Yêu nữ - Chương 16 - 17
CHƯƠNG MƯỜI SÁU
“Tôi hiểu lúc nãy có chút hiểu lầm,” Osiris nói.
“Không sao,” Virginia
nói giọng đều đều. Ả đang quan sát nhóm phục vụ bày biện một chiếc bàn tròn
bằng vàng và bạc trong khu vườn phía sau tòa nhà tròn. Không ai trong chúng là
người. Cả nam lẫn nữ đều có phần thân là người, nhưng nét mặt hầu như dù không
phải hoàn toàn là mặt thú. Nữ giới dường như có yếu tố liên quan đến mèo, trong
khi nam giới lại là chó hoặc heo. Và không có hai kẻ nào giống hệt nhau.
Một bộ ba cô gái mèo xuất hiện. Một có bộ lông nhẹ nhàng,
một có cái đuôi dài cong cong, và một có hoa văn lốm đốm như loài báo trên mặt
và trên hai vai trần. Tất cả đều có ria. Cả ba bày những rổ trái cây ra bàn và
lặng lẽ lướt đi trên bốn chân.
“Vận dụng di truyền ư?” Virginia hỏi.
“Đại khái là thế,” Osiris nói. “Sự kết hợp tài tinh thông
giữa Thần Đất, Quan chấp chính và Elder Vĩ đại, được nung bởi luồng điện của
chúng tôi. Isis và tôi đang tạo ra các Vương
quốc Bóng Tối vô tận. Chúng tôi cần đưa dân cư đến đó. Mà con người lại không
thích hợp với mọi thế giới. Giống người bình thường phải chiến đấu mới tồn tại
được thậm chí trong thế giới này. Vì thế chúng tôi nhào nặn, thêm bớt một chút,
ban cho chúng vài điểm thuận lợi. Chẳng hạn như, phụ nữ mèo này sẽ làm việc
giỏi trong thế giới rừng, chúng tôi sẽ thử nghiệm cho chó và heo làm thợ săn và
theo vết thú. Chúng uyển chuyển linh hoạt đủ để thâm nhập vào bất kì môi trường
phong phú đa dạng nào.”
“Đó là khoa học hay pháp thuật?” Virginia hỏi.
“Ai là người đã nói rằng bất kì công nghệ nào đủ tiên tiến
đều không thể tách biệt khỏi pháp thuật? Einstein hả? Hay là Newton?”
“Clarke,” ả nói khẽ.
“Giống người về cơ bản là một chủng loài dễ bị tổn thương.
Chúng tôi định cho họ vài lợi thế mà tạo hóa đã bỏ quên.”
“Loài người đã dàn trải khắp quả địa cầu, trong bất kì môi
trường nào, mà đâu cần có các lợi thế của mấy người,” Virginia lạnh lùng nói. “Họ thích nghi luôn
đã và luôn sẽ thế. Những gì các người đang làm thật sai lầm.”
“Chúng ta sẽ phải chấp nhận bất đồng thôi.”
“Sao mà tôi ghét câu đó thế cơ chứ.”
Osiris và Virginia Dare hai người ngồi hai bên cái ao tròn
trong khoảnh sân nhỏ có rào bao quanh. Phía trên đầu, một mái hiên bằng lụa dệt
hoa văn bảo vệ họ khỏi ánh mặt trời chênh chếch. Bầu không khí sáng bừng những
bông hoa và nằng nặng mùi hương. Virginia
từng lớn lên trong rừng, sau đó được huấn luyện như một nhà thực vật học và
chuyên gia làm vườn, song ả nhận dạng được rất ít các loại thực vật này. Những
đóa hoa huệ nước phủ kín bề mặt ao, và những con ếch kích thước cỡ ngón tay gần
như trong suốt di chuyển chầm chậm ngang qua đám lá, đi theo vầng mặt trời. Bầy
ếch kêu rin rít như mèo.
Osiris đã thay trang phục, ông ta mặc áo sơ mi trắng bằng
vải lanh rộng lùng thùng, quần trắng dài trên mắt cá chân, đi chân trần, và cô
gái bất tử người Mỹ để ý thấy móng chân ông ta sơn màu đen.
“Chuyện gì đã xảy ra với bọn anpu thế?” Osiris hỏi.
Đôi mắt xám đen của Virginia
nhấp nháy màu vàng, ánh kim, rời khỏi bàn. “Ồ, chuyện đó hả?” ả nhẹ nhàng nói. “Bọn
chúng ngáng đường tôi ấy mà.”
“Chắc hẳn chúng sẽ tránh đường cho cô nếu cô tự nêu đặc điểm
nhận dạng. Đó là sai lầm,” Osiris mỉm cười, nhưng không gì hơn là một cái nhếch
môi, và chẳng có xúc cảm gì chân thật trong đó.
“Sai lầm của chúng là cố ngăn tôi lại.”
“Cô có thường hay cư xử gay gắt như thế với những ai cản
đường cô không?”
“Có chứ.” Nụ cười của ả xứng hợp với nụ cười của Elder. “Tôi
bực bội bất cứ ai hay cái gì cố tước đi tự do của mình.”
“Tôi sẽ ghi nhớ điều đó.”
“Cứ việc. Tôi đã lớn lên với hai bàn tay trắng. Không quần
áo, không thực phẩm, không tiền bạc, không tài sản. Tất cả những gì tôi có là
tự do của mình. Tôi biết phải quý trọng nó.”
Osiris chắp hai tay trước mặt mình. “Cô thật là người thú
vị, Virginia Dare ạ.”
“Không thật sự thế đâu. Thực ra tôi rất giản dị, nguyên tắc
của tôi đơn giản là có qua có lại ai tránh đường tôi thì tôi sẽ tránh đường họ.”
“Tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó.”
Sophie bật cười ra tiếng, khiến cả hai quay về nơi phát ra
âm thanh. Xuyên qua một bức tường bằng kính, họ thoáng bắt gặp Sophie và Josh
đang khám phá ngôi nhà hình tròn mênh mông này.
“Lần đầu tiên tôi nghe cô bé cười,” người bất tử nhận xét,
rồi quay trở lại với Elder, thận trọng nhìn ông ta lom lom. “Hai đứa nhỏ đến
đây không có gì ngạc nhiên. Tôi có ấn tượng chúng ta đang đến gần giai đoạn
cuối cùng của một kế hoạch đã được sắp đặt từ lâu lắm rồi.”
Osiris ngồi trở lại vào chiếc ghế được đẽo khắc từ một khối
vàng ròng và lại chắp hai tay trước mặt. “Cô rất sắc sảo.”
“Đánh giá thấp tôi thì ông sẽ nguy hiểm.” Ả mỉm cười, “Chủ
nhân Elder của tôi đã làm thế và ông biết chuyện gì xảy ra cho ông ta rồi đấy.”
“Tôi tự hỏi nếu không có chiếc ống sáo ấy liệu cô còn quá
dũng cảm như vậy không,” Osiris nhận xét.
Virginia
lần tay xuống dưới áo sơ mi, lấy ra chiếc ống sáo gỗ giản dị. Ả lắc lắc cho nó
rơi ra khỏi túi vải, ánh mặt trời rung rung trên những thiết kế hình xoắn ốc
khắc vào mặt gỗ. Osiris cứng đơ người, và ả để ý thấy bàn tay ông ta buông
xuống hai bên cạnh ghế như thế nào. Ả đoán có một thứ vũ khí giấu trong một bên
tay vịn, một con dao hay có thể là một ngôi sao quay cũng không chừng. Bất ngờ
ả ném ống sáo vào mình Elder.
Osiris bắt trúng công cụ ấy giữa không trung, rồi kêu ré lên
vì lớp thịt trong lòng bàn tay ông ta kêu xì xì và bốc khói. Ông ta quăng ống
sáo ra mặt ao, nhưng Virginia đã chụp lại, xoay một vòng khiến nó phát ra tiếng
rít nhẹ, ả nhét nó vào túi, cất trở lại bên dưới lớp áo chỉ bằng một chuyển
động rất nhịp nhàng.
Osiris khuỵu gối, nhúng bàn tay vào nước. “Lẽ ra cô phải
cảnh báo cho tôi chứ,” ông ta nói.
“Nếu tôi nói rằng ông không thể cầm nó được, liệu ông có tin
tôi không?”
“Có khả năng là không,” ông ta thừa nhận.
“Một lần thực nghiệm đáng giá hơn ngàn lời nói suông.”
“Trước nay tôi đã từng bắt gặp nhiều món đồ tạo tác như vậy
rồi,” Osiris bảo với ả. “Một số là của Thần Đất hoặc Quan chấp chính. Tôi chưa
bao giờ có thể hiểu được tại sao các Elder lại không thể chạm đến chúng. Cô có
biết không?”
“Có, biết chứ,” ả nói giản dị.
“Nhưng cô không định nói cho tôi nghe à?”
“Không, tôi sẽ không nói.”
Osiris trở về với chiếc ghế bằng vàng, ngồi xuống, bàn tay
phải của ông nhỏ từng giọt nước trên mặt sàn lát đá trắng tinh. “Quý cô Dare,
cô thật đúng là người có tố chất,” ông ta thì thầm. “Đột nhiên tôi nhận ra rằng
trải qua nhiều thế kỉ nay, mình đã giao du với các giống người chẳng ra làm
sao. Dee là một tên ngốc, một tên ngốc hữu dụng, phải thừa nhận là thế. Nhưng
đáng lẽ chúng tôi nên kết bạn với cô thì hơn.”
Virginia Dare lắc đầu. “Các người luôn có thể kiểm soát tay
tiến sĩ ấy. Còn các người sẽ không thể kiểm soát được tôi đâu.”
Osiris gật đầu. “Có lẽ vậy. Nhưng chắc hẳn chúng tôi sẽ có
thể giao thiệp với cô theo cách khác.”
“Thành thật mà nói đi, ý ông là gì vậy?”
“Chúng tôi luôn thành thật với hắn,” Elder thành khẩn nói. “Hắn
lại hiếm khi nào thành thật với chúng tôi, hẳn cô biết biết điều đó mà.”
“Tại sao các người lại cần cặp song sinh ấy?”
Osiris nâng bàn tay bị phỏng lên môi, liếm vào vết thương.
Đôi mắt sáng màu xanh lơ nhìn ngang tầm với ả. Bất chợt ông ta nhoẻn miệng cười
toe. “Tôi có thể nói với cô, nhưng rồi sau đó tôi sẽ phải giết chết cô mất,”
ông ta nói.
“Nếu ông không nói cho tôi nghe, biết đâu tôi có thể giết
chết ông,” Virginia đáp lại nụ cười của ông ta một ỉần nữa.
“Cô cứ việc thử.”
“Tôi có thể. Nhưng thật sự ông không muốn tôi làm đâu,”
Virginia nói.
Giọng Sophie và Josh đột nhiên vang dội khắp ngôi nhà,
Osiris và Virginia quay người hướng về phía phát ra âm thanh. Tiếng nói càng
lúc càng lớn khi cặp song sinh tiến đến gần.
“Đây là những gì tôi nghĩ,” Virginia khẽ khàng nói. “Các
người cần luồng điện của hai đứa nhỏ. Các người cần sức mạnh của người Vàng
người Bạc cho một mục đích gì đó. Một thứ rất ngoạn mục. Tôi nói đúng chứ?”
“Cô nói không sai,” Osiris thừa nhận.
“Chỉ có một thứ khiến tôi chưa thỏa mãn,” ả nói.
Gương mặt Osiris giữ nguyên không chút cảm xúc trong lúc
tiếp tục liếm bàn tay mình.
“Các người quả thật là cha mẹ của hai đứa chứ?”
“Hai đứa là con chúng tôi,” ông ta nói sau khi cân nhắc kĩ
câu trả lòi. “Chúng tôi đã trải qua cả đời mình để chuẩn bị cho hai đứa nhỏ
trước biến cố này.”
CHƯƠNG MƯỜI BẢY
Quetzalcoatl ghét cay ghét đắng sự ẩm ướt. Lão đang mặc một
bộ đồ vét đi kèm với áo ghi lê bằng vải len mua ở London cách đây một thế kỉ,
khoác lên mình một chiếc áo bằng da thuộc màu đen có cổ cao bẻ lật ra, dài ba
phần tư người. Một khăn choàng giữ nhiệt có hoa văn quàng quanh cổ, che phần
miệng dưới, lão đội chiếc mũ phớt đen với chùm lông vũ lấy từ đuôi lão làm nẹp.
Hai bàn tay lão bọc trong đôi găng viền lông thú. Vậy mà lão vẫn lạnh cóng. Sao
lão căm ghét Vương quốc Bóng Tối này đến thế kia chứ.
Lão Rắn Lông quay người khi chiếc Cadillac đen đồ sộ với cửa
sổ tối om cập vào bãi đậu xe vắng vẻ ở Vista Point Overlook. Thân xe lấm tấm
hàng triệu giọt nước chiếu sáng mờ mờ.
Quetzalcoatl đưa tay lên nửa chừng, rồi nhận ra là có thể
không ai thấy được mình trong bóng tối u ám và đặc sương mù này, lão tự giác
thả tay xuống. Lão bắt đầu tiếc cho hành động bốc đồng lúc nãy. Lão còn sống
lâu thế này nhờ là kẻ thui thủi một mình, hiếm khi nào trà trộn với đồng loại.
Thậm chí lão còn không nhớ lần cuối cùng chạm trán với một ai đó từ rất xa xưa
trong quá khứ là khi nào. Liên lạc với bọn phục vụ thuộc giống người lúc nào
cũng dễ dàng hơn, lão có thể kiểm soát được chúng. Một tài xế ăn mặc lịch sự
đội mũ lưỡi trai trèo ra khỏi xe. Quetzalcoatl nghĩ có gì đó không ổn trong
cách đi của hắn, mặc dù cũng dễ xảy ra khả năng đó là một cô nàng, và khi người
tài xế quay đầu, Elder nghĩ mình bắt gặp một đôi mắt toàn màu đen phồng ra. Tên
tài xế giở mũ, để lộ cái đầu hói và đôi tai dơi dài quá cỡ, trước khi mở cánh
cửa sau xe.
Một hình dáng bước ra.
Người phụ nữ cao ráo, tao nhã, quấn mình trong chiếc áo lông
dài chấm gót làm bằng da của những con thú đã không còn đi lại trên trái đất
này nhiều thời đại qua. Mụ ta có cái đầu mèo. Đấy là Bastet.
Quetzalcoatl quan sát Elder sải bước băng qua bãi đậu xe
tiến về phía lão và cảm thấy dâng lên một cảm xúc kì quặc, một cảm giác lão
không trải nghiệm suốt nhiều thiên niên kỉ rồi: sợ hãi. Cái đuôi của lão nhét
vào sau thắt lưng, lúc này bị tuột, bò ra dưới lớp áo khoác hồi hộp đập nhè nhẹ
trên nền đất. Có lẽ tiếp xúc với nữ thần đầu mèo là một sai lầm chăng.
“Đã một thời gian dài, Quetzalcoatl nhỉ?” mụ nói, bằng ngôn
ngữ cổ xưa của Danu Talis.
Rắn Lông nhấc chiếc mũ phớt ra, cúi chào kính cẩn. “Quá lâu
rồi.”
Bastet nghiêng nghiêng cái đầu mèo của mình sang một bên,
nhìn lão, đôi mắt khổng lồ màu vàng với con ngươi chỉ là một khe hẹp. Không thể
đọc được vẻ mặt mụ, nhưng Quetzalcoatl có cảm tưởng mụ ta đang vui vẻ.
“Cám ơn vì đã đến,” lão nói. “Tôi không chắc là bà sẽ...”
“Ồ, các Elder chúng ta phải sát cánh bên nhau chứ,” Bastet
nói bằng giọng líu nhíu rin rít. “Đặc biệt là lúc này, trong thời gian thú vị
này.”Đế giày bốt lích kích trên vỉa hè khi mụ bước tới trước, vọt cao hơn hẳn
Elder thấp bé. “Tôi vui mừng khi nhận được cuộc gọi của ông. Ngạc nhiên, tôi
thừa nhận là thế. Nhưng vui.”
Quetzalcoatl tự hỏi không biết Elder đầu mèo này có ý mỉa
mai gì không, vẻ trầm tĩnh của mụ khiến rất khó đoán. “Tôi đã định liên lạc,”
lão nói khẽ. “Nhưng bà biết thời gian đã trôi qua thế nào rồi đấy.”
“Chúng ta nên tiếp xúc với nhau thường xuyên hơn, thực tế
chúng ta là láng giềng mà,” mụ nói nghe rừ rừ.
Rồi lão cũng biết mụ ta đang xỏ xiên. Mụ căm ghét lão vì
những biến cố đã xảy ra trên Danu Talis mười ngàn năm trước.
“Vậy giờ ông cần tôi giúp à?”
“Vâng, tôi nghĩ biết đâu bà có thể hỗ trợ,” lão thú nhận. “Bây
giờ chúng ta quá gần rồi, chiến thắng hầu như trong tầm tay. Tôi không muốn phó
mặc bất kì thứ gì cho may rủi.”
“Rất khôn ngoan.” Bastet khoát bàn tay phải, móng vuốt xé
màn sương. “Đây là của ông hả? Thật là tinh tế.”
“Xin cám ơn. Tôi nghĩ bà sẽ chấp thuận.”
“Giống người luôn sợ ban đêm. Đặc biệt là những đêm mù
sương. Sâu thẳm trong kí ức di truyền của mình, họ phải nhớ cảm giác thế nào
khi bị săn đuổi.” Nữ thần cười hoang dại, nhe cả hàm răng.
Quetzalcoatl đưa tay chỉ qua bên phải. Xuyên qua lớp sương
mù đang dâng cuồn cuộn, một đường viền kim loại mờ nhòe chỉ vừa đủ nhìn thấy.
Lão nhấp nháy mắt, con ngươi đổi dạng, và lão chợt nhìn thấy thế giới trong
những sắc thái của hai màu đỏ, đen. “Cầu Cổng Vàng ở đây.” Lão chỉ sang bên
trái. “Tôi không chắc bà có thể thấy, nhưng tuốt bên kia là Alcatraz.”
“Tôi có thể thấy chứ. Bộ ông quên tôi là gì, và đã trở thành
gì rồi à?” mụ rít lên cay đắng.
“Quá trình Biến đổi đã hiệu chỉnh hai người chúng ta,”
Quetzalcoatl thận trọng nói.
“Một thứ gì đó hơn các thứ khác.”
“Quả là vậy,” Rắn Lông tiếp lời. “Bên kia Alcatraz là đảo
Châu Báu, và ngay phía sau hòn đảo là cầu Vịnh.”
Bastet lật cổ áo lông của mình. “Tôi không tới đây để học
bài học địa lí.”
“Màn sương mù này che phủ mọi thứ trong bán kính một ngàn
sáu trăm mét. Không gì di chuyển trên đất liền hoặc trên biển. Tôi bảo đảm rằng
đã có vô số tai nạn. Nhà cầm quyền bị kéo căng tới mức giới hạn rồi. Cầu Cổng
Vàng và cầu Vịnh đã đóng.” Lão tra cứu nơi chiếc đồng hồ lớn quá cỡ đeo ở cổ
tay. “Chẳng bao lâu nữa một xe bồn chở xăng dầu sẽ đi qua đường phân chia giữa
cầu Dumbarton và nổ tung thành đám lửa ngọn.”
“Làm thế nào ông biết được?” Bastet hỏi.
“Tôi không tin vào việc phó mặc cho may rủi.” Lão lại kiểm
tra chiếc đồng hồ của mình. “Trong năm phút nữa, sẽ có một loạt tai nạn tại
trạm thu phí trên cầu San Mateo, khiến cây cầu này bị niêm phong toàn bộ. Và
trong mười phút nữa, công ty điện và khí ga Pacific chuyên cung cấp năng lượng
cho phía bên này đất nước, sẽ bị một loạt hỏng hóc trong mạng máy tính mang tầm
phá hủy.” Quetzalcoatl cười toe, khoe ra hàm răng man rợ. “Mọi thứ sẽ chìm vào
tăm tối.”
“Ông có thể làm thế được sao?”
“Sự thật là vậy. Tôi đã thử nghiệm một vài năm trước trên Bờ
Đông rồi. Vụ cúp điện toàn bộ ở miền Đông Bắc là một thành công đấy.”
“Tất cả những điều này thật rất ấn tượng. Vậy ông còn muốn
tôi làm gì nữa?” Bastet hỏi.
“Bà có biết chúng ta có các sinh vật trên Alcatraz không?”
“Tôi biết.”
“Và bà có biết Dee đã phản bội chúng ta không?”
“Tôi biết hắn bị tuyên bố là utlaga.”
“Hắn được giao nhiệm vụ thả lũ quỷ sứ ra khỏi hòn đảo, nhưng
đã không thi hành, và bây giờ thì biến mất rồi.”
“Không phải ông có những người có thể dùng đến sao?” Bastet
rít lên. “Tôi đâu còn tên phục vụ nào nơi miền bắc xa xôi này.”
“Tôi đã giao việc cho hai trong số những người giỏi nhất của
tôi. Billy the Kid và Diều Hâu Đen.” Lão dừng lại một chút để ho. “Chúng còn
được tháp tùng bởi tay bất tử người Ý, Machiavelli.”
Bastet kêu rít. “Có một số giống người nhất định đáng lẽ
chúng ta nên xẻ thịt ăn sống từ cách đây lâu lắm rồi. Chẳng hạn như nhà Flamel,
Dee, và chắc chắn là Machiavelli. Ông biết tôi yêu ẩm thực Ý mà.”
Quetzalcoatl thở dài. “Tôi nhất trí với bà. Machiavelli và
Billy đã đến hòn đảo để thả lũ quỷ sứ vào thành phố rồi.”
“Và sao nữa?” Bastet quay người về phía San Francisco, đầu
nghiêng qua một bên, lắng nghe. “Tôi có nghe thấy bất kì tiếng thét gào nào
đâu.”
“Bọn chúng đã thất bại,” Quetzalcoatl khẽ nói. “Tôi không
biết sao lại thế. Tôi đã nhìn thấy Lotan bơi về phía Embarcadero, nhưng nó bị
nhà Flamel giết chết. Tôi bị mất dấu Billy và Machiavelli, còn Diều Hâu Đen đã
biến mất một cách đơn giản. Tôi chỉ có thể giả thuyết rằng cả bọn đã chết hết.”
Lão nghiến răng thất vọng. “Chúng ta đã quá gần, quý bà. Hết sức gần. Chúng ta
có một hòn đảo đầy nhóc lũ quỷ sứ cách thành phố chỉ chừng một cây số rưỡi, vậy
mà khi chúng ta cố đưa được một con đến gần bãi biển, thì đôi vợ chồng bất tử
kia lại đánh bại chúng ta mất”
“Có mấy người bất tử?”
“Một nhúm chứ mấy. Flamel, bà vợ nguy hiểm của hắn, tay
chiến binh Nhật Bản, và không may là có cả Prometheus của chúng ta nữa.”
Bastet khoanh hai cánh tay ép sát người, rùng mình. “Tôi
tưởng ông ta không bao giờ rời bỏ Vương quốc Bóng Tối của ông ta chứ.”
“Nó đâu còn nữa. Đã tan thành bóng tối và bụi đất hết rồi.”
“Thật kì dị. Còn hai đứa nhỏ được cho là cặp song sinh huyền
thoại thì sao? Nhà Flamel và Dee đã bị cho rằng bọn họ đang giữ hai đứa đấy.
Một lần nữa.”
Hàm răng Quetzalcoatl lóe lên khi lão nhoẻn cười. “Chúng
biến mất khỏi thành phố luôn rồi. Tôi không thể cảm nhận được chúng đang ở đâu
trên lục địa châu Mỹ này cả.”
“Ít ra thì đó cũng là chút an ủi.”
“Bà biết nhà Flamel chắc phải gửi lời xin cứu viện. Chúng ta
càng trì hoãn, thì càng có nhiều thì giờ hơn cho phép sự tăng viện đến kịp.”
“Chúng ta cũng có đồng loại đang đến mà, phải không nào?”
“Một ít thôi. Thậm chí ngay lúc này, bầy quỷ sứ và lũ quái
dị đang tụ tập. Nhưng bà có biết rằng mọi anh hùng bất tử thuộc giống người,
mọi vị thần trong truyện hoang đường và thần thoại trung thành với nhà Flamel,
hoặc đơn giản là đối nghịch với chúng ta, đều đang hướng theo lối này không?”
“Vậy thì chúng ta đừng trì hoãn nữa. Phải đưa lũ quỷ sứ lên
bờ biển và đưa những người cùng đi mau chóng lên đường.”
“Kế hoạch nguyên thủy là cho Machiavelli và Billy đi đánh
thức lũ sinh vật ấy, thả chúng ra khỏi các xà lim. Diều Hâu Đen được giao nhiệm
vụ lái một chiếc thuyền du lịch đã có chút sửa đổi tấp vào cầu tàu, chất lên và
mang lũ sinh vật ấy vào thành phố. Sau đó hắn sẽ trở về để lấy thêm.”
“Nhưng bây giờ Diều Hâu Đen lại biến mất.”
“Tôi e rằng hắn đã bị bọn Nữ Thần Biển ăn thịt mất rồi.”
“Nhưng ông có kế hoạch dự phòng chứ?”
“Luôn luôn có.”
“Tôi nghĩ ông phải có.”
“Ngay bây giờ, một chiếc thuyền du lịch được chỉnh sửa lại
đôi chút đã đậu ngoài đảo. Tay hoa tiêu đang tụ tập những con quỷ sứ to lớn
nhất, xấu xí nhất, thèm thuồng nhất, kinh khủng nhất có thể tìm thấy. Người đó
sẽ mang lũ kia tới bờ biển và thả chúng lên đường phố. Sau đó trở lại cho
chuyến thứ hai.”
“Ông có thể tin tưởng tay hoa tiêu này không?”
“Là anh tôi mà.”
“Tôi không hề biết là ông có một người anh đấy.”
“Anh ấy rời Danu Talis khá lâu trước biến cố Nhận chìm. Quá
trình Biến đổi thật tàn ác với anh ấy. Nhưng khi tôi cần một ai đó để tin cậy,
tôi biết mình có thể nhờ anh ấy. Anh ấy vui vẻ thậm chí còn nhiệt tình giúp đỡ
tôi.” Hàm răng lão lóe lên khi cười hiểm ác. “Sau bao nhiêu chuyện, nếu ta
không thể cậy dựa vào gia đình mình, thì còn có thể tin cậy ai được nữa?”
“Vậy tại sao ông còn cần tôi?” Bastet hỏi, phớt lờ sự hòa
hợp chủ đề. Con trai Aten của mụ đã phản bội mụ.”Tôi đang nghe một chữ ‘nhưng...’
đây,” mụ thúc giục.
“Nhà Flamel và đồng bọn sẽ làm tất cả trong khả năng của bọn
họ để ngăn trở chúng ta.”
“Thế thì chúng ta phải loại trừ nhà Flamel, Prometheus và
Niten?”
“Đúng, mà chúng ta chỉ có một thời gian rất ngắn để đánh bại
bọn họ trước khi quân cứu viện đến.”
Ánh mắt Bastet đọng lại trên Rắn Lông. “Mà ông có bảo đảm là
bọn họ không có các đồng minh khác trong thành phố này không?”
“Mọi người khác đều ở trên hòn đảo rồi.” Lão cười toe. “Hi
vọng là đang cung cấp một bữa ăn phụ ngon lành cho thứ gì đó thật tàn ác.”
Bastet chà hai bàn tay vào nhau. Móng tay mụ nảy lửa văng
vào nhau. “Thế thì đơn giản rồi. Chúng ta chia nhỏ lực lượng chúng ra. Cử một
ai đó giao chiến với các chiến binh Prometheus và Niten. Không có hai người
này, Nicholas và Perenelle chẳng còn gì hơn là những kẻ bất tử sẽ già đi cùng
với từng lần sử dụng luồng điện thôi. Tôi biết luồng điện của bọn họ đang nhợt
nhạt dần.”
“Chúng ta có thể cử cái gì? Tôi chẳng còn tiềm lực nào.”
“À, nhưng tôi thì có.” Mụ thò tay vào túi lấy ra một cái túi
bằng da thuộc, lắc kêu lích kích. “Ông có nhớ mấy cái này không? Răng rồng đấy?”
“Spartoi,” lão nói.
Bastet gật đầu. “Những chiến binh đất không thể hủy diệt.”
“Hoàn hảo. Đúng là hoàn hảo.” Quetzalcoatl lại kiểm tra đồng
hồ đeo tay lần nữa, đĩa số sáng chói phết lên một gã một màu xanh lá. “Còn
năm... bốn... ba... hai... một.”
Toàn bộ thành phố tắt phụt tối om.
Xuyên khắp thành phố, tiếng chuông báo trộm tắt ngấm khi pin
dự phòng mất nguồn cung cấp. Trong màn sương bao phủ lên tất cả, âm thanh phát
ra nghe như tiếng chuột kêu rúc rích.