Chai thời gian - Chương 29 - 30

Chương 29

Khi ra khỏi nhà
Jom, tôi phân vân một lúc lâu, cố gắng nghĩ xem nên đi đâu và gặp ai nhưng
không thể nghĩ ra.

Tôi quyết định gọi
điện tới văn phòng của bố nhưng người nhấc máy cho tôi biết ông đang lên miền
ngược thăm họ hàng, tôi đoán là của Waeo, vì những người thân duy nhất còn sống
của ông là bà nội và ông trẻ tôi, mà cả hai đều đang ở đồn điền tại Bang
Khunthian.

Khi Ning và tôi
còn bé, bố đã đưa chúng tôi đi thăm bà nội, nhưng không thường xuyên lắm. Tôi
nhớ nhà của ông trẻ tôi là một căn nhà sàn gỗ vừa to vừa cao lênh khênh, có
nhiều loại cây và những con chó cực kỳ dữ tợn. Mỗi khi đến đó, Ning và tôi đều
chùn lại, sợ rằng chúng sẽ ăn sống chúng tôi. Bà nội dáng cao to, tóc cắt ngắn
như đàn ông, miệng đỏ lòm do ăn trầu và giọng nói oang oang. Thuở ấy, tôi sợ
quá không dám đến gần bà hay thậm chí là nhận những món ngọt truyền thống của
Thái như bánh chuối hay mứt mà bà chìa ra cho chúng tôi. Còn ông trẻ của tôi là
một người đàn ông trầm lặng ít khi chuyện phiếm. Đáp lại lời chào của chúng tôi
xong là ông lập tức đi mất hút vào đồn điền. Đến lúc chúng tôi phải về, ông sẽ
lại hiện ra với một túi đầy những quả roi, xoài hay quả thanh trà cho chúng tôi
mang về nhà. Mẹ không hoà hợp với bà lắm, vì những lý do gì tôi chưa bao giờ
được biết. Vậy nên, sau khi bố bỏ đi, mẹ chưa bao giờ đưa chúng tôi đi thăm bà
hay ông trẻ.

Tôi nghĩ đến
Eikkarong nhưng rồi nhận ra rằng nó sẽ chẳng giúp được mấy. Dù Eik là bạn thân
của tôi, nhưng xét về mặt hiểu biết cuộc sống hay kiến thức chung để cho một
cuộc nói chuyện thú vị thì nó kém Porm hay Chai nhiều. Eik chỉ rành về những
vấn đề trực tiếp liên quan đến nó, ví dụ như sách giáo khoa hay việc bán hàng ở
cửa hàng của bố nó, thay vì bất cứ thứ gì khác. Nó không quan tâm đến chính
trị, nghệ sĩ và nhà văn như Porm, nó cũng không hứng thú với Tam giác Bermuda,
với bí mật của các kim tự tháp hay với người ngoài hành tinh như Chai, với lại
nó cũng không nghe nhạc nước ngoài hay xem phim giống tôi, Eik thuộc loại mà
chúng tôi gọi là “một cộng một bằng hai”. Nó sẽ nhảy đến tận trần nhà nếu có ai
đó nói với nó điều ngược lại, có một lần nó đã đuổi theo chửi rủa Chai vì Chai
quả quyết rằng “một cộng một là một” và chứng minh bằng cách cho một nắm cát
lên một nắm cát khác, thành một nắm cát. Porm thường hay giễu Eik là “nạn nhân
của chế độ”, một người không có suy nghĩ tiến bộ, chỉ giỏi nghe theo sách giáo
khoa, học thuyết phương Tây và các thứ đẹp đẽ cùng một giuộc khác, còn Eik thì
chẳng để bụng mấy lời đó lắm, trừ phi nó đang bực mình và bị Porm dồn vào đường
cùng, nó mới lấy tay gõ vào đầu Porm.

Tôi vẩn vơ nghĩ
về Chai. Mặc dù nó trở thành một đứa bạn khác vô dụng sau sự cố bóng đá, nói
chuyện với nó vẫn đỡ hơn là tâm sự với Eik.

Tôi bắt một
chiếc xe buýt ở đầu ngõ nhà Jom rồi xuống xe ở đường Tok, rồi lại từ đây lên
chiếc xe buýt khác qua cầu Krungcheip để đến gặp Chai ở Daokhanong.

Chai có vẻ không
ngạc nhiên lắm khi thấy tôi đến. “Sao cậu không gọi điện trước?” Nó nói. “Mình
đang chuẩn bị nướng.”

“Cứ làm như nhà
cậu có điện thoại ấy!” Tôi giễu. “Mà chuyện nướng là thế nào đấy?”

“Nhóm lửa ngoài
trời,” Chai nói, đứng ra xa đề phòng. “Nhiều cỏ quá nên mình định đốt.”

“Mình trượt
rồi,” tôi nói với nó đoạn thả mình xuống cái xích đu cũ dưới chân bụi canh ki
na.

“Cũng tốt thôi.”
Chai ngồi xuống cạnh tôi. “Những người như cậu chỉ có thể với cao đến thế. Cậu
đi bán mứt Tàu còn hơn.”

“Đây không phải
là chuyện đáng cười đâu,” tôi bực mình. “Đừng đùa nữa.”

“Cậu muốn mình
khóc lóc rên rĩ hay thế nào đây?” Chai run người đẩy xích đu. “Nghe đây, Béo,
mình cho cậu hay: đừng coi chuyện này nghiêm trọng thế. Số trượt đông đảo hơn
số đỗ nhiều. Cậu nên cảm thấy tự hào vì đứng cùng hàng ngũ với những người bị
đè mới phải.”

“Để mình hỏi cậu
chuyện này: cậu đã bao giờ ngồi đây rồi ngất lăn quay khỏi cái xích đu này
chưa?”

“Lại cậy sức lấn
lướt, cậu chỉ biết thế thôi,” nó lầm bầm phàn nàn.

Chúng tôi ngồi
im lặng. Chỉ có tiếng xích đu khẽ kêu kin kít.

“Thế bây giờ cậu
định làm gì?” Chai bất chợt hỏi.

“Chưa biết…” Tôi
giơ tay lên vuốt tóc từng chập. “Không suy nghĩ cho ra hồn được. Mình bí rồi,
thật sự là thế.”

“Ý cậu là cậu
không chuẩn bị tinh thần cho thất bại.”

“Không phải
thế.” Tôi lắc đầu. “Mà sao cậu lại bảo mình thế?”

“Cậu lạ thật
đấy. Khi mình bông đùa cho cậu vui hơn thì cậu bảo mình không quan tâm, còn khi
mình nghiêm túc thì cậu lại chụp mũ mình phá thối.”

“Mình không nói
vậy,” tôi phản đối, giọng dịu lại.

“Kể cả thế thì ý
cậu là như vậy còn gì.” Chai im lặng một hồi, rồi nói: “Hay là cùng đi
Nongkhai?”

“Làm gì?”

“Chỉ để đi thôi,
cho cậu hết ủ rũ.”

“Bao giờ?”

“Tối mai,” Chai
trả lời chắc nịch.

“Thế còn mẹ cậu
thì sao?” Tôi liếc ngôi nhà hai tầng sừng sững.

“Mẹ mình không
phải lo lắng cho mình lâu rồi. Với lại biết mình đi với cậu thì mẹ sẽ yên tâm
hơn.”

“Mình phải xin
phép mẹ mình trước đã.” Tôi vẫn phân vân.

“Tuỳ thôi.” Chai
đứng lên. “Nếu quyết định đi thì gặp mình ở bến xe buýt lúc tám giờ tối mai.

Lạ lùng thay, mẹ
không hề phản đối chuyện tôi đi Nongkhai với Chai.

“Mày cần bao
nhiêu?” Bà vừa hỏi vừa mở ngăn kéo.

“Tuỳ mẹ thôi ạ,”
tôi trả lời ngắn gọn đoạn bước tới chiếc ghế cạnh cửa.

“Bây giờ cứ cầm
500 mà đi mua vài thứ đã,” mẹ đề nghị. “Mai tao sẽ đưa mày thêm một ít.”

Tôi cầm tiền mẹ
đưa và nhân cơ hội ấy lang thang trong trung tâm thương mại đến chiều tối thì
vác về nhà một chiếc xe cút kít.

Chai và tôi ngồi
tán chuyện gần như suốt chặn đường từ Bangkok tới Kho-rart, nơi xe khách dừng
lại để khách xuống ăn cháo lót dạ. Chúng tôi kể cho nhau nghe, xen giữa những
tiếng cười khùng khục, đủ loại giai thoại về bạn bè và quãng đời học sinh chúng
tôi vừa trải qua.

Thật khó tin
rằng những ngày tháng ấy đã lùi về phía sau! Vẫn có những buổi sáng tôi thức
dậy đinh ninh rằng phải nhanh nhanh thay quần áo đến trường, vẫn lưu lại những
câu chuyện để kể cho Chai và Eik, và vẫn nhớ những tiết học trong thời khoá
biểu cũ trên tường và lúc nếm mùi chiếc thước kẻ của cô giáo môn Ngữ Văn, người
cực kỳ nghiêm khắc về ngữ pháp của chúng tôi.

Sau bữa ăn nhẹ,
Chai cuộn mình trong chăn ngủ, để tôi ngồi lại một mình mở to mắt nhìn vào bóng
tối trước mặt. Cặp đèn pha to đùng ở đầu xe chiếu ra hai lường sáng dài hình
nón phơi bày con đường trước mặt khỏi màn đêm tối tăm. Bên trong xe, bầu không
khí tĩnh lặng và yên bình. Chỉ có tiếng thở và tiếng ngáy nho nhỏ từ những hành
khác say ngủ. Ánh đèn nhỏ từ bảng đồng hồ làm nổi rõ hình ảnh người tài xế giữa
bóng tối trong xe. Tôi chỉ có thể nhìn thấy lưng ông. Giữ thẳng đầu trên đôi
vai rộng, ông có vẻ tự tin với khả năng của đôi tay trên vô lăng và với phản xạ
của mình, nhưng không ai biết ông nhận thức được tới chừng nào trách nhiệm bản
thân đối với tất cả hành khách trên xe.

Chúng tôi tới
Nongkhai lúc năm giờ rưỡi sáng. Thị trấn vùng biên này vẫn chưa thức dậy đón
ngày mới. Ở bến xe đã có xích lô, chừng năm hay sáu cái xếp hàng chở khách. Tôi
nghĩ hẳn vài người đạp xích lô đang nằm ngủ trên xe của mình thì nghe thấy
tiếng xe khách đang tới bấm còi bèn vội vàng xuống đây giành khách.

“Các cậu đi xe
ạ?” Một người lái xích lô đến trước mặt chúng tôi hỏi.

“Vâng,” Chai vừa
trả lời vừa khoác chiếc túi du lịch nhỏ lên vai. “Giúp chúng tôi tìm một chiếc
nữa với.”

“Dạ.” Người lái
xích lô gọi một người bạn đoạn chạy thẳng đến xe của ông ta đang đỗ ngay cạnh
đó.

Một lúc sau, hai
chiếc xe xích lô dừng lại ngay trước chúng tôi.

“Chúng mình đi
đâu bây giờ?” Tôi bối rối hỏi Chai.

“Chẳng biết.”
Chai lắc đầu. “Đây là lần đầu tiên mình đến Nongkhai.”

“Hai cậu đi đâu
ạ?” Người đạp xích lô hỏi khi Chai để tôi lên ghế.

“Ra chợ,” Chai
lập tức trả lời.

Hai chiếc xích
lô với những ngọn đèn tù mù đua nhau dọc các con phố bàng bạc yên tĩnh trước
bình minh một ngày hè là cảnh tượng ngoạn mục còn lưu trong ký ức tôi. Thỉnh
thoảng, hai chiếc xe bắt kịp nhau và bên này thúc giục bên kia bằng những hồi
chuông dài lanh lảnh, trong khi hai đứa chúng tôi cổ vũ ầm ĩ cả phố. Mỗi khi
hai chiếc xích lô chạy song song, chúng tôi lại nhoài người ra cố tóm lấy túi
của nhau và cười nắc nẻ như trẻ con. Gió lạnh từ ngoài sông thổi tới làm rối
tung tóc hai đứa. Ngay cái khoảnh khắc bất chợt cảm thấy tê cóng lạ lùng vì gió
lạnh, tôi quay lại nhìn con đường hun hút trải vào bóng tối và bất chợt thấy cô
đơn, trơ trọi.

Chương 30

Chợ Nongkhai
trước bình minh trông như một bức tranh thuộc trường phái Ấn tượng. Bầu không
khí u ám bao trùm tất cả, loang lỗ ánh đèn hắt ra từ các quầy bán thịt. Chúng
tôi ngồi xuống cái ghế đẩu gỗ trước một xe hàng đầy bán cà phê. Người bán hàng
đang lấy những chiếc bánh ránh giòn bóng mỡ ra khỏi một túi giấy lớn màu nâu
đặt lên đĩa thiếc ngẩng đầu nhìn chúng tôi với ánh mắt xa lạ. “Hai cậu dùng
gì?” Ông ta cộc cằn hỏi, gương mặt tái xám không chút cảm xúc.

“Làm ít cà phê
nhỉ?” Chai nhìn tôi hỏi. Tôi gật đầu hướng mắt sang khu chợ.

Người đi chợ bắt
đầu kéo đến. Những tiểu thương, cả nam lẫn nữ, đầu đội nón lá Việt Nam, mình
bận áo ngủ thùng thình và quần đen, trên vai gánh những món hàng nặng trĩu, vừa
đi vừa rao to bằng thứ tiếng Việt du dương trong khi các bà nội trợ hờ hững
xách những chiếc giỏ to tướng lượn mua thực phẩm tươi. Khung cảnh nơi đây như
tiết tấu của một ca khúc kết hợp cái đều đều và nét duyên dáng của cuộc sống
vào một giai điệu chung duy nhất, và tôi luôn yêu bất cứ những gì đối lập mà
lại hoà hợp như vậy.

Chúng tôi ngồi
đó đến khi ánh bình minh dịu dàng rải trên phiên chợ và người tới đông hơn.

“Đi đâu tiếp
đây?” Tôi khẽ hỏi Chai.

“Chả biết nữa…”
Chai di ngón tay biến chỗ nước đây ra bàn thành bức tranh. “Trước tiên cứ đi
tìm khách sạn nghỉ ngơi đã. Nếu không có gì đáng xem quanh đây, bọn mình sẽ lên
xe buýt đến thị trấn tiếp theo.”

“Cậu nói cứ như
một tay ngẫu hứng không biết đến kế hoạch ấy.” Tôi đẩy cốc nước không sang một
bên.

“Mình từ bỏ
những thứ đó từ rất lâu rồi.” Chai cười nhưng ánh mắt nó ánh lên nỗi chua xót.
“Có những lúc ta tự đặt ra một mục tiêu, rồi chỉ nhận được thất vọng và đau đớn
mà thôi.”

“Mình hiểu.” Tôi
vươn tay vỗ nhẹ vai nó. “Đi thôi.”

Từ chợ, chúng
tôi thuê xích lô đi lòng vòng quanh thị trấn, dọc theo những con phố hẹp hai
bên là các ngôi nhà kiêm cửa hàng nhỏ, qua vài ba ngôi chùa, và rồi men theo bờ
sông cho đến khi chúng tôi dừng lại ở một khu liên hiệp hải quan và nhập cảnh.
Chúng tôi xuống xe đi bộ ra bến sông, ngắm nhìn con sông Mekong lững lờ chảy
ngăn cách hai đất nước.

“Cậu qua đó bao
giờ chưa?” Chai chỉ sang bờ bên kia.

“Chưa.” Tôi lắc
đầu. “Cậu thì sao?”

“Mình cũng thế…
Mình tự hỏi không biết con sông có khiến hai bên bờ khác biệt, hay đúng hơn là
nó tạo ra loại khác biệt nào.”

“Mình không nghĩ
dòng sông liên quan gì ở đây,” tôi phản đối. “Sự khác biệt chỉ nằm trong đầu
chúng ta thôi.”

Mặt trời rải bụi
kim cương lấp lánh lên mặt nước.

“Mình thích
sông,” tôi lẩm bẩm. “Chúng gợi mình nhớ đến hồi bé… đến ngôi nhà ngày xưa của
mình.”

“Cậu giống như
một thằng bé không chịu lớn vậy.” Chai nói nửa đùa nửa thật.

“Biết làm sao
được!” Tôi quay lại dựa lưng vào hàng rào. “Nhiều khi mình có cảm giác cuộc
sống của mình như một tấm xếp hình bị vỡ, và vài miếng ghép đã lạc mất từ hồi
mình mới là một đứa trẻ.”

“Mình không nghĩ
có ai trên đời này lại có cuộc sống hoàn hảo. Tất cả chúng ta đều lạc mất thứ
gì đó, tất cả chúng ta.”

“Nhiều khi mình
không khỏi nghĩ rằng giá bố đừng bỏ mình và Ning…”

“Cậu biết là với
chúng ta, nếu không phải chuyện này cũng sẽ là chuyện khác tồi tệ không kém
thôi.” Chai nói như thể nó đã trải đủ đắng cay. “Cứ lấy mình làm ví dụ: mình
vẫn nghĩ rằng nếu mẹ mình không quá mong mỏi mình trở thành một người lính như
bố mình, thì mình đâu có ra nông nổi này. Mình vẫn nhớ mẹ dạy mình nhắc đi nhắc
lại mấy từ Tổ quốc, Tự trọng, Kỷ luật, Can đảm, cho đến khi chúng nhấn vào
huyết quản mình từ lúc bập bẹ tập nói. Mình đứng nghiêm chào ảnh bố chứ không
quỳ lạy. Mẹ cho mình vuốt ve quân hàm của bố thay vì đồ chơi. Bà suốt ngày kể
về sự oai nghiêm và ý chí thép của bố, về cuộc sống của học viên trường sĩ quan
ngày trước, thế rồi dần dần, chúng trở thành một phần tiềm thức của mình. Từ
hồi bé mình đã luôn mơ lớn lên được khoác bộ quân phục như bố mình, nhưng kể từ
lúc đời mình rẽ ngoặt thình lình như vậy, mình không biết phải làm gì với bản
thân nữa.”

“Sức hấp dẫn của
cuộc sống có lẽ nằm ở chỗ ta chả thể đoán trước được điều gì.” Tôi thì thầm.

“Sức hấp dẫn với
người ngoài thôi.” Chai rời ánh mắt khỏi con sông. “Nhưng khi cậu tình cờ lại
là người hứng chịu, mình không thể tả cho cậu nó kinh khủng đến mức nào đâu.”

Chúng tôi tìm
thấy một căn phòng hợp túi tiền ở một khách sạn nhỏ, cũ kỹ, xập xệ.

Mặc dù cả hai
đứa đều phấn khích vì đã đi thật xa và lập kế hoạch đến thăm khá nhiều nơi,
trên thực tế, sau khi tắm táp, bọn tôi nằm kềnh trên giường tán chuyện cho đến
khi ngủ thiếp đi. Khi bọn tôi tỉnh dậy, đã là ba giờ chiều và bụng hai đứa bắt
đầu cồn cào.

Suốt ba ngày ở
Nongkhai, chúng tôi ăn, ngủ và tán chuyện thay vì đi thăm thú. Khối lượng
chuyện hai đứa kể cho nhau nghe quả là kỳ tích. Như thể mỗi đứa mang theo một
quyển nhật ký ghi lại tất cả những sự kiện xảy ra từ ngày đầu tiên đi học.
Chúng tôi không quên cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất – như lúc bác sĩ đến tiêm
phòng ta, khoảnh khắc đáng sợ nhất thời thơ ấu của bọn tôi, và cả lũ xếp hàng
mặt mũi tái mét, rướn người nhìn qua vai đứa phía trước cho đến khi hàng ngũ
lộn xộn hết cả, và một lần Eik bỏ chạy rồi trốn trong toa lét và cả lũ đuổi
theo nó, tóm cổ nó lôi về như anh hùng bắt được trộm. Hay khi Chai ị đùn, phải
cởi quần ra giặt và nó vào lớp với một mảnh vải sọc quấn quanh mượn của bác lao
công. Những kỷ niệm ấy ẩn núp trong biết bao góc nhỏ của quá khứ và sẽ không
bao giờ biến mất khỏi ký ức, dù bao nhiêu tháng năm trôi qua.

Tôi gặp thầy
Wa-thin ở Nongkhai vào chính cái ngày cả hai quyết định đi du hí ở các tỉnh
khác. Thầy còn gầy hơn trước và rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi. “Sao hai đứa
lại ở đây thế này?” Thầy Wa-thin vỗ vai Chai và tôi, có vẻ hơi lúng túng.

“Con đang đưa
Béo đi chơi để nó hết thất vọng vì trượt đại học ạ.”

“Cái gì!” Thầy
Wa-thin quay sang tôi. “Sao lại thế! Con siêng năng vậy mà.”

“Thế còn con thì
sao, Chai?” Thầy giáo quay sang hỏi kẻ bép xép.

“Con sẽ vào
Rarm.”

“Tốt.” Thầy
Wa-thin gật gù rồi lặng đi một lúc như thể đang suy nghĩ gì đó. “Các con có
muốn xem nhà thầy không?”

“Có chứ ạ. Chúng
con không biết quê thầy ở đây.”

“Ồ không.” Thầy
Wa-thin quay đi chỗ khác. “Thầy mới chỉ dọn về đây một hai tháng thôi.”

“Tức là thầy không
còn dạy ở trường nữa ạ?” Tôi ngạc nhiên hỏi.

“Thầy xin thôi
rồi…” Thầy cúi mặt xuống hít một hơi dài, khoác lên vai chúng tôi dẫn hai đứa
đi dưới ánh ngày mai không nói thêm lời nào.

Thầy Wa-thin
sống trong một khu nhà dãy ven sông, ngay cạnh một kho hàng lớn sực mùi nước
mắm và bụi bột sắn.

“Ngồi đi, ngồi
đi.” Thầy chỉ mấy cái ghế cũ dựa vào tường.

Chúng tôi ngoan
ngoãn ngồi xuống trong lúc thấy mất hút vào một căn phòng khá tối rồi quay trở
lại với chai nước và ba cái cốc.

“ Thầy ở đây một
mình ạ?” Tôi vừa hỏi vừa đảo mắt quanh phòng, để Chai đón lấy chai nước và mấy
cái cốc từ tay thầy.

“Ừm…” Thầy hắng
giọng, ngại ngùng. “Thầy ở với vợ. Cô ấy đang đi chợ, chắc sắp về rồi.”

“Vậy là thầy
cưới vợ rồi ạ!” Chai kêu lên như không tin nổi vào tai mình.

Thầy Wa-thin gật
đầu thay vì câu trả lời và ngồi đó im lặng, ra hiệu câu chuyện đã kết thúc.

Lát sau, vợ thầy
đi chợ về. Cô gầy và mảnh dẻ, khuôn mặt đẹp nhưng buồn gợi tôi nhớ đến một bức
tranh của Picasso.

“Wi à, đây là
Nat và Chai – hai học trò cũ của anh.” Thầy Wa-thin đứng dậy nắm tay vợ.

Chúng tôi cúi
đầu chào và tôi để ý thấy một thoáng e dè trong ánh mắt cô khi biết chúng tôi
là ai.

“Các con ở lại
đây ăn trưa chứ?” Thầy Wa-thin mời đoạn quay sang phía vợ.

“Đúng đó, ở lại
dùng bữa với thầy cô đi.” Cô ủng hộ.

“Chúng ta ăn gì
đây ạ? Để con giúp một tay.” Chai đưa mắt nhìn tôi trước khi theo Wi vào bếp,
để tôi lại một mình với thầy giáo.

“Thưa thầy…” Tôi
ngập ngừng khi thấy thầy thoải mái hơn. “Có phải thầy thôi việc chuyển về đây
vì vợ thầy không ạ?”

Thầy Wa-thin
nhìn tôi với ánh mắt rạng ngời tình yêu và sự tự tin. “Con nhớ nhà thầy ở
Bangkok, đúng không Nat?”

“Dĩ nhiên rồi
ạ,” tôi đáp. “Ngôi nhà trong vườn chuối.”

Tôi nghĩ về dạo
còn ở với bố và thường đến thăm thầy Wa-thin. Tôi vẫn nhớ ngôi nhà một tầng
giữa những bụi chuối và cái hàng rào sắt gỉ cùng bài “Cây bồ đề buông mành” mà
thầy giáo của tôi hay đàn khi thầy đứng bên cửa sổ nhìn sang căn nhà lớn đối
diện. Đôi lúc thầy dừng nửa chừng, như thể đã mất hết tất cả hy vọng hay nhuệ
khí, nhưng mỗi khi có một bóng người lấp ló đằng sau rèm cửa sổ trắng với một
niềm say mê lạ thường như thể muốn giải bày cả trái tim mình qua giai điệu.

“Ý thầy là vợ
thầy…” Đến lúc này tôi mới nhận ra rằng đằng sau tấm rèm ấy là một người phụ
nữ.

“Ừ.” Thầy
Wa-thin nhìn thẳng vào mắt tôi với ánh mắt giải đáp cho mọi việc trong tim thầy
cũng như trong tim tôi.

Báo cáo nội dung xấu