Chai thời gian - Chương 01 - 02
Chương 1
Nếu cất được thời gian trong chai
Điều đầu tiên tôi mong được làm
Là chắt chiu giành dụm từng ngày
Cho tới khi vĩnh hằng trôi qua
Chỉ để giành trọn chúng bên em
Nếu có thể khiến tháng ngày kéo dài bất tận
Nếu lời nói có thể biến ước ao thành hiện
thực
Tôi sẽ lưu giữ mỗi ngày như báu vật
Và vẫn mãi như vậy
Tôi sẽ giành trọn chúng bên em
Nhưng dường như chẳng bao giờ đủ thời gian
Để làm hết những điều mình muốn
Một khi ta nhận ra mình khao khát điều chi
Tôi đã tìm kiếm đủ lâu để hiểu rằng
Em chính là người
Mà tôi muốn đồng hành qua thời gian
Nếu tôi có một chiếc hộp chỉ giành cho ước
nguyện
Và những giấc mơ không bao giờ thành hiện
thực
Chiếc hộp đó sẽ chẳng có gì đâu
Ngoài kí ức
Về cách em đáp lại những ước nguyện kia.
“Chai thời gian”, Jim Croce
Ca khúc “Chai
thời gian” của Jim Croce phát ra từ chiếc máy hát tự động của một quán cà phê
nhỏ ven đường khiến tôi dừng bước. Từ lâu, rất lâu rồi, tôi đã không nghe lại
bài hát này, như thể nó đã biến mất khỏi kí ức của mọi người và bị ém nhẹm vào
một xó xỉnh tối tăm nào đó.
“Này Béo, đừng
về vội.” Một giọng nói trong trẻo vang lên từ góc phòng. Tôi ngẩng đầu khỏi hộp
đàn vĩ cầm, ngạc nhiên quay về phía người nói.
“Chị chưa muốn
về nhà.” Chủ nhân của giọng nói xách hộp đàn vĩ cầm đi về phía tôi. “Muốn đi
loanh quanh một chút.”
“Vậy đi cà phê
đâu đó nhé?” Tôi gợi ý, đoạn đưa tay gạt một lọn tóc dính trên trán. Chị gật
đầu thay câu trả lời.
“Tóc cậu lại dài
ra rồi đấy.” Chị nhìn tôi. “Tốt nhất là đi tỉa đi.”
“Vội gì,” tôi
vừa đáp vừa chìa tay đỡ lấy hộp đàn của chị. “Để em cầm.”
“Cảm ơn,” chị
lầm bầm gỡ cặp khỏi vai tôi. “Bọn mình bỏ đám này vào ô tô đi, đỡ phải vác
theo.”
“Chị nói cứ như
mấy thứ này nặng bằng cả trái đất ấy.” Tôi bật cười bước đi, hai tay duỗi
thẳng, mỗi tay xách một hộp đàn vĩ cầm, chị đi đằng sau ôm cặp sách của tôi.
“Chú Maen!” Chị
gọi người lái xe đang ngồi đợi trên ghế băng trước cửa phòng nhạc. “Chú cho cặp
sách và hai cái đàn này vào xe đi.”
“Vậy còn cô thì
sao ạ, thưa cô?” Chú Maen đỡ lấy đàn và cặp, nhìn chị dò hỏi.
“Tôi đi dạo cùng
Béo một lát. Chú có thể lái xe theo,” chị nói và nắm lấy tay tôi, nhảy chân sáo
xuống cầu thang, để lại người lái xe bối rối đứng đó nhìn theo.
Chúng tôi đi qua
cổng trường vào một con đường nhỏ. Hàng cây kèn hồng dọc hai bên đường thả rơi
những cánh hoa hồng rực như chào đón. Những bụi cỏ và lau sậy đung đưa trong
gió nhẹ. Xa xa, chúng tôi có thể thấy sen trắng nở rộ trong một đầm nước rộng.
“Chị mà có mấy
vại tiền, chị sẽ mua một mảnh đất ngay đây và xây một ngôi nhà nhỏ nổi giữa
đầm,” chị vừa nói vừa đưa tay ghì cổ tôi.
“Ý hay đó, Jom,”
tôi cười. “Như thế chị có thể tập đàn mà không sợ bị ném gạch.”
“Ôi quỷ tha ma
bắt cậu đi, Béo!” Chị ôm đầu tôi lắc. “Cậu không bao giờ khuyến khích chị được
một câu.”
“Em thuộc loại
trâu buộc ghét trâu ăn mà. Em sẽ ghen tức chết mất.”
Jom cười khe
khẽ.
“Cậu định đưa
chị đi đâu?” chị hỏi khi chúng tôi đến ngã tư, đoạn quay lại nhìn chiếc xe
Mercedes-Benz bóng lộn đang rì rì theo chúng tôi cách đó một quãng.
“Đừng lo, em
không bán chị đâu mà sợ,” tôi chọc.
“Chị chả lo
chuyện đó. Ai mà thèm mua một con vịt xấu xí như chị chứ, gầy nhom, lẻo khoẻo,
lóng ngóng, kén ăn lại còn bướng nữa?”
“Ra quán cóc
đi,” tôi quyết định rồi đưa chị đi dọc con đường lát đá ong dẫn tới quán cóc –
vài tấm tôn múi gác lên mấy chiếc cọc và bên dưới là chao ôi các loại nước ngọt
cùng đủ thứ linh tinh.
“Dễ thương quá!”
Jom ngồi xuống một chiếc ghế đẩu gỗ ba chân, hài lòng nhìn ngó xung quanh. “Chị
thích chỗ này, rất có phong vị quê hương.”
“Cà phê đá chứ?”
tôi hỏi chị rồi quay về phía người phụ nữ trung niên đang đứng sau một nồi nước
bốc hơi nghi ngút “Cô ơi, hai cà phê đá ạ.”
“Cậu ăn kẹo
không?” Jom vừa hỏi vừa nhấc nắp bình thủy tinh đầy ắp kẹo, lấy một thanh kẹo
lạc đưa cho tôi.
“Thế còn chú
Maen?” Tôi nhìn ra chiếc xe đang đậu kín đáo bên lề đường. Nắng chiều phản
chiếu trên kính cửa và chắn bùn mạ crôm, một hình ảnh tương phản hoàn toàn với
dãy lều tạm bợ xám xịt kéo dài mãi phía sau.
“Đừng để ý đến
chú ấy.” Jom cắn thanh kẹo lạc trong tay. “Chú ấy quen rồi. Có khi chú ấy phải
đợi cha chị cả nửa ngày.”
“Mình nghe nhạc
đi?” Tôi đưa mắt nhìn về chiếc máy hát cũ mèn ở góc quán.
“Này, cầm lấy.”
Chị thọc tay vào túi đồng phục, rút ví ra đưa tôi. Tôi đón chiếc ví, mở ra lấy
vài đồng một bạt.
“Chị thích nghe
bài nào?” tôi vừa hỏi vừa đứng dậy.
“Gì cũng được,”
chị đáp. “Nhưng đừng nặng quá.”
Tôi tới bên máy
hát chọn bài “Chai thời gian”. Giai điệu bài hát phá tan không khí uể oải của
buổi chiều ảm đạm. Món cà phê đá đã tan chảy thành nước trong khi chúng tôi cứ
đút tiền vào để nghe lại bài hát ấy, nghe mãi.
“Về thôi.” Jom
dịu dàng nói. Máy hát đã ngừng từ lâu. Đám ruồi nhặng bắt đầu bâu lấy hai cốc
cà phê và làm phiền chúng tôi. Mùi thịt ôi phảng phất đâu đó.
“Chị sẽ cho cậu
quá giang về nhà.” Chị đặt tiền cà phê xuống bàn rồi đi trước tôi ra xe. Chú
Maen vội vã ra khỏi xe kính cẩn mở cửa sau.
Chiếc xe lăn bán
ngược lại hành trình nó vừa đi, qua con đường nhỏ, đầm nước rộng và hàng cây
kèn hồng, hướng ra con đường lớn. Mặt trời hầu như đã lặn hẳn. Bóng tối đang
tỏa ra ngay sau lưng chúng tôi, như tấm màn dày chuẩn bị buông xuống cuối vở
diễn.
“Này Béo.” Jom
nhìn tôi khi xe dừng lại đầu phố nơi tôi sống. “Mai cậu lại đưa chị tới quán
cóc đó, nhé?”
“Tất nhiên là
được,” tôi đồng ý, đoạn túm lấy cặp sách cùng hộp đàn vĩ cầm rồi rời khỏi xe.
Jom vẫn ngoái
lại nhìn tôi quan tâm cho tới khi chiếc xe Mercedes khuất dạng trong bóng tối
giăng trước mặt.
Mẹ tôi ngẩng đầu
khỏi chiếc bình đang vẽ dở khi tôi bước vào nhà.
“Làm sao mà mày
về muộn thế hả?” bà vừa hỏi vừa bỏ cặp kính ra đặt lên bàn.
“Hôm nay con có
tiết nhạc, sau đó con đi dạo với Jom.”
“Ngoan chưa!” Mẹ
nhìn tôi khinh bỉ khi tôi ngồi xuống chiếc ghế mây. “Thay vì mau chóng về nhà,
mày lại tùy ý lông bông ngoài đường.”
“Ôi thôi nào
mẹ.” Tôi cởi tất ra ném đi.
“Giờ tao chẳng
còn có thể nói gì mày nữa phỏng?” Mẹ cao giọng. “Mày giờ cũng thánh tướng như
bố mày đấy nhỉ?”
Tôi khó chịu
nhìn mẹ. Gần đây, bà thay đổi quá nhiều. Từ một phụ nữ hiền dịu thong dong, bà
đã trở nên nóng nảy và có thể vô cớ mà ỏm tỏi lên.
Tôi thường hồi
tưởng lại nhưng ngày đã qua khi mình và em gái còn nhỏ. Thời ấy, chúng tôi còn
sống trong ngôi nhà cũ bên sông. Thậm chí ngay cả bây giờ tôi vẫn còn nghe thấy
tiếng xuồng máy rè rè và tiếng nước rẽ ra thành những gợn sóng dọc bờ sông. Đôi
lúc, xuồng cà phê đi men bờ, kéo những hồi còi hối hả để thu hút khách.
Buổi tối, mẹ đưa
hai chúng tôi ra ngồi trên hiên nhà. Bà chậm rãi chải tóc cho em gái tôi như
thể đó là một công việc trang trọng, ấy vậy mà ánh mắt bà không rời bến tàu lấy
một giây. Có những ngày chúng tôi ngồi như thế cho tới tận khi lũ đom đóm quanh
những cây lamphu bên rìa nước bắt đầu lập lòe và hàng đàn muỗi vo ve bên tai
chúng tôi.
Tôi không biết
chắc lúc đó chúng tôi đang đợi điều gì, có thể là người cha luôn về nhà rất
muộn, hay thứ gì đó khác, hoặc thậm chí một điều mà chúng tôi không biết.
“Ning về chưa
ạ?” Tôi hỏi sang chuyện khác.
“Chưa,” mẹ xẵng
giọng, nom chực nói thêm điều gì, nhưng rồi bà im lặng.
Tôi nhìn bà lần
nữa rồi đứng dậy, nhặt tất lên gác.
Tôi đóng cửa
phòng ngủ và cảm thấy tự do khi rốt cuộc cũng được ở một mình. Ngoài trời, gió
đang rít. Cây xoài bên cửa sổ oằn oại, cành lá cà vào kính cửa. Trời bắt đầu
mưa lâm thâm, những hạt mưa phủ mờ cửa sổ. Tôi nhìn bóng mình trên kính, một
cậu trai thể xác đã lớn nhưng thiếu cái nhiệt huyết của tuổi mình. Người ngợm
không đến nỗi nào, chắc vậy, nhưng đôi vai còng phản thùng tiết lộ cái bạc
nhược bên trong. Tôi không biết từ lúc nào đã thành ra thế này. Nom như thời
gian đã dần dần gắn chặt gánh nặng khổ đau, rối loạn và áp lực gia đình lên đôi
vai tôi, và giờ đây, khi đã nhận thức rõ về chúng, tôi khó mà chịu đựng lâu
hơn.
Tôi tới bên cửa
sổ, nhìn vào hình phản chiếu lòe nhòe thấy một người lạ, như trước đây vẫn thế.
Trên tấm kính, nhè nhẹ, bằng đầu ngón tay, tôi vẽ một con thuyền mành nhỏ, một
ngọn núi, mặt trời, những cây dừa đung đưa. Tôi mơ về biển cả và những ngày đã
qua từ lâu khi cha có lần dẫn cả nhà ra biển. Lúc đó tôi mới cao có từng này.
Cha để tôi ngồi trên vai ông còn tay dắt Ning và ba chúng tôi thong thả đi dọc
bờ biển trong khi mẹ nằm trên ghế dài quan sát mấy bố con. Chúng tôi đi xa tới
mức mẹ chỉ còn là một chấm nhỏ trên cát. Thật kì lạ, tuy tôi và Ning luôn gần
mẹ hơn cha, song chính mẹ là người trở nên xa cách với chúng tôi.
Trong tâm trạng
u ám ấy, tôi nghĩ về Jom. Chị như bờ bến của cuộc sống của tôi - bờ có tình
yêu, ấm áp và đủ đầy. Chị và tôi chỉ có một điểm chung, đó là không ai trong
chúng tôi thực sự có bạn thân. Trong khi những vấn đề gia đình đè nặng lên vai
tôi, khiến tôi thu mình lại và tự ép mình phải trưởng thành thật nhanh, thì của
cải lại tách Jom khỏi bạn bè, giam chị vào nỗi cô độc. Cha chị càng rót nhiều
tiền cho chị vào trường học, chị càng bị cô lập khỏi bạn học. Chị như một nàng
công chúa bé nhỏ quý giá trong mắt thầy cô – một cô công chúa tuyệt vời, mỏng
manh, giàu có, không tì vết, nhưng than ôi, chính điều ấy lại biến chị thành
nàng công chúa cô độc nhất thế gian. Tiền không thể mua cho chị dù chỉ một
người bạn.
Tôi nhớ như in
một trong những ngày đầu chúng tôi biết nhau. Chị hỏi tôi sau này muốn học tiếp
ở đâu.
“Sinlaparkorn,”
tôi bảo chị. “Em muốn thành họa sĩ.”
“Tốt cho cậu.”
Chị mỉm cười. “Nhưng còn mấy năm nữa. Biết đâu cậu sẽ đổi ý...”
“Thế còn chị thì
sao, Jom? Đây là năm cuối cấp của chị rồi. Có ý định gì chưa?”
“Chưa,” chị đáp
rồi nhìn ra ngoài bãi cỏ nơi bọn trẻ đang chơi rất hào hứng. “Chị chỉ muốn ra
khỏi nơi này. Chị chán ngấy nó rồi.”
Tôi lặng lẽ nhìn
chị và nghĩ rằng mình hiểu chị - hiểu nhau như một người bạn đồng lứa, không
phải là một cậu trai mười bốn và một thiếu nữ mười bảy tuổi.
Chương 1
Nếu cất được thời gian trong chai
Điều đầu tiên tôi mong được làm
Là chắt chiu giành dụm từng ngày
Cho tới khi vĩnh hằng trôi qua
Chỉ để giành trọn chúng bên em
Nếu có thể khiến tháng ngày kéo dài bất tận
Nếu lời nói có thể biến ước ao thành hiện
thực
Tôi sẽ lưu giữ mỗi ngày như báu vật
Và vẫn mãi như vậy
Tôi sẽ giành trọn chúng bên em
Nhưng dường như chẳng bao giờ đủ thời gian
Để làm hết những điều mình muốn
Một khi ta nhận ra mình khao khát điều chi
Tôi đã tìm kiếm đủ lâu để hiểu rằng
Em chính là người
Mà tôi muốn đồng hành qua thời gian
Nếu tôi có một chiếc hộp chỉ giành cho ước
nguyện
Và những giấc mơ không bao giờ thành hiện
thực
Chiếc hộp đó sẽ chẳng có gì đâu
Ngoài kí ức
Về cách em đáp lại những ước nguyện kia.
“Chai thời gian”, Jim Croce
Ca khúc “Chai
thời gian” của Jim Croce phát ra từ chiếc máy hát tự động của một quán cà phê
nhỏ ven đường khiến tôi dừng bước. Từ lâu, rất lâu rồi, tôi đã không nghe lại
bài hát này, như thể nó đã biến mất khỏi kí ức của mọi người và bị ém nhẹm vào
một xó xỉnh tối tăm nào đó.
“Này Béo, đừng
về vội.” Một giọng nói trong trẻo vang lên từ góc phòng. Tôi ngẩng đầu khỏi hộp
đàn vĩ cầm, ngạc nhiên quay về phía người nói.
“Chị chưa muốn
về nhà.” Chủ nhân của giọng nói xách hộp đàn vĩ cầm đi về phía tôi. “Muốn đi
loanh quanh một chút.”
“Vậy đi cà phê
đâu đó nhé?” Tôi gợi ý, đoạn đưa tay gạt một lọn tóc dính trên trán. Chị gật
đầu thay câu trả lời.
“Tóc cậu lại dài
ra rồi đấy.” Chị nhìn tôi. “Tốt nhất là đi tỉa đi.”
“Vội gì,” tôi
vừa đáp vừa chìa tay đỡ lấy hộp đàn của chị. “Để em cầm.”
“Cảm ơn,” chị
lầm bầm gỡ cặp khỏi vai tôi. “Bọn mình bỏ đám này vào ô tô đi, đỡ phải vác
theo.”
“Chị nói cứ như
mấy thứ này nặng bằng cả trái đất ấy.” Tôi bật cười bước đi, hai tay duỗi
thẳng, mỗi tay xách một hộp đàn vĩ cầm, chị đi đằng sau ôm cặp sách của tôi.
“Chú Maen!” Chị
gọi người lái xe đang ngồi đợi trên ghế băng trước cửa phòng nhạc. “Chú cho cặp
sách và hai cái đàn này vào xe đi.”
“Vậy còn cô thì
sao ạ, thưa cô?” Chú Maen đỡ lấy đàn và cặp, nhìn chị dò hỏi.
“Tôi đi dạo cùng
Béo một lát. Chú có thể lái xe theo,” chị nói và nắm lấy tay tôi, nhảy chân sáo
xuống cầu thang, để lại người lái xe bối rối đứng đó nhìn theo.
Chúng tôi đi qua
cổng trường vào một con đường nhỏ. Hàng cây kèn hồng dọc hai bên đường thả rơi
những cánh hoa hồng rực như chào đón. Những bụi cỏ và lau sậy đung đưa trong
gió nhẹ. Xa xa, chúng tôi có thể thấy sen trắng nở rộ trong một đầm nước rộng.
“Chị mà có mấy
vại tiền, chị sẽ mua một mảnh đất ngay đây và xây một ngôi nhà nhỏ nổi giữa
đầm,” chị vừa nói vừa đưa tay ghì cổ tôi.
“Ý hay đó, Jom,”
tôi cười. “Như thế chị có thể tập đàn mà không sợ bị ném gạch.”
“Ôi quỷ tha ma
bắt cậu đi, Béo!” Chị ôm đầu tôi lắc. “Cậu không bao giờ khuyến khích chị được
một câu.”
“Em thuộc loại
trâu buộc ghét trâu ăn mà. Em sẽ ghen tức chết mất.”
Jom cười khe
khẽ.
“Cậu định đưa
chị đi đâu?” chị hỏi khi chúng tôi đến ngã tư, đoạn quay lại nhìn chiếc xe
Mercedes-Benz bóng lộn đang rì rì theo chúng tôi cách đó một quãng.
“Đừng lo, em
không bán chị đâu mà sợ,” tôi chọc.
“Chị chả lo
chuyện đó. Ai mà thèm mua một con vịt xấu xí như chị chứ, gầy nhom, lẻo khoẻo,
lóng ngóng, kén ăn lại còn bướng nữa?”
“Ra quán cóc
đi,” tôi quyết định rồi đưa chị đi dọc con đường lát đá ong dẫn tới quán cóc –
vài tấm tôn múi gác lên mấy chiếc cọc và bên dưới là chao ôi các loại nước ngọt
cùng đủ thứ linh tinh.
“Dễ thương quá!”
Jom ngồi xuống một chiếc ghế đẩu gỗ ba chân, hài lòng nhìn ngó xung quanh. “Chị
thích chỗ này, rất có phong vị quê hương.”
“Cà phê đá chứ?”
tôi hỏi chị rồi quay về phía người phụ nữ trung niên đang đứng sau một nồi nước
bốc hơi nghi ngút “Cô ơi, hai cà phê đá ạ.”
“Cậu ăn kẹo
không?” Jom vừa hỏi vừa nhấc nắp bình thủy tinh đầy ắp kẹo, lấy một thanh kẹo
lạc đưa cho tôi.
“Thế còn chú
Maen?” Tôi nhìn ra chiếc xe đang đậu kín đáo bên lề đường. Nắng chiều phản
chiếu trên kính cửa và chắn bùn mạ crôm, một hình ảnh tương phản hoàn toàn với
dãy lều tạm bợ xám xịt kéo dài mãi phía sau.
“Đừng để ý đến
chú ấy.” Jom cắn thanh kẹo lạc trong tay. “Chú ấy quen rồi. Có khi chú ấy phải
đợi cha chị cả nửa ngày.”
“Mình nghe nhạc
đi?” Tôi đưa mắt nhìn về chiếc máy hát cũ mèn ở góc quán.
“Này, cầm lấy.”
Chị thọc tay vào túi đồng phục, rút ví ra đưa tôi. Tôi đón chiếc ví, mở ra lấy
vài đồng một bạt.
“Chị thích nghe
bài nào?” tôi vừa hỏi vừa đứng dậy.
“Gì cũng được,”
chị đáp. “Nhưng đừng nặng quá.”
Tôi tới bên máy
hát chọn bài “Chai thời gian”. Giai điệu bài hát phá tan không khí uể oải của
buổi chiều ảm đạm. Món cà phê đá đã tan chảy thành nước trong khi chúng tôi cứ
đút tiền vào để nghe lại bài hát ấy, nghe mãi.
“Về thôi.” Jom
dịu dàng nói. Máy hát đã ngừng từ lâu. Đám ruồi nhặng bắt đầu bâu lấy hai cốc
cà phê và làm phiền chúng tôi. Mùi thịt ôi phảng phất đâu đó.
“Chị sẽ cho cậu
quá giang về nhà.” Chị đặt tiền cà phê xuống bàn rồi đi trước tôi ra xe. Chú
Maen vội vã ra khỏi xe kính cẩn mở cửa sau.
Chiếc xe lăn bán
ngược lại hành trình nó vừa đi, qua con đường nhỏ, đầm nước rộng và hàng cây
kèn hồng, hướng ra con đường lớn. Mặt trời hầu như đã lặn hẳn. Bóng tối đang
tỏa ra ngay sau lưng chúng tôi, như tấm màn dày chuẩn bị buông xuống cuối vở
diễn.
“Này Béo.” Jom
nhìn tôi khi xe dừng lại đầu phố nơi tôi sống. “Mai cậu lại đưa chị tới quán
cóc đó, nhé?”
“Tất nhiên là
được,” tôi đồng ý, đoạn túm lấy cặp sách cùng hộp đàn vĩ cầm rồi rời khỏi xe.
Jom vẫn ngoái
lại nhìn tôi quan tâm cho tới khi chiếc xe Mercedes khuất dạng trong bóng tối
giăng trước mặt.
Mẹ tôi ngẩng đầu
khỏi chiếc bình đang vẽ dở khi tôi bước vào nhà.
“Làm sao mà mày
về muộn thế hả?” bà vừa hỏi vừa bỏ cặp kính ra đặt lên bàn.
“Hôm nay con có
tiết nhạc, sau đó con đi dạo với Jom.”
“Ngoan chưa!” Mẹ
nhìn tôi khinh bỉ khi tôi ngồi xuống chiếc ghế mây. “Thay vì mau chóng về nhà,
mày lại tùy ý lông bông ngoài đường.”
“Ôi thôi nào
mẹ.” Tôi cởi tất ra ném đi.
“Giờ tao chẳng
còn có thể nói gì mày nữa phỏng?” Mẹ cao giọng. “Mày giờ cũng thánh tướng như
bố mày đấy nhỉ?”
Tôi khó chịu
nhìn mẹ. Gần đây, bà thay đổi quá nhiều. Từ một phụ nữ hiền dịu thong dong, bà
đã trở nên nóng nảy và có thể vô cớ mà ỏm tỏi lên.
Tôi thường hồi
tưởng lại nhưng ngày đã qua khi mình và em gái còn nhỏ. Thời ấy, chúng tôi còn
sống trong ngôi nhà cũ bên sông. Thậm chí ngay cả bây giờ tôi vẫn còn nghe thấy
tiếng xuồng máy rè rè và tiếng nước rẽ ra thành những gợn sóng dọc bờ sông. Đôi
lúc, xuồng cà phê đi men bờ, kéo những hồi còi hối hả để thu hút khách.
Buổi tối, mẹ đưa
hai chúng tôi ra ngồi trên hiên nhà. Bà chậm rãi chải tóc cho em gái tôi như
thể đó là một công việc trang trọng, ấy vậy mà ánh mắt bà không rời bến tàu lấy
một giây. Có những ngày chúng tôi ngồi như thế cho tới tận khi lũ đom đóm quanh
những cây lamphu bên rìa nước bắt đầu lập lòe và hàng đàn muỗi vo ve bên tai
chúng tôi.
Tôi không biết
chắc lúc đó chúng tôi đang đợi điều gì, có thể là người cha luôn về nhà rất
muộn, hay thứ gì đó khác, hoặc thậm chí một điều mà chúng tôi không biết.
“Ning về chưa
ạ?” Tôi hỏi sang chuyện khác.
“Chưa,” mẹ xẵng
giọng, nom chực nói thêm điều gì, nhưng rồi bà im lặng.
Tôi nhìn bà lần
nữa rồi đứng dậy, nhặt tất lên gác.
Tôi đóng cửa
phòng ngủ và cảm thấy tự do khi rốt cuộc cũng được ở một mình. Ngoài trời, gió
đang rít. Cây xoài bên cửa sổ oằn oại, cành lá cà vào kính cửa. Trời bắt đầu
mưa lâm thâm, những hạt mưa phủ mờ cửa sổ. Tôi nhìn bóng mình trên kính, một
cậu trai thể xác đã lớn nhưng thiếu cái nhiệt huyết của tuổi mình. Người ngợm
không đến nỗi nào, chắc vậy, nhưng đôi vai còng phản thùng tiết lộ cái bạc
nhược bên trong. Tôi không biết từ lúc nào đã thành ra thế này. Nom như thời
gian đã dần dần gắn chặt gánh nặng khổ đau, rối loạn và áp lực gia đình lên đôi
vai tôi, và giờ đây, khi đã nhận thức rõ về chúng, tôi khó mà chịu đựng lâu
hơn.
Tôi tới bên cửa
sổ, nhìn vào hình phản chiếu lòe nhòe thấy một người lạ, như trước đây vẫn thế.
Trên tấm kính, nhè nhẹ, bằng đầu ngón tay, tôi vẽ một con thuyền mành nhỏ, một
ngọn núi, mặt trời, những cây dừa đung đưa. Tôi mơ về biển cả và những ngày đã
qua từ lâu khi cha có lần dẫn cả nhà ra biển. Lúc đó tôi mới cao có từng này.
Cha để tôi ngồi trên vai ông còn tay dắt Ning và ba chúng tôi thong thả đi dọc
bờ biển trong khi mẹ nằm trên ghế dài quan sát mấy bố con. Chúng tôi đi xa tới
mức mẹ chỉ còn là một chấm nhỏ trên cát. Thật kì lạ, tuy tôi và Ning luôn gần
mẹ hơn cha, song chính mẹ là người trở nên xa cách với chúng tôi.
Trong tâm trạng
u ám ấy, tôi nghĩ về Jom. Chị như bờ bến của cuộc sống của tôi - bờ có tình
yêu, ấm áp và đủ đầy. Chị và tôi chỉ có một điểm chung, đó là không ai trong
chúng tôi thực sự có bạn thân. Trong khi những vấn đề gia đình đè nặng lên vai
tôi, khiến tôi thu mình lại và tự ép mình phải trưởng thành thật nhanh, thì của
cải lại tách Jom khỏi bạn bè, giam chị vào nỗi cô độc. Cha chị càng rót nhiều
tiền cho chị vào trường học, chị càng bị cô lập khỏi bạn học. Chị như một nàng
công chúa bé nhỏ quý giá trong mắt thầy cô – một cô công chúa tuyệt vời, mỏng
manh, giàu có, không tì vết, nhưng than ôi, chính điều ấy lại biến chị thành
nàng công chúa cô độc nhất thế gian. Tiền không thể mua cho chị dù chỉ một
người bạn.
Tôi nhớ như in
một trong những ngày đầu chúng tôi biết nhau. Chị hỏi tôi sau này muốn học tiếp
ở đâu.
“Sinlaparkorn,”
tôi bảo chị. “Em muốn thành họa sĩ.”
“Tốt cho cậu.”
Chị mỉm cười. “Nhưng còn mấy năm nữa. Biết đâu cậu sẽ đổi ý...”
“Thế còn chị thì
sao, Jom? Đây là năm cuối cấp của chị rồi. Có ý định gì chưa?”
“Chưa,” chị đáp
rồi nhìn ra ngoài bãi cỏ nơi bọn trẻ đang chơi rất hào hứng. “Chị chỉ muốn ra
khỏi nơi này. Chị chán ngấy nó rồi.”
Tôi lặng lẽ nhìn
chị và nghĩ rằng mình hiểu chị - hiểu nhau như một người bạn đồng lứa, không
phải là một cậu trai mười bốn và một thiếu nữ mười bảy tuổi.

