Nghệ thuật đua xe trong mưa - Chương 37 - 38 - 39
37
Buổi sáng sau đám tang Eve,
tôi hầu như không nhúc nhích nổi. Mình mẩy tôi cứng đờ đến mức đứng còn không
được, và thế là Denny phải đi tìm tôi vì mọi khi tôi vẫn nhỏm dậy ngay và giúp
ông lo bữa sáng. Tôi đã tám tuổi rồi, lớn hơn Zoë hai tuổi, dù tôi cảm thấy
giống chú của cô bé hơn là anh trai. Dù tôi vẫn còn quá trẻ không thể bị viêm
khớp hông được, vậy mà đó lại đúng là chứng bệnh tôi đang phải chịu. Viêm khớp
thoái hóa do chứng loạn sản khớp hông gây ra. Đó là một căn bệnh khó chịu,
phải; nhưng theo một nghĩa nào đó thì lại là cái lãng khuây để tôi nghĩ đến khó
khăn của mình hơn là nghĩ mãi đến những điều đã ám ảnh ý nghĩ tôi: cụ thể là,
Zoë đang kẹt với Cặp Sinh Đôi.
Từ khi còn bé xíu tôi đã hiểu
rằng hông mình có dị tật. Hầu hết những tháng đầu đời tôi chạy nhảy vui đùa với
Denny, chỉ có hai chúng tôi, vì vậy mà tôi ít có dịp so sánh mình với mấy con
chó khác. Khi tôi đã đủ lớn để lui tới công viên dành cho chó thì tôi nhận ra
là dáng đi chụm hai chân sau - dù dễ chịu cho tôi hơn nhiều - lại là một dấu
hiệu rõ ràng cho thấy hông tôi bị tật. Cái tôi ghét nhất là bị xem như đồ bỏ
đi, vậy nên tôi tập đi và chạy theo một số kiểu nào đó để che giấu khuyết tật.
Khi tôi trưởng thành và lớp
sụn bảo vệ ở khớp xương giảm đi, sụn vẫn thường như vậy, cái đau trở nên buốt
hơn. Thế nhưng, thay vì kêu ca, tôi cố che giấu vấn đề của mình. Có lẽ tôi đã
luôn giống Eve nhiều hơn những gì bản thân từng thừa nhận, vì tôi chẳng mấy tin
tưởng giới y học và luôn tìm cách bù đắp khuyết tật để tránh một chẩn đoán rất
có thể chỉ càng làm cái chết của tôi đến nhanh hơn thôi.
Như tôi đã đề cập, tôi không
biết nguyên do tại sao Eve không tin tưởng vào thuốc men; tuy vậy, nguồn cơn
khiến tôi mất tin tưởng thì lại hoàn toàn rõ ràng. Hồi tôi chỉ mới là một chú
cún, chưa quá một hai tuần tuổi, lão chủ nông trại ở Spangle đã giới thiệu tôi
với một người bạn của lão. Người đàn ông ôm tôi vào lòng mà nựng, sờ nắn hai
chân trước của tôi hồi lâu.
“Nên cắt đi,” ông ta nói với
lão chủ.
“Để tôi giữ nó cho,” lão chủ
nói.
“Cần phải gây tê cho nó, Will
à. Lẽ ra anh phải gọi tôi từ tuần rồi.”
“Tôi sẽ chẳng uổng tiền cho
một con chó đâu, bác sĩ,” lão chủ nói. “Cắt đi.”
Tôi chẳng biết họ đang nói về
chuyện gì, nhưng rồi lão chủ ôm chặt quanh bụng tôi. Người đàn ông kia, “bác sĩ”,
túm lấy chân phải trước cửa tôi và, bằng một cái kéo sáng loang loáng dưới
nắng, cắt phăng móng huyền trên bàn tay phải của tôi. Ngón cái bên phải của
tôi. Cơn đau bừng lên khắp người, một cái đau tàn khốc, choáng váng. Tàn bạo và
khủng khiếp, khiến tôi kêu ẳng lên. Tôi vùng vẫy hết sức mình để thoát ra,
nhưng lão chủ túm tôi chặt đến muốn tắt thở. Thế rồi ông bác sĩ cầm lấy chân
trái tôi và, chẳng chút trù trừ, cắt rụp ngón cái bên chân trái của tôi. Cách.
Tôi nhớ điều đó có lẽ còn hơn cả cái đau. Cái âm thanh ấy. Cách. Rất to. Và rồi
máu me đầy. Cơn đau khủng khiếp đến nỗi nó làm tôi run lên yếu ớt. Sau đó, ông
bác sĩ bôi thuốc mỡ lên vết thương và băng chặt hai chân trước lại rồi thì thầm
với tôi, “Kẻ không chịu trả một chút tiền thuốc tê nội cho con cún của hắn là
kẻ đáng khinh ti tiện.”
Anh thấy không? Đây là lí do
tôi không tin tưởng họ. Kẻ cắt mà không dùng thuốc gây tê vì hắn ta muốn được
trả tiền là đồ đáng khinh ti tiện.
Cái hôm sau đám tang Eve,
Denny dẫn tôi đến bác sĩ thú y, một người đàn ông gầy có mùi cỏ khô, người có
cái túi không đáy đầy đồ ăn. Ông sờ nắn hai hông tôi và tôi cố không nhăn mặt,
nhưng tôi không kìm được khi ông bóp mạnh một đôi chỗ. Ông chẩn đoán cho tôi,
kê toa thuốc chống viêm, và nói ông chẳng còn làm gì được nữa trừ việc một hôm
nào đó sau này có thể thực hiện cuộc phẫu thuật tốn kém để thay thế các bộ phận
khiếm khuyết của tôi.
Denny cám ơn người đàn ông
rồi chở tôi về nhà.
“Mày bị chứng loạn sản hông,”
ông nói với tôi.
Giá có ngón chân thì tôi đã
chọc ngón chân vào tai cho đến lủng màng nhĩ luôn. Gì cũng được để khỏi nghe
thấy.
“Chứng loạn sản hông,” ông
lặp lại, lắc đầu kinh ngạc.
Tôi cũng lắc đầu. Đi cùng
những chẩn đoán, tôi biết, là kết cục của mình. Từ từ, có lẽ vậy. Một cách đau
đớn, chắc chắn rồi; đánh dấu bằng một tấm biển chỉ đường ông bác sĩ thú y trải
ra. Cái có thể thấy được trở thành cái không thể tránh được. Xe chạy theo hướng
mắt ta nhìn. Dù tổn thương đã khiến Eve không tin tưởng vào y học là gì đi nữa
thì tôi cũng chỉ thấy những tác động thôi: cô đã không thể ngoảnh đi không nhìn
nơi mà người khác bảo cô nhìn. Hiếm có người nghe cái thẩm quyền thẳng thừng
của một chẩn đoán giai đoạn cuối mà không chịu chấp nhận nó, và chọn một con
đường khác. Tôi nghĩ về Eve và chuyện cô đã nhanh chóng đón nhận cái chết của
mình ra sao một khi những người quanh cô đã công nhận; tôi đã nghĩ đến những
tiên đoán về kết cục của chính mình, sẽ đầy chịu đựng và đớn đau, như đa số
người trên cõi đời tin cái chết là điều tất yếu, và tôi cố ngoảnh đi.
38
Vì những lời buộc tội Denny
nên Cặp Sinh Đôi đã được trao lệnh câu thúc tạm thời, thứ có nghĩa là, thử
thách trong khi chờ xét xử, Denny tuyệt đối không được gặp Zoë trong vài tháng.
Mấy phút sau khi ông bị bắt, lão Maxwell và bà Trish đã đệ đơn yêu cầu chấm dứt
quyền giám hộ dưới bất kì hình thức nào của Denny, vì ông rõ ràng là một ông bố
không đủ tư cách. Một kẻ ấu dâm. Một tội phạm tình dục.
Vậy đấy. Tất cả chúng ta đều
chơi theo cùng luật; chỉ là một số người bỏ thời gian ra mà đọc mấy cái luật đó
và nghĩ cách nào để làm chúng có lợi cho mình.
Tôi đã xem những phim về bắt
cóc trẻ em và nỗi đau lẫn kinh hoàng nghẹt thở của cha mẹ khi con họ bị người
lạ bắt đi. Denny cảm thấy đến tận cùng nỗi đau buồn đó, và, theo cách riêng của
mình, tôi cũng vậy. Mà chúng tôi thì biết Zoë ở đâu. Chúng tôi biết ai đã bắt
cô bé đi. Vậy mà chúng tôi lại chẳng thể làm gì.
Mark Fein khuyên rằng nếu để
Zoë biết được về vụ kiện thì con bé sẽ bị kích động, và gợi ý là Denny nên bịa
ra một câu chuyện về đua xe ở châu Âu để cắt nghĩa sự vắng mặt kéo dài của
mình. Mark Fein còn thương lượng một sự trao đổi thư từ: những mẩu thư và hình
Zoë vẽ sẽ được đưa đến cho Denny, còn Denny thì có thể viết thư cho con mình,
miễn là ông đồng ý để mấy lá thư ấy được hội đồng của Cặp Sinh Đôi kiểm duyệt.
Để tôi cho các anh hay, kín từ trên xuống dưới các vách tường trong nhà chúng
tôi đều được trang hoàng các tác phẩm nghệ thuật vui tươi của Zoë, và Denny với
tôi đã dành biết bao đêm dài để bịa ra những lá thư gửi cho Zoë, kể về những
chiến tích của Denny trên đường đua châu Âu.
Dù rất muốn Denny hành động,
tấn công vào trật tự ổn cố một cách táo bạo và mãnh liệt thì tôi vẫn tôn trọng
sự kiềm chế của ông. Denny từ lâu đã ngưỡng mộ tay đua huyền thoại Emerson
Fittipaldi. “Emmo”, như bè bạn ông ta gọi, là một nhà vô địch có tầm cỡ lớn lao
và sự kiên định đáng nể, và nổi tiếng về tính thực dụng trên đường đua. Ứng xử
liều lĩnh không phải là một ý hay, khi mà việc chọn sai có thể ném ta vào tường
ở Indy, xoắn xe ta thành một tác phẩm điêu khắc kim loại rực lửa mà nhân viên
cứu hộ cố gắng gỡ ra trong khi da thịt ta lóc khỏi xương vì những ngọn lửa
ethanol vô hình đang cháy. Emmo không những chưa bao giờ hoảng hốt mà ông ta
còn chưa hề đưa mình vào cái thế mà ông có thể sẽ phải hoảng hốt; như Emmo,
Denny chưa hề liều không cần thiết.
Dù cả tôi cũng ngưỡng mộ và
cố tranh đua với Emmo, nhưng tôi nghĩ rằng mình sẽ thích chạy xe như Ayrton
Senna, đầy cảm xúc và liều lĩnh. Tôi đã ước một ngày nào đó có thể gói ghém vật
dụng cần thiết của chúng tôi lên chiếc BMW, chạy qua trường của Zoë để đón cô
bé mà không thông báo, và rồi thẳng tiến Canada. Từ Vancouver, chúng tôi có
thể chạy về hướng Đông đến Montreal - nơi có nhiều đường đua tuyệt vời và là
nơi họ tổ chức Grand Prix Công thức Một mỗi mùa hè - để sống một mình trong yên
bình đến cuối đời.
Nhưng tôi không có quyền chọn
lựa chuyện đó. Tôi không ngồi sau tay lái. Chẳng ai đếm xỉa đến tôi. Thế nên
tất cả họ đều trong tình trạng hoảng loạn khi Zoë hỏi ông bà là cô bé gặp tôi
có được không. Các anh thấy đấy, chẳng ai nhắc gì đến chuyện tôi hiện đang ở
đâu. Cặp Sinh Đôi, không biết cái công trình bịa đặt công phu của họ đã đặt tôi
chỗ nào, tức thì gọi cho Mark Fein, ông ta tức thì gọi cho Denny để vạch ra
thực chất tình thế nan giải của chúng tôi.
“Con bé đã tin vào tất cả ấy,”
tôi còn nghe được Mark rống trong điện thoại, dù điện thoại ép sát vào tai
Denny. “Vậy nên anh để con chó quỷ quái ấy ở đâu? Anh nói anh mang nó theo cùng
cũng được, nhưng còn quy định kiểm dịch mà! Con bé có biết về kiểm dịch không
vậy?”
“Hãy bảo con bé đương nhiên
là nó có thể gặp Enzo,” Denny nói điềm tĩnh. “Enzo đang ở với Mike và Tony khi
tôi đang ở châu Âu; Zoë thích họ, và con bé sẽ tin chuyện đó. Thứ Bảy tôi sẽ
nhờ Mike dẫn Enzo đến.”
Và chuyện diễn ra như thế.
Đầu buổi chiều Mike qua đón rồi chở tôi lại đảo Mercer, và tôi chơi với Zoë cả
buổi chiều trên sân cỏ rộng. Trước giờ ăn tối, Mike trả tôi về với Denny.
“Con bé trông ra sao?” Denny
hỏi Mike.
“Con bé trông tuyệt lắm,” Mike
đáp. “Nó có nụ cười của mẹ nó.”
“Hai đứa chơi với nhau vui
chứ?”
“Tuyệt lắm. Chúng chơi đùa cả
ngày.”
“Nhặt đồ à?” Denny hỏi, khát
khao muốn biết tường tận. “Con bé có dùng cây quăng bóng Chuckit không? Hay
chúng chơi đuổi bắt? Eve chưa hề thích tụi nó chơi đuổi bắt.”
“Không, chủ yếu là nhặt đồ,” Mike
đáp tử tế.
“Tớ không bao giờ sợ khi
chúng đuổi bắt vì tớ biết Enzo nhưng Eve thì lại luôn...”
“Cậu biết không,” Mike nói, “nhiều
lúc chúng chỉ nằm lăn ra cỏ rồi vuốt ve nhau. Thật dễ thương hết sức.”
Denny quệt nhanh mũi.
“Cám ơn, Mike,” ông nói. “Thật
đấy. Cám ơn nhiều lắm.”
“Luôn sẵn lòng,” Mike nói.
Tôi biết ơn cố gắng làm Denny
khuây nguôi của Mike, dù ông ta đang tránh né sự thật. Cũng có thể Mike không
thấy cái tôi thấy. Có thể ông ta không nghe được cái tôi nghe. Nỗi buồn sâu
thẳm của Zoë. Nỗi cô độc của bé. Những dự tính cô bé thì thầm rằng hai bọn tôi
sẽ bằng cách nào đó lẻn đi châu Âu tìm cha cô.
Mùa hè không có Zoë đó thật
đau đớn cho Denny. Ngoài việc cảm thấy bị cách li với con gái, sự nghiệp của
ông cũng trật đường ray: dù được trao cơ hội lại lái cho đội ông đã đua cùng
hồi năm ngoái thì ông cũng buộc phải từ chối, vì vụ án hình sự chưa xử đòi hỏi
là ông phải luôn luôn ở yên trong tiểu bang Washington nếu không ông sẽ để mất
cam kết. Thêm nữa, ông không được phép nhận bất kì việc giảng dạy sinh lợi hay
lời mời công việc quảng cáo nào đến với ông - sau sự kiện tuyệt vời ở Đồi Sấm,
ông được đánh giá cao trong ngành quảng cáo và khá thường xuyên nhận được những
lời mời qua điện thoại. Những công việc này gần như luôn là ở California, hay
đôi khi ở Nevada hay Texas, và thỉnh thoảng ở Connecticut, và do vậy mà ông bị
cấm. Ông là tù nhân của tiểu bang.
Và còn nữa.
Tất cả chúng ta đều được ban
cho hiện hữu xác thân để có thể học hỏi về bản thân. Vậy nên tôi hiểu tại sao
Denny, ở một mức độ sâu xa hơn, cho phép tình trạng này xảy đến với mình. Tôi
không nói là ông tạo ra tình cảnh, mà ông đã cho phép nó. Vì ông cần thử thách
khí phách mình. Ông muốn biết ông có thể để chân trên chân ga bao lâu rồi mới
nhấc lên. Ông chọn cuộc sống này, và do vậy ông chọn cuộc chiến này.
Và tôi nhận ra, khi mùa hè
dần qua còn tôi thường xuyên thăm Zoë mà không có Denny, rằng mình cũng là một
phần trong câu chuyện này. Tôi là một phần không thể thiếu trong vở kịch. Vì
vào cuối những chiều thứ Bảy trong tháng Bảy ấy, sau khi Mike thuật lại các sự
kiện trong ngày cho Denny rồi trở về với thế giới riêng của mình, Denny thường
ngồi với tôi trên hiên sau và đố tôi, “Mày có chơi trò nhặt đồ không đó? Mày có
chơi giằng đồ không? Mày có đuổi bắt không?” Ông thường hỏi, “Mày có âu yếm
không?” Ông hỏi, “Con bé trông thế nào? Nó có ăn đủ trái cây không? Họ có mua
thực phẩm hữu cơ không?”
Tôi đã cố. Tôi cố hết sức
mình nói thành lời cho ông, nhưng không được. Tôi cố phát những ý nghĩ vào đầu
ông bằng thần giao cách cảm. Tôi cố gửi cho ông những hình ảnh tôi thấy trong
đầu mình. Tôi giật giật tai. Tôi nghếch đầu. Tôi gật. Tôi cào.
Cho đến khi ông mỉm cười với
tôi và đứng lên.
“Cám ơn, Enzo,” ông thường
nói những hôm ấy. “Mày chưa mệt đứ đừ chứ hả, phải không?”
Tôi thường đứng lên và ve vẩy
đuôi. Chưa bao giờ tôi mệt quá cả.
“Vậy thì ta đi nào.”
Ông thường vớ cái Chuckit và
trái banh tennis rồi dẫn tôi xuống công viên Chó Xanh, rồi chúng tôi thường
chơi nhặt đồ cho đến khi ánh sáng nhạt đi và muỗi từ chỗ nấp túa ra, thèm bữa
tối.
39
Mùa hè đó, có một dịp Denny
tìm được một việc giảng dạy ngắn hạn ở Spokane và, qua Mike, Liên lạc viên Liên
lục địa giả vờ của chúng tôi, hỏi xem Cặp Sinh Đôi có nhận tôi cuối tuần không;
họ đồng ý, vì họ đã đâm ra quen với sự có mặt của tôi trong nhà mình rồi, và
tôi luôn cư xử có tư cách vô cùng khi ở bên họ, chưa hề vấy đất lên mấy tấm
thảm to thảm nhỏ đắt tiền của họ, chưa hề xin xỏ đòi ăn, và chưa hề rệu nước
dãi khi ngủ.
Tôi thích đến trường dạy đua
với Denny hơn, nhưng vẫn hiểu là ông trông cậy tôi lo cho Zoë, và còn thay ông
mà làm một kiểu nhân chứng. Dù tôi chẳng thể thuật lại cho ông nghe tường tận
các cuộc viếng thăm của chúng tôi thì sự có mặt của tôi, tôi nghĩ, cũng làm ông
an tâm đôi phần.
Chiều thứ Sáu, tôi được Mike
đưa vào vòng tay chờ đợi của Zoë. Cô bé liền dẫn tôi vào phòng mình, rồi chúng
tôi cùng chơi một trò ăn diện; bảo rằng tôi hi sinh vì người khác là còn nhẹ
đấy, nếu xét đến mấy bộ cánh điên khùng tôi buộc phải mặc. Nhưng đó là cái bản
ngã trong tôi đang nói thôi; tôi biết vai trò anh hề của mình trong cung đình
của Zoë, nên vẫn vui vẻ mà tham gia.
Chiều tối hôm ấy lão Maxwell
dẫn tôi ra ngoài sớm hơn mọi lần, giục tôi “làm đi”. Khi tôi trở vào trong,
được dẫn vào phòng Zoë, thì đã có cái chỗ nằm của tôi trong đó rồi. Rõ ràng là,
cô bé đã đòi tôi ngủ với bé chứ không phải cạnh cửa sau, hay, phỉ phui, trong
ga ra. Tôi cuộn tròn vo và ngủ ngay.
Một lát sau, tôi tỉnh giấc.
Mấy ngọn đèn mờ mờ. Zoë còn thức và rất hăng hái, đang xếp quanh giường tôi một
đống thú nhồi bông.
“Chúng sẽ cho mi có bầu có
bạn,” cô bé thì thầm với tôi trong lúc quây mấy con thú quanh tôi.
Có khi phải tới hàng trăm
con. Đủ mọi hình thù và kích thước. Bao quanh tôi là những chú gấu nhồi bông và
hươu cao cổ, cá mập và chó, mèo và chim và rắn. Cô bé chăm chỉ xếp còn tôi cứ
nhìn, cho đến khi tôi chẳng khác nào một đảo san hô nhỏ bé giữa Thái Bình
Dương, mấy con thú là rặng san hô. Tôi thấy có phần vừa tức cười vừa cảm động
khi Zoë nghĩ đến chuyện chia sẻ với tôi mấy con thú của mình kiểu ấy, và tôi
thiu thiu ngủ mà cảm thấy được bảo bọc và an toàn.
Về sau tôi thức giấc trong
đêm thì thấy bức tường thú quanh mình đã cao lắm rồi. Tuy nhiên tôi vẫn có thể
xoay mình và đổi tư thế cho thoải mái hơn. Nhưng khi làm thế thì, tôi choáng
váng trước một cảnh tượng kinh hoàng. Một trong mấy con thú. Con trên cùng.
Nhìn thẳng vào tôi. Đó là con ngựa vằn.
Con ngựa vằn thay thế. Con mà
cô bé đã chọn để thay cho con quỷ tự phanh thây trước mặt tôi rất lâu trước
đây. Con ngựa vằn làm kinh sợ trong quá khứ của tôi.
Con quỷ đã trở lại. Và, dù
trong phòng tối song tôi vẫn biết mình đã nhìn thấy một tia sáng lóe lên trong
mắt nó.
Như các anh cũng hình dung
được rồi đó, đêm ấy tôi ngủ chập chờn. Chuyện tôi chẳng hề muốn là tỉnh giấc
giữa một cuộc thảm sát đám thú vì con quỷ đã trở lại. Tôi buộc mình phải tỉnh
táo; vậy mà tôi cũng không nhịn được lơ mơ ngủ. Cứ mở mắt ra là tôi lại thấy
con ngựa vằn nhìn mình trừng trừng. Như một tượng đầu thú, nó đứng trên một nhà
thờ gồm những con thú cao bên trên tôi mà nhìn. Mấy con thú kia vô tri; chúng
chỉ là đồ chơi. Chỉ mình con ngựa vằn là có ý thức.
Cả ngày tôi cảm thấy uể oải,
nhưng vẫn cố hết sức giữ tỉnh táo, và tôi đã cố ngủ bù bằng cách im lìm chợp
mắt. Trước mặt bất cứ ai tôi cũng dám chắc rằng mình đã cho cái ấn tượng là hết
sức tự tại; tuy nhiên, khi đêm đến tôi lo lắng, lo là, lại một lần nữa, con
ngựa vằn sẽ tra tấn tôi bằng ánh mắt giễu cợt của hắn.
Chiều đó, khi Cặp Sinh Đôi
uống rượu trên hiên như họ thường làm còn Zoë xem truyền hình trong phòng để
TV, tôi thiu thiu ngủ ngoài nắng. Và rồi tôi nghe thấy họ.
“Tôi biết vậy là tốt nhất,” bà
Trish nói. “Tuy nhiên, tôi thấy tội nghiệp nó quá.”
“Vậy là tốt nhất mà,” Maxwell
nói.
“Tôi biết. Nhưng mà...”
“Hắn ép buộc một đứa con gái
còn ở tuổi thiếu niên,” lão Maxwell nói lạnh lùng. “Loại cha nào lại đi rình mò
mấy cô gái trẻ ngây thơ hả?”
Tôi ngẩng đầu lên khỏi cái
hiên có sàn gỗ ấm thì thấy bà Trish cười khúc khích và lắc đầu.
“Sao hả?” Maxwell hỏi.
“Theo như tôi nghe được thì
con bé chả ngây thơ vậy đâu.”
“Bà nghe cái gì!” Maxwell
buột miệng. “Nó ép buộc một đứa con gái trẻ! Đó là cưỡng hiếp!”
“Tôi biết, tôi biết. Chỉ là
thời gian con bé ra khai báo lại... trùng hợp gớm.”
“Bà muốn nói con bé bịa ra
sao?”
“Không phải,” Trish nói. “Nhưng
sao Pete lại chờ đến sau khi ông cứ kêu ca chua chát với ông ta là ông chắc
chắn mình sẽ không được giám hộ Zoë rồi mới cho mình biết chuyện đó?”
“Tôi chẳng cần biết gì mấy
chuyện đó,” Maxwell nói, xua bà ta đi. “Nó không tử tế đúng mức với Eve, cũng
không đáp ứng được cho Zoë. Và nếu nó ngu ngốc đến độ để bị tóm khi quần tụt
xuống và tay cầm cái đó thì bà cứ chắc là tôi sẽ chụp ngay lấy lúc đó. Zoë sẽ
có một tuổi thơ tốt hơn khi ở với mình. Nó sẽ được giáo dục đạo đức tốt hơn,
nuôi dạy bằng khả năng tài chính tốt hơn, một đời sống gia đình tốt hơn, và bà
biết điều đó, bà Trish. Bà biết điều đó mà!”
“Tôi biết, tôi biết,” bà ta
nói, rồi nhấp li rượu màu hổ phách có trái anh đào đỏ tươi chìm dưới đáy li. “Nhưng
nó không phải là người xấu.”
Lão dốc li rượu xuống cổ họng
rồi đập cái li xuống bàn gỗ tếch.
“Đến giờ ăn tối rồi,” lão
nói, rồi đi vào nhà.
Tôi sững sờ. Cả tôi cũng đã
nhận thấy sự trùng hợp ngẫu nhiên của các sự kiện, và cũng đã nghi ngờ từ đầu.
Nhưng còn nghe những lời ấy, cái lạnh lùng trong giọng điệu lão Maxwell.
Hãy hình dung chuyện này.
Hình dung có một người vợ đột ngột qua đời vì ung thư não. Rồi hình dung bị bố
mẹ cô ấy tấn công không thương tiếc để giành quyền giám hộ đứa con gái của ta.
Hãy hình dung là họ đã khai thác các lời buộc tội gạ gẫm tình dục hại ta; họ
mướn đám luật sư khôn ngoan và cao giá vì họ thừa tiền hơn ta nhiều. Hình dung
là họ ngăn không cho ta được liên lạc gì với đứa con gái sáu tuổi đầu của ta
suốt nhiều tháng liền. Và hãy hình dung họ tìm cách gây khó dễ không cho ta
kiếm tiền để lo cho bản thân và, dĩ nhiên, cho con gái ta, như ta mong muốn. Ta
có thể chịu được bao lâu trước khi ý chí ta ngã quỵ?
Họ chẳng biết mình đang đọ
với ai. Denny sẽ không bao giờ quỳ gối trước họ. Ông sẽ không bao giờ rút rui;
không bao giờ ngã gục.
Cảm thấy kinh tởm, tôi theo
họ vào nhà. Bà Trish bắt đầu chuẩn bị bữa tối còn lão Maxwell lấy cái hũ ớt của
lão trong tủ lạnh ra; trong tôi, một âm mưu đang ngấm ngầm trù tính. Những kẻ
bày mưu tính kế. Những kẻ giật dây. Với tôi họ không còn là người nữa. Giờ họ
là Cặp Sinh Đôi Hiểm Độc. Những kẻ ác độc, khủng khiếp, ném đá giấu tay, tọng
những trái ớt cay xé họng để cung cấp chất đốt cho mật trong dạ dày. Khi cười,
mũi chúng phun lửa. Chúng không đáng sống, những kẻ này. Chúng là những sinh
vật gớm tởm, những dạng sinh vật sống nhờ nitơ trong những xó tối nhất dưới
những cái hồ sâu nhất nơi không có ánh sáng và áp suất nghiền nát mọi thứ thành
cát; những chốn sâu hút, tối tăm mà oxy sẽ chẳng bao giờ dám bén mảng tới.
Cơn giận của tôi đối với Cặp
Sinh Đôi Hiểm Độc châm thêm cái ước muốn trả thù trong tôi. Và tôi cũng chưa
vượt lên được việc phải dùng các công cụ mang tính chó của mình mà đòi công lí.
Tôi chường mặt ra trước lão
Maxwell khi lão tọng vào họng một trái ớt nữa rồi nhai nát nó bằng mấy cái răng
sứ mà đêm đêm phải tháo ra. Tôi ngồi trước mặt lão. Tôi đưa tay lên.
“Muốn một miếng hử?” lão hỏi
tôi, rõ ràng là ngạc nhiên trước cử chỉ của tôi.
Tôi sủa.
“Đây này, anh chàng,”
Lão rút một trái ớt trong lọ
ra chìa trước mũi tôi. Đó là một trái lớn, dài, xanh lét giả tạo và có mùi
Sunfit và Nitrat. Kẹo của quỷ.
“Tôi thấy mấy thứ đó không
tốt cho chó đâu,” Trish nói.
“Nó thích mà,” Maxwell bác.
Ý nghĩ đầu tiên trong tôi là
ngoạm lấy trái ớt cùng với vài ngón tay của lão Maxwell. Nhưng chuyện đó có thể
sẽ gây rắc rối to, và tôi rất có thể sẽ bị cho hóa kiếp trước khi Mike kịp về
cứu tôi nên tôi không ngoạm mấy ngón tay của lão. Nhưng tôi ngoạm lấy miếng ớt.
Tôi biết nó không tốt cho tôi, rằng tôi sẽ bị khó chịu ngay. Nhưng tôi biết sự
khó chịu của mình sẽ qua, và tôi chờ thấy cái phản ứng ngược khó ưa, là cái mà
tôi muốn. Suy cho cùng thì tôi chỉ là một con chó ngu ngốc, chẳng đáng để con
người khinh bỉ, chẳng có đầu óc mà phải chịu trách nhiệm về các chức năng cơ
thể của mình. Một con chó đần độn.
Tôi chăm chú quan sát họ ăn
tối vì tôi muốn tận mắt thấy. Cặp Sinh Đôi cho Zoë ăn một loại gà rưới xốt kem
nào đó. Họ không biết rằng dù Zoë thích món cốt lết gà, nhưng cô bé không hề ăn
cùng với xốt, và đương nhiên không bao giờ với kem; cô bé ghét cái gì sền sệt.
Khi cô bé không ăn đậu tây, bà Trish hỏi cô bé hay là có muốn ăn chuối không.
Zoë đáp là có và bà Trish làm mấy lát chuối, mà Zoë chỉ nhón chút vì nó trông
thô lậu và bị đốm nâu, thứ cô bé luôn tránh. (Khi Denny chuẩn bị chuối cho cô
bé, ông rất để ý cắt chuối với độ dày đều tăm tắp sau khi đã cắt bỏ sạch trơn
đốm nào ông thấy được.)
Thế mà những tên tay sai của
quỷ sứ này - những kẻ được xem là ông bà cơ đấy! - tưởng Zoë sẽ sung sướng hơn
khi được ở với chúng! Ô hay! Chúng chẳng dành lấy một phút nghĩ đến sức khỏe
của cô bé; ăn tối xong chúng cũng chẳng hề hỏi xem sao cô bé không chịu ăn
chuối. Chúng cho phép cô bé rời bàn ăn mà gần như chưa ăn gì. Denny hẳn sẽ
chẳng bao giờ cho phép chuyện đó. Ông sẽ làm cho cô bé cái gì đó cô bé thích và
sẽ yêu cầu cô bé ăn đủ bữa để tiếp tục lớn một cách khỏe mạnh.
Suốt lúc đó tôi quan sát, tôi
giận sôi lên. Và trong bụng tôi, một thứ hỗn hợp pha trộn thối hoắc đã ngấm.
Đến lúc dẫn tôi ra ngoài tối
ấy, lão Maxwell mở cái cửa ra hiên sau và bắt đầu bài vè ngớ ngẩn của lão: “Làm
đi, anh bạn. Làm đi.”
Tôi không đi ra ngoài. Tôi
ngước nhìn lão và nghĩ về những điều lão đã làm, lão đã chia rẽ gia đình chúng
tôi, xé toạc cái kết cấu đời sống của chúng tôi vì những mục đích hợm mình, tự
ca tụng của lão ra sao; tôi nghĩ lão và bà Trish là những kẻ giám hộ vô cùng
thấp thỏi cho Zoë thế nào. Thế là tôi đứng cong mình lên ngay tại đó, trong
nhà, và rồi phẹt ra một đống phân to tướng, lỏng lẹt, thối hoắc trên tấm thảm
Berber màu lanh đẹp đẽ, đắt tiền của lão.
“Cái quái gì đây trời?” lão
quát tôi. “Đồ chó hư!”
Tôi quay lại và hớn hở lóc
tóc chạy vào phòng Zoë.
“Dọn đi, đồ ti tiện,” tôi nói
khi bỏ đi. Nhưng, dĩ nhiên, lão chẳng thể nghe thấy tôi.
Khi đã nằm gọn lỏn giữa cái
hồ thú nhồi bông của mình, tôi nghe thấy lão Maxwell la um lên gọi bà Trish tới
dọn cái đống đó. Tôi nhìn con ngựa vằn, vẫn còn nghễu nghện trên ngai những
mình thú vô hồn của nó, rồi gầm gừ với nó rất khẽ nhưng cũng rất gở. Vậy là con
quỷ hiểu. Con quỷ hiểu rằng đêm ấy đừng có mà dây với tôi.
Đêm đó, và không bao giờ nữa.

