều người trong thành phố muốn
chặn đường nó. Dẫu thương tật và sứt sẹo đầy mình, Manfred Bloor vẫn có uy lực
kinh khủng đối với những đứa trẻ được ban phép thuật khác. Joshua Tiplin là một
trong vài đứa khâm phục hắn mê muội nhất và thằng này còn hơn cả sốt sắng giúp
Manfred Bloor trả thù Charlie.

Manfred biết những con mèo
lửa là thủ phạm gây ra những thương tích ghê hồn cho hắn, nhưng chúng làm thế
là để bảo vệ Charlie, vì vậy Charlie phải bị trừng phạt. Ngoài ra, còn có vấn
đề Asa nữa. Manfred vẫn chưa từ bỏ ý đồ “Sói Hoang”, như tất cả mọi người gọi
Asa. Thêm vài tuần nữa trong ngục tối thôi, Manfred tính toán, là Asa sẽ trở
lại như xưa: một sinh vật hủy diệt hoang dã, sẵn sàng tuân thủ mọi mệnh lệnh
của Manfred mà không đắn đo … trừ phi Charlie Bone tìm ra cậu bé người sói và
phóng thích nó.

Charlie nhận thức rõ là có
những kẻ nguy hiểm đang ẩn núp trong thành phố, nhưng nó không biết chúng ẩn ở
đâu, và phải mất mấy phút nó mới hay mình đã chạy về hướng ngược lại với hướng
mình định đi. Nhưng đến lúc đó thì đã quá trễ cho nó xoay chuyển tình thế.

Charlie dừng chạy. Nó đang đi
xuống một dãy cầu thang gỗ hẹp rí dẫn vô một ngõ hẻm tối đen như mực. “Mình
đang làm gì ở đây thế này?” Nó tự hỏi. “Mình đang định tới tiệm Ấm Đun cơ mà.
Sao lại có cảnh này?” Nó cố quay đầu leo trở lên để ra ánh sáng, nhưng hình như
nó bị tắc kẹt ngay trên cầu thang. Lối duy nhất nó có thể đi được là đi xuống.

“Hừ, tao sẽ không đi đâu!”
Charlie hét vô bóng tối. “Tao sẽ đứng tại chỗ suốt đêm nếu phải thế.”

Cầu thang đánh võng. Charlie
tì một tay bíu chặt vô tường vả hồn xiêu phách tán thấy nó tuột luốt dưới những
ngón tay mình. Cầu thang đang dịch chuyển càng lúc càng xa nơi có ánh sáng. Khi
cầu thang tăng tốc, Charlie bị quăng tới trước, đáp phịch xuống mặt đá cứng
lạnh. Chân cẳng nó nặng như chì, cố cựa quậy nhưng vô ích. Charlie cảm thấy mọi
hơi thở trong người bị tống ra hết, và nó không còn đủ sức để mà hét lên.

Nỗi khiếp đảm khiến Charlie
nhắm mắt lại. Rồi nó từ từ mở mắt ra. Charlie thấy một quầng sáng đằng trước,
cách đó vài mét, phát ra từ một cái đèn lồng lớn, trông cổ xưa đặt ở dưới đất.
Phía trên quầng sáng đó hiện ra ba bộ mặt được chiếu tỏ - những bộ mặt không
cười xếp chung với bóng tối mịt mùng. Joshua Tiplin và hai chị em sinh đôi nhà
Branko.

Dù đang lóa mắt, Charlie
không cần tới một giây để nhận ra, năng lượng từ tính của Joshua kết hợp với
siêu năng của hai chị em sinh đôi đã kéo nó vô con hẻm hiểm ác này. Bây giờ sức
mạnh của chúng đã mạnh hơn trước, lại cấu kết với nhau nên chúng tạo ra một
trường lực hầu như không gì phá nổi.

Không hiểu bằng cách nào,
Charlie xoay xở bật được tiếng nói ra khỏi cơ thể đau như dần của mình. “Tụi
bay muốn gì?”

“Tụi tao không muốn mày,” một
trong hai chị em sinh đôi trả lời trong tiếng cười vỡ vụn.

“Mà mày phải hứa một lời,”
đứa kia trong hai chị em sinh đôi tiếp, giọng con này đục sâu và hiếu chiến
hơn.

“Một lời hứa?” Charlie rên
rẩm.

Đến lượt Joshua nói, giọng
cứng rắn, không thương xót. “Mày phải từ bỏ ý định ngu ngốc đi tìm Asa Pike.”

“Nếu tao không bỏ?” Charlie
mấp máy qua kẽ răng.

“Không có nếu,” hai chị em
sinh đôi đồng thanh. “Mày phải từ bỏ.”

Có tiếng lở đất rùng rùng
phía trên Charlie. Nó quay đầu lại, đúng lúc thấy một tảng đá lớn bật văng ra
khỏi vị trí của nó trong bức tường cao sát đấy. Charlie lùi bắn lại, giơ hai
tay lên che đầu, chờ hứng một cú rơi không thể tránh vô giữa sọ.

Nhưng tảng đá đó không hề
chạm đến nó. Một cơn gió bạo liệt quét xuống con hẻm; bị chụp cứng trên không
trung, tảng đá trệch ra khỏi đường bay và bổ nhào xuống ngay bên cạnh Joshua
Tiplin. Một tiếng thét chói óc vang lên khi Joshua bị nhấc hổng chân lên và bị
xách đi mất. Hai chị em sinh đôi, bám dính vào nhau, cũng chịu chung số phận.
Charlie có thể nghe thấy bàn chân chúng đạp những bức tường của ngõ hẻm trong
khi chúng lộn tùng phèo trên không, gào rú tựa như những nữ thần báo tử.

Rồi một tiếng sấm đinh tai và
một đám mây đen ngòm luộn cuộn trên đầu. Tiếng gào khóc của lũ trẻ trên không
nhòa thành tiếng rú kinh hồn không ngừng mà dần bị nhấn chìm vô tiếng sấm và
tiếng mưa rơi lộp độp xuống mặt đất.

Charlie cuộn mình thu lu thật
thảm thương và chờ cơn bão đi qua.

Phải cần tới một nguồn năng
lượng vô biên mới có thể tạo ra thời tiết hung hãn đến vậy, và chủ nhân gây ra
nó khi xong việc thể nào cũng mệt nhừ tử cho mà xem. Anh ta nên để cơn bão tan
chầm chậm hơn là bắt nó kết thúc đột ngột như thế.

Mãi cuối cùng, khi Charlie
triệu hồi đủ can đảm mà ngóc đầu lên, nó nhận thấy cây đèn lồng, dù bị phủ trùm
trong bão cát, vẫn còn sáng. Ai đó đã xịch cây đèn lại gần Charlie. Nó trông
thấy hai cái cẳng dài bọc trong hai ống quần jean ướt nhẹp màu xanh dương.
Hoảng sợ một trận tấn công khác, còn tàn khốc hơn trận nó vừa mới chịu đựng,
mắt Charlie hãi hùng lướt dần lên trên. Nó thấy một cái áo khoác thủy thủ, một
chiếc khăn quàng cổ màu xám, và trên chiếc khăn quàng, một gương mặt mỉm cười
có mái tóc vàng dựng tua tủa tên đỉnh.

“Charlie!” Tancred gọi.

“Tancred,” Charlie thở dốc.
“Là anh thật không?”

“Chứ còn ai. Em ổn chứ,
Charlie?”

“Ừm, em chưa chết.” Charlie
cố gượng đứng dậy nhưng cần có cánh tay của Tancred đỡ mới xong.

“Sao anh biết em ở đây?”

“Đi theo con bướm của em. Anh
đã nhận ra nó ngay lập tức. Nó cuống quít bay vòng vòng quanh đầu anh, đâm húc
vô má anh, nó còn cắn cằm anh khi nó nghĩ anh chạy chưa đủ nhanh. Ngay khi thấy
khoảng không chơi vơi ở chỗ lẽ ra là cái cầu thang, anh biết có cái gì đó vô
cùng khủng khiếp đang diễn ra.”

Charlie ngoái nhìn lại. Những
bậc thang nằm thành một đống đổ nát, xa tít bên dưới so với mặt đường.

“Anh đã phải nhảy xuống.”
Tancred săm soi một cái dằm đâm vô ngón tay cái của mình. “Tụi mình không thể
ra khỏi đây bằng đường ấy được.”

“Hai chị em sinh đôi,”
Charlie láp báp. “Bây giờ chúng quá… quá mạnh và máu lạnh. Còn Joshua thì …”

“Chúng sẽ mất sức mạnh trong
một thời gian.” Tancred cười ngoác. “Đi, Charlie. Tụi mình về nhà em nào.”

Cuối cùng cây nến trong lồng
đèn đã cháy hết và hai thằng bé phải lò mò nhích tới trước, trong khi con bướm
trắng chờn vờn ở trên đầu, soi đường cho chúng. Charlie cứ nơm nớp lo mình sẽ
vấp phải một cái xác, nhưng chẳng thấy tăm hơi Joshua hay hai chị em sinh đôi
đâu cả.

“Chúng đang nằm dưới một cánh
đồng ở đâu đó,” Tancred nói. “Anh cố ý cho gió đủ mạnh để bốc chúng ra khỏi
thành phố.”

Charlie kinh ngạc trước tài
phép lạ thường của Tancred. “Em ước gì mình có thể làm được điều gì đó hữu
ích,” nó lầm thầm.

Tancred vỗ lưng nó. “Em vẫn
luôn làm điều có ích đấy thôi, Charlie. Anh cảm thấy xấu hổ phải thú thật với
em là Kẹo Ngọt đã thổi cho anh lầm đường lạc lối một thời gian.” Anh nhìn con
bướm sáng chóa lượn lờ như chờ chúng nhảy lên chụp bắt, rồi cười phá ra. “Em
biết không, con bướm đó đã chỉ cho anh thấy ánh sáng.”

“Như thế nào?”

“Tracy thảy cho anh một tối
hậu thư: ‘Đi theo con bướm dớ dẩn đó thì anh sẽ bị bỏ, Tancred Torsson’ – cô ta
nói vậy đó. Vậy là không hay nhỉ? Anh đã thấy đúng con người cô ta, Charlie.
Một cái đầu rỗng hấp dẫn.”

“Chị ấy rất đẹp,” Charlie
nói, cố biện minh cho sự ly khai tạm thời của Tancred. “Vì vậy em có thể hiểu
nỗi… nỗi…”

“Nỗi ám ảnh? Ờ, đúng, cô ta
rất đẹp,” Tancred chua chát.

Cuối cùng chúng cũng leo lên
được con đường nhộn nhịp những cửa hàng và ánh đèn sầm uất, Charlie dần cảm
thấy mình lại thuộc về thế giới thực một lần nữa.

“Làm sao tụi mình tới được
đường Piminy từ đây?” nó nói.

Tancred ngỡ ngàng. “Sao em
muốn đi tới đó?”

Vì bây giờ Tancred đã tỉnh
ngộ, cho nên, trong khi băng qua thành phố, Charlie vẽ lại cho anh thấy bức
tranh toàn cảnh. Cũng chính thanh gươm đã khiến Tancred lưu ý,hệt như đối với
Lysander.

“Một thanh gươm?” đôi mắt
xanh da trời của Tancred sáng lên. “Oa! Và em nghĩ Hiệp Sĩ Đỏ có thể là kẻ mạo
danh vì ông ấy đã đánh cắp áo choàng của nhà vua?”

“Em không biết chắc, Tanc. Em
chỉ cảm thấy là mình phải cảnh báo cho bà Kettle.”

“Anh không thể đợi nổi để
thấy tiệm bán ấm và gặp người thợ rèn này.” Tancred bắn vọt đi và Charlie phải
cố cắm chạy để theo kịp anh.

Cơn bão vừa rồi đã nhốt phần
lớn dân cư thành phố ở rịt trong nhà của họ. Lũ trẻ ở quán Cà Phê Thú Kiểng
đinh ninh là Charlie đã trở về đường Filbert rồi, tất nhiên, nên thu gom thú
cưng lại và đi về nhà chúng. Benjamin cực nhọc vật vã mà không tách được Hạt
Đậu ra khỏi Chattypatra, nhưng ông Onimous đã thuyết phục được hai con chó bằng
một gói bít-tết của chó cho Hạt Đậu mang về nhà, và một tô kem cho Chattypatra
ở đằng sau quầy.

Dư âm của cơn bão còn nhấn
nhá trên đầu Charlie và Tancred khi chúng tất tưởi chạy trên đường Piminy.
Tancred phân bua rằng anh không thể kiềm chế được. “Nhưng thời tiết là một vỏ
bọc để bảo vệ chúng ta, Charlie, em không cảm thấy thế sao?”

Có, Charlie cảm thấy gì đó
chứ. Nó linh cảm một sự xung đột dữ dội ở đường Piminy, cứ như vừa có những lằn
chiến tuyến được dựng lên vậy. Bao nhiêu thầy pháp đã từng sống ở đây? Ai trong
số họ xứng danh con cháu Vua Đỏ, và ai dùng phép thuật để chống lại hàng xóm
láng giềng của mình.

Khi chúng đi tới tiệm Đá,
Tancred ghé mắt dòm vô cửa sổ. Anh rùng mình rụt sâu vào chiếc áo khoác mùa
đông của mình. “Thử nghĩ coi, Charlie. Một đội quân đá chuyển động. Ai có thể
đánh bại đội quân đó?”

Charlie không trả lời.

Bên ngoài tiệm bán cá,
Tancred lại chùng chình lần nữa. Anh ngước nhìn cửa sổ phía trên tấm biển bôi
bác. Charlie đã kể cho anh nghe những gì Emma đã thấy, nhưng dù gì Tancred vẫn
cứ dừng lại. Ở đây, anh cảm thấy một kẻ thù mà mình sinh ra để đối đầu với hắn.
Anh không biết mình và Dagbert có chung một tổ tiên bão tố: Petrello, người tạo
bão, sương mù, và những dòng thủy triều chết người.

Charlie nhìn tấm biển hú hít
trong gió. Nó giật cánh tay Tancred. “Đi thôi. Em muốn tới nhà bà Kettle.”

“Nó thậm chí không phải là
một cái tiệm,” Tancred nhận xét. “Chẳng có gì để bán, cho dù bọn họ là ai chăng
nữa. Nhưng anh cũng ngửi thấy mùi cá rõ ràng.” Anh lùi lại khỏi cửa sổ, tay bịt
mũi.

Charlie không thể chậm trễ
cuộc thăm viếng hơn nữa, nó vụt chạy tới tiệm Ấm Đun và gõ cửa rầm rầm. Tancred
chạy tới với nó, chúng đợi vài giây rồi Charlie lại đập gõ tiếp, dộng hết sức
bằng cái đập cửa hình chiếc ấm.

“Trời đất ơi, Charlie Bone,
cái gì đưa cưng trở lại đây thế? Bà đang bận tay.” Bà Kettle đứng ở ngưỡng
cửa,tay khoanh trước ngực. Bà mặc áo liền quần lấm lem dầu mỡ và mặt bà dính
đầy nhọ. Trông bà chẳng có ý muốn cho ai vô nhà cả.

“Xin lỗi, bà Kettle,” Charlie
hấp tấp nói, “Nhưng có chuyện đã xảy ra, môth chuyện mà bà nên biết.”

Bà Kettle chồm tới trước và
dòm dáo dác ngược xuôi con phố. “Cưng vô đây. Chúng ta không muốn cả lối phố
biết chuyện của chúng ta. Ai đi cùng với cưng thế này?”

“Tên cháu là Tancred
Torsson,” Tamcred tự giới thiệu, bước vô cửa hàng. “Cháu đang gây ra một chút
bão mà nó hiện đang thổi qua cửa nhà bà.”

“Chút bão ư? Trận cuồng phong
chết tiệt thì có. Chắc chắn cậu lợi hại đấy. Ta là Katya Kettle. Hân hạnh gặp
cậu.” Bà lắc cánh tay Tancred nồng nhiệt đến độ anh phải giữ lấy vai mình,
tưởng như cánh tay rời khỏi khớp xương đến nơi.

Khi theo bà Kettle vô căn
phòng sau của bà, chúng nhận thấy có tiếng lạch cạch và tiếng gì rơi tõm phát
ra từ hai phía bên hông chúng. Nhìn quanh, chúng thấy nắp của một cái ấm màu
xanh dương cứ nhấc lên không lại rớt cạch xuống. Điều tương tự cũng diễn ra với
một cái ấm đồng, rồi một cái ấm nhỏ bằng sắt.

“Chuyện gì thế ạ, bà Kettle?”
Charlie hỏi.

“Chứ cưng nghĩ là gì hả,
Charlie? Khối năng lượng tích tụ trên đường này dư sức thổi bay mái nhà của bà
đi.” Bà Kettle ngồi xuống ghế, và thấm cái trán bóng lưỡng của mình bằng một
miếng giẻ nhem nhuốc dầu.

“Bão tố của cháu thường không
có tác động như thế,” Tancred nói, ngồi xuống bên cạnh người thợ rèn to lớn.

“Bão tố của cưng!” Bà cười
buồn rầu với Tancred. “Đó chỉ là một phần thôi. Cái ác đang len lỏi trong thành
phố này, cưng à. Đang nở rộ như một bông hoa ăn thịt người khổng lồ, và tất cả
nảy sinh từ anh chàng Manfred Bloor trẻ tuổi hiểm độc. Sự thù hằng của hắn ghê
gớm đến mức nó sẽ trấn áp chúng ta, trừ phi chúng ta phải làm gì đó để chống
lại nó.”

“Có ai biết vầ thanh gươm bà
đang rèn không?” Tancred hỏi, liếc nhìn cái ấm lớn đang run rầy mà Charlie quan
sát nãy giờ.

Bà Kettle nhún vai thật rõ.
“Ai biết được? Chúng biết những gì ta làm. Ai mà không nhận ra những tia lửa và
tiếng quai búa vọng ra từ sau cái tiệm nhỏ của ta, nhưng chẳng bao lâu nữa hiệp
sĩ sẽ có thanh gươm của ngài, và chúng ta sẽ thấy …”

Charlie quay phắt lại. “Bà
Kettle! Cháu không nghĩ bà nên đưa thanh gươm cho Hiệp Sĩ Đỏ.”

“Điều gì khiến cưng nghĩ
vậy?” trông bà Kettle ngạc nhiên thực tình.

Charlie chật vật chuyển mối
nghi ngờ của mình thành lời. “Hiệp sĩ trên cầu mặc áo choàng đỏ và … và Gabriel
Silk, gia đình anh ấy giữ áo khoác của Vua Đỏ, à, anh ấy nói có ai đó đã đánh
cắp chiếc áo rồi; chiếc áo của nhà vua ấy.”

“Charlie Bone!” Người thợ rèn
nhìn nó phẫn nộ đến nỗi nó lùi lại dựa vô cái bàn để la liệt ấm. “Bị đánh cắp
ư! Mượn, hay có lẽ đòi lại, nhưng không bao giờ ăn cắp. Điều gì khiến cưng nói
như vậy?”

“Cháu không biết,” Charlie
lảng tránh ánh mắt nghiêm khắc màu đồng của bà. “Nhưng một thanh gươm như thế,
bà Kettle, sẽ bất khả chiến bại phải không? Rủi nó rơi vào bàn tay không thích
hợp, thì nó sẽ nguy hiểm vô cùng.”

“Nó cần phải nguy hiểm, thằng
bé khờ à. Những lời của Feromel ở trong đầu bà khi bà rèn thanh gươm. Chính
pháp thuật của ngài tạo hình cho khối thép bân dưới tay búa của bà. Ngài đi
cùng bà trong từng bước của quá trình này.”

“Nhưng giả sử hiệp sĩ đó là
kẻ mạo danh thì sao?”

Người phụ nữ mở mắt nhìn nó
trân trối, không tin nổi. “Cưng nghĩ là ta không biết ư?”

“Không phải,” Charlie nói yếu
ớt. “Cháu chỉ giả sử thôi.”

Bà Kettle đứng lên và lại lau
mặt lần nữa. “Hừ, nếu đó là điều cưng đến để nói với ta thì cưng phung phí thời
giờ của ta rồi. Ta có việc cần làm, như mấy cưng thấy rõ rồi đấy.”

Đằng sau Charlie, cái ấm sắt
khổng lồ rú lên những tiếng u u, phả hơi nước. Cái nắp ấm nặng nề bắn vọt lên
không, rồi rơi oạch xuống đất một cái choang váng óc. Charlie định nhặt nó lên
thì nhận thấy mặt trăng chiếu trong mặt nước đen trong lòng ấm. Nó nhìn kĩ hơn
thì mặt trăng lướt khỏi khung cảnh, để rồi được thay thế bằng một vòng tròn lửa
nhấp nhô.

“Đừng nhìn!” một giọng ra
lệnh, nhưng ánh mắt của Charlie bị những hình ảnh thay đổi trong ấm giữ chặt
lại. Bây giờ nó có thể thấy một người đàn ông bên bếp lửa, đang cho thêm cành
khô vào ngọn lửa. Mình đang chu du, Charlie nghĩ, nhưng đây không phải lúc. Nó
tuyệt đối không được… chu du vô trong đó!

Nó nghe thấy tiếng người
luống cuống cảnh báo nó. Những bước chân đằng xa, một bàn tay chìa ra, nhưng
những ngón tay bấu chặt vai nó lại nhẹ tênh như bụi.

Bây giờ bắt đầu chuyến lộn
nhào, trôi lướt, chuệch choạc qua không gian mà Charlie vừa thích thú vừa kinh
hoảng. Những giây đầu tiên của cuộc hành trình luôn luôn đáng sợ nhất, khi chân
nó bị hổng khỏi thế giới nó đã biết để trôi tuột vô thế giới nó không biết.

Nó đáp xuống đông rơm chất
chù ụ ở phía sau một căn phòng. Một cửa sổ nhỏ, cao trên tường, bao trọn vầng
trăng tròn. Ánh mắt Charlie rê từ mặt trăng tròn đến người đàn ông đang nuôi
ngọn lửa. Nó chưa bao giờ thấy người nào cao lớn và vai rộng đến thế. Ở ông
toát lên sức mạnh vô song, và Charlie hi vọng ông ấy không thù địch, bởi vì rõ
ràng ông có thể bóp một người như nó dễ như bóp một con rệp không được chào
đón.

Ánh sáng duy nhất trong phòng
tỏa ra từ ngọn lửa nhưng khi mắt Charlie quen với bóng tối, nó có thể thấy sàn
nhà trống trơn, những bức tường gạch xám xịt, kít bồ hóng. Bên cạnh ngọn lửa là
một cái ấm sắt to đùng, có lẽ đúng là cái ấm mà Charlie đã rơi vào.

Khi người đàn ông cời ngọn
lửa, một đám tro bay tung mù khắp phòng và Charlie hắt xì.

“Lòng trung thành!” người đàn
ông thét, quay khỏi đống lửa. Ông trố mắt nhòn Charlie, chột dạ. “Mi là cái gì? Phải là kẻ
bọn chúng phái tới dò la ta?”

Charlie đứng run lẩy bẩy và, hắng giọng nói, “Ừm, không phải, thưa ngài.
Cháu đến từ… từ, cháu là người chu du.”

“Người chu du?” Người đàn ông thả cây cời lửa xuống và đi về phaid Charlie,
nheo mắt nhìn xuống nó một cách nghi ngại. “Một người chu du?” Ông lặp lại.
“Giống như bà Amoret?”

“Bà Amoret?” Trí óc bấn loạn của Charlie quay mòng. “Con gái út của Vua Đỏ?
Phải, cháu nghĩ cháu là hậu duệ của bà.”

“Quà tặng cho số mệnh của ta.” Người đàn ông vạm vỡ chộp lấy vai Charlie.
“Hãy biết rằng ta là Feromel, và đây có lẽ là ngày cuối cùng của ta trên đời.”

“Ngày cuối cùng của ông? Tại sao?”
Charlie hốt hoảng hỏi. “Sao lại vậy?”

“Chúng muốn một vật, nhưng
không đời nào chúng sẽ có nó đâu. Hãy coi đây!” Từ một cái bàn ở góc phòng,
Feromel nhặt lên một cái gói bọc vải đỏ. Giở miếng vải ra, ông để lộ một cái
gươm sáng loáng. Tay cầm bằng vàng chạm khắc nhiều hình chim mắt cẩn đá ruby
trên một bố cục hình viên kim cương. Thanh chặn ngang mang hình hai con báo có
cánh với những đốm sáng bằng saphia.

Nước vàng cổ xưa ánh ngời và
vẻ đẹp của cán gươm trên nền vải đỏ khiến Charlie thở hốc lên. “Cái này của Vua
Đỏ phải không ạ?” nó thì thào.

Feromel mỉm cười. “Ta tin
cháu là một trong những người đáng tin cậy.”

“Cháu hi vọng mình được như
vậy,” Charlie nhiệt thành.

“Thế thì hãy biết rằng chính
tay nhà vua đã trang trí cán gươm phép thuật này. Thanh gươm đã biến mất, ta hi
vọng sẽ rèn một thanh khác, nhưng giờ thì quá trễ rồi.”

Một tiếng ầm vang như tiếng
sấm dộng vô cánh cửa và Feromel thét. “Lẹ lên, chúng ta phải giấu nó đi.” Ông
băng qua phòng, nhặt cây cời lửa lên và trao cho Charlie. “Hãy gạt ngọn lửa qua
bên, cậu bé, trong khi ta làm phần còn lại.”

Cố hết sức để không run rẩy,
Charlie cầm lấy cây cời lửa và đấy những cành khô đang cháy qua một bên.

Ông Feromel đeo đôi bao tay
dài bằng da vào, rồi một tay nhặt cán gươm bọc trong gói vải lên, cầm chắc, tay
kia ông thọc thẳng ra sau ngọn lửa và xê dịch một viên gạch ống khói.

Lại một đợt dộng thình thình
xóc tai nữa khiến cánh cửa dày của người thợ rèn võng oằn vô trong. Hơi nóng
hầm hập từ ngọn lửa táp vào làm nước mắt Charlie chảy dàn giụa, nhưng nó thấy
rõ lỗ hổng đen trong bức tường gạch, và nó nhìn bàn tay đeo găng của ông
Feromel, bị lửa cháy xém, đẩy gói vải đỏ vô cái hốc rồi kê một viên gạch đóng
lại.

“Xong rồi, cậu bé. Cảm ơn
cậu!” ông Feromel tháo đôi găng tay cháy sém ra và đấm thụp vô lưng Charlie.

Cánh cửa không còn chịu nổi
sức đập từ bên ngoài nữa. Nó đổ ập vào phòng và ba khối hình khệnh khạng bước
qua đống gỗ vụn: một người đàn ông đá, một phụ nứ đá lăm lăm dùi cui, cùng bức
tượng thần lùn mà dựng bên ngoài ngôi nhà của bà cô Vernetia.

Dù vận hết sức lực phi thường
của mình, ông Feromel cũng không tung nổi một cú đòn. Nắm đấm to xụ của ông nảy
tưng khỏi những thân hình đá bạo tàn, đôi chân dài của ông ngã nhào dưới cái
đầu bổ tới của thần lùn.

‘Đi đi, cậu bé! Hãy tự cứu
mình!” ông Feromel kêu lên.

Bủn rủn tứ chi, Charlie cuống
quít không biết phải đi đâu. Nó bị bỏ lại đằng sau vật duy nhất có thể đưa nó
trở về - con bướm trắng của nó.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.