Hồng lâu mộng - Chương 114
Chương 114: Hồi thứ một
trăm mười bốn
Vương Hy Phượng trải qua
cơn ảo nhớ lại Kim Lăng
Chân ứng Gia được đội ơn
vua về chầu ngọc khuyết
Bảo Ngọc, Bảo Thoa nghe
nói bệnh Phượng Thư nguy cấp vội vàng ngồi dậy. A hoàn cầm đèn chờ sẵn. Đang
định đi ra, thì thấy bên Vương phu nhân sai người đến nói:
- Mợ hai Liễn nguy lắm
rồi, nhưng chưa tắt thở. Mợ và cậu hãy khoan sang. Bệnh mợ hai Liễn kỳ quặc; từ
canh ba đến canh tư, đòi hỏi luôn miệng, đòi thuyền đòi kiệu, nói là để về Kim
Lăng nhập vào cuốn sổ gì đấy. Mọi người không hiểu. Mợ ta cứ kêu van khóc lóc.
Cậu hai Liễn chẳng biết làm thế nào, đành phải sai người đi bẻ thuyền và kiệu
giấy. Thuyền và kiệu chưa về, mợ ta cứ thở hổn hển chờ. Bà lớn sai chúng tôi
đến đây, nói cậu mợ chờ mợ ấy tắt thở rồi hãy sang.
Bảo Ngọc nói:
- Thế cũng lạ thật? Chị
ấy đi Kim Lăng làm gì?
Tập Nhân nói khẽ:
- Không phải năm trước
cậu đã thấy chiêm bao. Tôi còn nhớ cậu nói có những mấy cuốn sổ à? Phải chăng
là mợ hai Liễn đi đến chỗ ấy?
Bảo Ngọc nghe xong, gật
đầu nói:
- Phải đấy! Đáng tiếc
tôi không nhớ những lời ghi trong mấy cuốn sổ ấy nữa. Xem như thế thì người ta
ai cũng có số cả. Nhưng không biết em Lâm thì đi chỗ nào? Bây giờ nghe chị nói,
tôi hơi hiểu rồi. Nếu lại được thấy chiêm bao mấy lần nữa, thế nào tôi cũng xem
cho kỹ, có lẽ chẳng phải bói cũng đã biết trước.
Tập Nhân nói:
- Cậu lẩn thẩn thế tôi
không thể nói chuyện được. Tôi ngẫu nhiên nhắc đến một câu, mà cậu đã cho là
thật? Cậu có biết trước thì liệu còn cách gì nữa.
Bảo Ngọc nói:
- Chỉ sợ không biết
trước thôi, nếu biết trước thì tôi cũng không cần gì lo lắng hão cho các người!
Hai người đang nói
chuyện, thì Bảo Thoa chạy đến hỏi:
- Hai người nói gì đấy?
Bảo Ngọc sợ chị ta tra
hỏi, liền trả lời:
- Đang bàn chuyện chị
Phượng.
- Người ta sắp chết rồi.
Các người cứ bàn chuyện chị ấy làm gì. Năm trước cậu cứ nói tôi nguyền rủa chị
ấy, chứ quẻ thẻ thần phải ứng nghiệm đấy à?
Bảo Ngọc nghĩ một lát,
rồi vỗ tay và nói:
- Phải đấy? Xem như thế
thì mợ có thể biết trước được. Tôi hỏi mợ có biết tương lai của tôi sẽ như thế
nào không?
Bảo Thoa cười và nói:
- Lại nói nhảm rồi, tôi
chẳng qua cứ lời trên quẻ thẻ chị ấy xin mà nói bừa ra đấy thôi, thế mà cậu lại
cho là thật thật giống như chị Hai nhà tôi. Lúc cậu mất ngọc, chị ta đi nhờ
Diệu Ngọc cầu tiên, tiên viết chữ ra, mọi người không hiểu. Khi
vầng người, chị ta còn
nói với tôi. Diệu Ngọc biết trước như thế nào, tham thiền ngộ đạo như thế nào,
bây giờ chính Diệu Ngọc mắc nạn lớn, mà bản thân cô ấy lại không biết? Thế lại
cho là biết trước à? Ngay cả tôi ngẫu nhiên nói đúng việc của mợ Hai, thực ra
thì làm sao biết số chị ấy như thế nào? Ngay cả số tôi, tôi cũng chẳng biết nữa
là. Những việc như thế, vốn là chuyện hoang đường, tin làm sao được?
Bảo Ngọc nói:
- Đừng nhắc chuyện chị
ấy nữa, mợ chỉ nói chuyện em anh thôi. Từ khi nhà ta luôn luôn có việc, lãng
quên việc của cô ta. Một việc lớn như thế. Sao bên nhà lại làm qua loa xong
chuyện? Cũng không mời mọc bà con chúng bạn gì cả.
Bảo Thoa nói:
- Cậu nói như thế lại
viễn vông rồi. Bà con nhà chúng tôi, chỉ có nhà mình đây và nhà họ Vương là gần
gũi. Nhà họ Vương hiện chẳng có ai là người đứng đắn, còn nhà mình thì mắc việc
tang bà, nên cũng không mời; chỉ có anh Liễn là còn lo liệu việc này việc khác.
Bà con nơi khác cũng có một vài nhà. Cậu không sang làm sao mà biết. Kể ra số
phận chị Hai nhà tôi cũng chẳng khác tôi mấy, từ khi hứa gả cho anh Hai tôi, mẹ
tôi vốn định cưới cho anh ấy thật đường hoàng. Nhưng một là vì anh Cả tôi đang
bị giam, anh Hai cũng không chịu làm to; hai là vì việc nhà mình đây; ba là vì
chị Hai ở bên nhà bà Cả khổ quá, lại bị khám xét, bà Cả hết sức cay nghiệt, chị
ấy không thể chịu nổi. Vì thế tôi nói với mẹ tôi chịu làm qua loa bôi bác mà
cưới về cho xong. Tôi xem chị Hai tôi giờ đây thật là yên tâm vui vẻ, hiếu kính
mẹ tôi, so với dâu thật còn hơn gấp mười, đối đãi với anh Hai cũng giữ hết đạo
làm vợ. Lại rất thân mật với chị Hương Lăng. Khi anh Hai tôi đi vắng, hai người
ăn ở vui vẻ hòa thuận, tuy trong nhà có phần túng thiếu, nhưng gần đây mẹ tôi
có phần ung dung hơn trước. Chỉ khi nào nghĩ đến anh Cả tôi là mẹ tôi không
khỏi đau lòng. Anh Cả tôi cũng thường sai người về nhà lấy tiền tiêu, may nhờ
anh Hai tính toán công nợ ở ngoài, lo tiền gởi cho. Tôi nghe nói có mấy ngôi
nhà trong thành đã cầm đi rồi, còn lại một ngôi, bây giờ đang định dọn đến đấy
ở.
Bảo Ngọc nói:
- Tại sao lại định dọn
đi? Ở chỗ này mợ qua lại cũng tiện, nếu dọn đi xa, mợ muốn đến phải mất một
ngày.
Bảo Thoa nói:
- Tuy nói là bà con,
nhưng ai ở nhà nấy thì vẫn tiện hơn, lẽ nào lại ở nhà bà con suốt đời?
Bảo Ngọc còn định nói
tại sao không nên dọn đi, thìVương phu nhân cho người đến nói:
- Mợ hai Liễn đã mất.
Tất cả mọi người đều qua bên ấy rồi. Mời cậu Hai và mợ Hai sang ngay.
Bảo Ngọc nghe nói, không
nín được nữa, dẫm chân định khóc. Bảo Thoa cũng thương xót, lại sợ Bảo Ngọc
thương tâm, liền nói:
- Đừng khóc ở đây, sang
bên ấy mà khóc luôn thể.
Rồi hai người đi một
mạch đến nhà Phượng Thư, thì thấy có nhiều người đang đứng vây quanh mà khóc.
Bảo Thoa tới nơi, thấy Phượng Thư chết rồi, đã đặt nằm trên giường, liền oà
khóc to. Bảo Ngọc cũng nắm lấy tay Giả Liễn, khóc lóc thảm thiết. Giả Liễn lại
khóc lóc lúc lâu. Bọn Bình Nhi thấy không có ai khuyên giải, đành phải cố nhịn
đau thương mà tới khuyên. Mọi người đều thương khóc mãi.
Giả Liễn cuống quít sai
người gọi Lại Đại đến, bảo ông ta lo liệu việc tang, còn mình thì thưa lại đầu
đuôi với Giả Chính, rồi đi lo liệu công việc. Nhưng vì trong nhà thiếu thốn,
nên việc gì cũng chật vật. Nhớ lại ngày thường Phượng Thư ăn ở quí hóa, hắn
càng không sao cầm được nước mắt. Lại thấy Xảo Thư khóc lóc, chết đi sống lại,
càng thêm thương tâm. Hắn khóc cho đến sáng, rồi sai người đi mời cậu cả là
Vương Nhân đến.
Sau khi Vương Tử Đằng
chết. Vương Tử Thắng lại là người bất tài. Vương Thân tha hồ càn dở làm cho bà
con nội ngoại xích mích lẫn nhau. Nay nghe em gái chết, hắn ta đành phải chạy
đến, khóc lóc một hồi. Thấy ở đấy mọi việc đều bôi bác qua loa, trong bụng hắn
ta không bằng lòng, nói:
- Em gái tôi ở nhà các
người khó nhọc vất vả trông coi việc cửa việc nhà mấy năm nay, chẳng có điều gì
sai lầm. Nhà các người cần phải tống táng cho ra trò mới phải. Tại sao đến giờ
mà mọi việc vẫn chưa đầy đủ?
Giả Liễn vốn không bằng
lòng với Vương Nhân, thấy hắn nói những câu nhảm nhí. Biết hắn chẳng hiểu gì,
nên cũng không để ý. Vương Nhân liền gọi cháu ngoại là Xảo Thư lại, và nói:
- Lúc mẹ cháu còn sống,
ăn ở không chu đáo, chỉ biết một mực chiều chuộng bà mà khinh thường bọn chúng
ta. Cháu này! Cháu đã lớn rồi. Cháu thấy cậu xưa nay có nhờ vả gì nhà cháu
không? Bây giờ mẹ cháu chết rồi. Mọi việc cháu phải nghe lời cậu. Bà con bên
ngoại nhà cháu chỉ có cậu đây và cậu Hai của cháu thôi. Cha cháu người như thế
nào, cậu cũng biết cả. Anh ta chỉ có kính trọng người khác thôi. Năm nọ dì Vưu
nào đó chết đi, cậu tuy không ở Kinh nhưng nghe nói cha cháu mất khá nhiều
tiền. Nay mẹ cháu chết, cha cháu lại lo liệu qua loa như thế. Cháu cũng không
biết khuyên cha cháu à?
- Cha cháu cũng muốn lo
liệu cho chu đáo. Nhưng bây giờ không bì với trước được. Hiện giờ trong tay
không có tiền, mọi việc đều phải dè sẻn ít nhiều.
- Đồ đạc của nhà cháu
còn ít à?
- Năm trước bị tịch thu
hết, còn đâu nữa?
- Cháu cũng nói như thế
à? Cậu nghe nói cụ bà lại cho một số đồ vật, cháu nên đưa ra mới phải.
Xảo Thư nói cha mình đã
dùng đi rồi thì không tiện, nên chỉ chối là không biết. Vương Nhân liền nói:
- Chà? Tao biết rồi,
chẳng qua mày muốn để dành sau này làm đồ hồi môn đấy thôi.
Xảo Thư nghe nói, không
dám trả lời. Tức quá nghẹn ngào khóc lên. Bình Nhi giận quá nói:
- Cậu có điều gì thì chờ
cậu Hai chúng tôi vào hãy nói. Cô mới chừng ấy tuổi. đã hiểu cái gì?
Vương Nhân nói:
- Bọn các người thì chỉ
trông chờ cho mợ Hai chết đi, để dễ làm vương làm tướng! Tôi có đòi gì đâu. Lo
liệu cho chu đáo là thể diện của các người đấy thôi. Nói xong, hắn hầm hầm ngồi
xuống.
Xảo Thư trong bụng rất
bực bội, nghĩ thầm: “Cha mình không phải người phụ bạc. Khi mẹ mình đang còn,
cậu lấy không biết bao nhiêu là đồ vật, thế mà bây giờ lại chối trơn đi như
thế.” Vì thế, cô ta không trọng cậu lắm. Ngờ đâu Vương Nhân trong bụng suy
nghĩ, em gái mình dành dụm không biết bao nhiêu, tuy nhà bị khám xét, nhưng
tiền bạc có phải ít đâu. Chắc là sợ mình đến vòi vĩnh nên bày trò nói như thế.
Con bé kia cũng không giúp mình được gì. Từ đó Vương Nhân cũng ghét cả Xảo Thư.
Giả Liễn chẳng hề biết gì, chỉ loay hoay kiếm tiền để tiêu. Mọi việc ở ngoài,
bảo Lại Đại lo liệu; bên trong cũng cần tiêu khá nhiều tiền, không thể một lúc
kiếm đâu ra được. Bình Nhi biết hắn hoảng hốt liền can:
- Cậu Hai cũng không nên
hủy hoại đến thân thể lắm?
- Còn thân với thể gì!
Hiện giờ tiền tiêu hàng ngày không còn nữa, việc này biết lo liệu làm sao? Thế
mà lại có hạng người lẩn thẩn cứ ở đây quấy rầy. Chị cứ nghĩ xem còn cách gì nữa?
- Cậu cũng đừng hoảng
lên, nếu không có tiền tiêu thì tôi còn ít nhiều đồ vật. May mà năm trước không
bị tịch thu, cậu cần thì đem cầm đi mà tiêu.
Giả Liễn nghe nói, nghĩ
bụng, thế thật may quá, liền cười- Thế thì càng tốt, đỡ cho tôi khỏi phải chạy
vay nơi này nơi khá. Chờ khi nào tôi kiếm được tiền sẽ trả lại cho chị.
- Của tôi cũng là của mợ
cho, trả với vay gì! Cốt làm sao lo liệu việc này cho dễ coi một chút là được.
Giả Liễn rất là cảm
kích, liền đem đồ vật của chị ta cầm đi mà tiêu. Mọi việc cùng bàn hạc với chị
ta mà làm! Thu Đồng thấy vậy, trong bụng khó chịu, thường nói ra miệng:
- Mợ Hai chết rồi. Con
Bình muốn leo lên đấy? Tôi là người của ông lớn. Sao nó lại vượt cả tôi?
Bình Nhi cũng biết ý,
nhưng cứ để mặc. Giả Liễn lúc đó biết rõ, nên càng ghét Thu Đồng, gặp việc gì
buồn bực thì đem Thu Đồng ra hành hạ. Hình phu nhân biết thế, lại bảo Giả Liễn
không tốt. Giả Liễn đành phải chịu nhịn.
Linh cữu của Phượng Thư
để hắn mười ngày rồi mới đưa đi. Giả Chính chịu tang mẹ, nên chỉ ở thư phòng
bên ngoài. Lúc bấy giờ bọn môn khách đều dần dần từ biệt đi nơi khác, chỉ có
Trình Nhật Hưng còn ở đấy, thường ngồi tiếp chuyện. Giả Chính nói:
- Vận nhà không may.
Chết luôn mấy người, ông Cả và anh Trân lại còn ở ngoài. Cảnh nhà càng ngày
càng gặp khó khăn. Ruộng đất ở ngoài trại Đông cũng chẳng biết ra làm sao. Thật
là gay?
Trình Nhật Hưng nói:
- Tôi ở đây đã mấy năm,
cũng biết người nhà ở phủ đây không ai là không tư túi. Năm nào họ cũng bòn của
về nhà thì cố nhiên ở phủ đây càng ngày càng thiếu hụt. Lại thêm phải chi tiêu
cho bên ông Cả và ông Trân nữa. Bên ngoài, còn có ít nhiều nợ, vừa rồi lại mất
trộm một ít, trông mong các nha môn truy lùng đám cướp để lấy lại của, là việc
rất khó. Ông lớn nếu muốn cho việc nhà ổn định, chỉ có cách gọi hết những người
coi việc nhà đến, sai một người tâm phúc tra xét rõ ràng các nơi; ai nên cho về
thì cho về, ai nên ở lại thì ở lại; chỗ nào bị thiếu hụt mất mát, thì bắt những
người đã làm trước phải bồi thường. Như thế mới được rõ ràng. Cái vườn lớn kia,
không ai dám tấu, nhưng trong đó có nhiều món lợi, thế mà lại không cắt người
coi sóc. Mấy năm trước đây khi ông lớn đi vắng, bọn họ bịa đặt ra ma quỷ làm
cho không ai dám vào vườn. Đó đều do bọn người nhà gây chuyện. Lúc này nên tra
xét lại bọn tôi tớ, tốt thì dùng, không tốt thì đuổi đi. Thế mới là hợp lý.
Giả Chính gật đầu nói:
- Tiên sinh cũng chưa
biết hết! Chẳng cần nói người nhà, ngay cả cháu mình, cũng không thể tin cậy
được! Nếu bảo tôi tra xét lấy thì làm thế nào mà việc gì cũng tai nghe mắt thấy
được hết? Vả lại tôi lại đang có tang, không có thể trông nom
những việc ấy. Tôi xưa
nay lại không hay xem xét việc nhà. Cái gì có, cái gì không, tôi cũng không hề
biết đến.
- Ông lớn là người nhân
đức, nếu như ở nhà khác mà gặp tình cảnh thế này, dầu cho có túng thiếu đi nữa,
năm năm mười năm cũng còn không sợ. Chỉ bắt bọn quản gia mà lấy cũng đủ. Tôi
nghe nói người nhà của ông còn có người làm tri huyện kia mà.
- Tiêu tiền của bọn
người nhà thì còn ra gì nữa. Chỉ có cách tự mình biết tiết kiệm ít nhiều là
hơn. Những sản nghiệp trong sổ sách, nếu mà có thật thì còn khá, chỉ sợ có danh
mà không có thực thôi.
- Ông lớn nói rất đúng.
Nhưng ông lớn có hiểu vì sao vãn sinh nầy lại nói ông cần phải xem xét không?
- Chắc là tiên sinh có
nghe được việc gì chăng?
- Tôi có biết ít nhiều
về mánh khóe của những người coi việc ở đây nhưng cũng không dám nói ra.
Giả Chính nghe nói, biết
ngay là trong lời nói ấy thế nào cũng có duyên cớ, liền than thở:
- Nhà chúng tôi từ cha
ông tới nay, đều là nhân hậu, chưa hề đối đãi khắc bạc với người dưới. Tôi xem
giờ đây bọn người ấy mỗi ngày mỗi khác! Đến ngay tôi mà chúng vẫn lên mặt chủ
nhà, thực làm cho người ta chê cười!
Hai người đang nói
chuyện thì người canh cửa vào thưa:
- Cụ Chân ở Giang Nam đã
đến.
Giả Chính hỏi:
- Cụ Chân đến kinh làm
gì?
- Con đã hỏi rồi. Nghe
nói là nhờ ơn Hoàng thượng cho phục chức.
- Không cần nói nữa. Mày
ra mời vào mau.
Người kia đi ra, mời vào
ông Chân tức là cha Chân Báo Ngọc, tên là Chân Ứng
Gia, tức là Hữu Trung,
cũng người Kim Lăng, và là con cháu nhà công thần. Ông ta vốn có bà con với phủ
Giả. Xưa nay vẫn thường đi lại. Năm trước vì phạm lỗi, bị cách chức, bị tịch
thu gia sản. Nay gặp lúc hoàng thượng tưởng nhớ đến công thần, trả lại chức thế
tập và gọi vào kinh bệ kiến. Ông ta biết Giả mẫu vừa mất, liền sắm sửa lễ vật,
chọn ngày đến chỗ để linh cữu để viếng, vì thế đến nhà hỏi thăm trước.
Giả Chính có tang, không
thể ra đón xa, chỉ đứng bên ngoài cửa thư phòng. Chân Ứng Gia vào gặp, vừa buồn
vừa vui. Vì trong lúc có tang, Giả Chính không tiện hành lễ người cầm tay nhau
nói mấy câu chuyện xa cách tưởng nhớ, rồi đôi bên khách chủ cùng ngồi. Dâng trà
xong, hai bên lại nói về chuyện sau khi xa cách. Giả Chính hỏi:
- Ông vào bệ kiến bao
giờ?
- Hôm trước.
- Chúa thượng đã có ơn
hậu, chắc là có chỉ dụ khoan hồng.
- Ơn chúa thượng thật là
cao hơn trời, có ban khá nhiều chỉ ý.
- Có chỉ ý gì hay?
- Gần đây bọn giặc ở đất
Việt lăng loàn. Một dãy ven biển, nhân dân không yên. Chúa thượng đã sai An
Quốc công đi đánh dẹp. Biết tôi quen thuộc nơi này, nên chúa thượng sai tôi qua
đó vỗ yên dân chúng. Nhưng phải lên đường ngay. Hôm qua nghe nói cụ bà quy
tiên, tôi kính cẩn sắm nén hương đến trước linh vị người cúng viếng, đặng tỏ
chút lòng thành.
Giả Chính vội vàng khấu
đầu bái tạ, và nói:
- Ông đi lần này, chắc
là trên thỏa lòng thánh thượng, dưới yên ổn nhân dân. Công lao rất lớn chính là
ở chuyến đi này. Mắt tôi không được nhìn thấy tài cao. Xin chờ nghe tin báo
tiệp. Quan trấn hải thống chế hiện nay là thông gia nhà tôi. Thế nào
cũng nhờ ông để ý giúp
đỡ.
- Ông với quan thống chế
bà con thế nào?
- Năm trước, lúc tôi
nhậm chức lương đạo tỉnh Giang Tây, có gả con gái cho quan thống chế. Chúng kết
hôn đã ba năm rồi. Vì công việc miền biển chưa xong, sau đó bọn giặc biển lại
nhóm họp làm loạn. cho nên tin tức không thông. Tôi rất nhớ cháu. Chờ khi nào
việc vỗ yên dân chúng xong. Xin ông tiện dịp qua thăm cháu một chút. Tôi xin
viết vài chữ nhờ người nhà của ông đưa đi luôn thể. Tôi rất lấy làm cảm kích!
- Ai lại không thương
cảm. Tôi cũng đang có việc muốn nhờ ông. Vừa rồi đội ơn thánh thượng triệu vào
kinh, vì cháu còn trẻ tuổi, trong nhà lại thiếu người, nên phải đem cả gia
quyến cùng vào kinh. Tôi vì lệnh trên gấp rút, nên phải đi luôn cả đêm ngày để
đến trước. Gia quyến còn đi chậm lại sau. Ít hôm nữa mới tới kinh. Tôi vâng chỉ
ra đi, không dám ở lại lâu. Sau này gia quyến của tôi tới kinh, thế nào cũng
đến tôn phủ đây. Và chắc sẽ bảo cháu tới hầu. Nếu cháu có thể dạy bảo được thì
gặp nơi nào có thể kết hôn, xin ông lưu ý cho, tôi rất lấy làm cảm kích.
Giả Chính đều vâng lời.
Chân Ứng Gia lại nói mấy
câu chuyện nữa rồi định đứng dậy ra về, và nói:
- Ngày maiẽ xin gặp lại
ở ngoài thành.
Giả Chính thấy ông ta
công việc vội vàng, liệu chừng không thể ngồi lâu được nữa, đành phải tiễn khỏi
thư phòng. Giả Liễn và Bảo Ngọc đã chờ sẵn ở đấy để tiễn thay. Nhưng vì Giả
Chính không gọi, nên chưa dám vào. Khi Chân Ứng Gia đi ra, hai người tới hỏi
thăm sức khỏe. Ứng Gia chợt thấy Bảo Ngọc, hết sức sửng sốt, nghĩ bụng: “Anh
này tại sao lại giống hệt Bảo Ngọc nhà mình, chỉ có khác là mặt đồ trắng thôi.”
Ông ta liền hỏi:
- Bà con thân thiết, lâu
ngày không gặp nhau. Các cậu đây tôi đều không nhận ra ai được nữa cả.
Giả Chính vội vàng chỉ
Giả Liễn mà nói:
- Đây là cháu Hai Liễn.
Con anh Xá nhà tôi.
Lại chỉ Bảo Ngọc mà nói:
- Đây là cháu thứ hai
của tôi, tên gọi là Bảo Ngọc.
Ứng Gia vỗ tay và nói:
- Lạ thật! Lúc tôi ở nhà
nghe nói ông có cậu con quý. Khi đẻ ngậm hòn ngọc, tên là Bảo Ngọc. Vì là trùng
tên với thằng cháu nhà tôi, nên trong bụng tôi rất lấy làm lạ. Sau nghĩ việc ấy
cũng thường, nên không để ý. Không ngờ hôm nay gặp mặt, chẳng những diện mạo
giống nhau, mà bộ điệu đi đứng cũng hệt nhau, thì càng lạ quá!
Ứng Gia lại hỏi tuổi Bảo
Ngọc, và nói:
- Cháu nhà tôi kém cậu
em đây một tuổi.
Giả Chính lại nhắc đến
chuyện năm trước bên quý phủ tiến cử Bao Dũng, và đã hỏi đến việc cậu em bên
nhà cùng thằng cháu đây trùng tên. Ứng Gia vì để ý vào Bảo Ngọc, nên cũng không
kịp hỏi Bao Dũng hay dở như thế nào, cứ nói luôn miệng: - Thật là lạ lùng! Rồi
ông ta cầm tay Bảo Ngọc, ngỏ ý ân cần. Nhưng lại sợ An Quốc công khởi hành rất
gấp, cần phải sắm sửa để đi xa, nên đành miễn cưỡng chia tay. Giả Liễn và Bảo
Ngọc tiễn chân. Dọc đường, ông ta lại hỏi Bảo Ngọc mấy câu rồi sau đó mới lên
xe mà đi. Giả Liễn và Bảo Ngọc trở vào gặp Giả Chính thuật lại những chuyện Ứng
Gia vừa hỏi. Giả Chính bảo hai người về nhà.
Giả Liễn lại xoay xở để
cho xong số tiền tiêu về đám tang Phượng Thư.
Bảo Ngọc về phòng mình,
nói chuyện với Bảo Thoa:
- Anh Chân Bảo Ngọc mà
ta thường nhắc đến, tôi cứ nghĩ là không thể gặp được. Hôm nay lại gặp bố anh
ta rồi. Nghe ông ta nói ít ngày nữa Chân Bảo Ngọc cũng lên kinh, và sẽ đến chào
cha. Ông ta cũng nói Chân Bảo Ngọc giống hệt tôi, tôi vẫn không tin. Nếu hôm
sau anh ta đến nhà mình, cá chị đến xem có thật giống tôi không?
Bảo Thoa nói:
- Ái chà! Cậu nói rõ vớ
vẩn! Người con trai nào giống mình cậu cũng bàn tán, lại bảo chúng tôi ù lì xem
mặt nữa kia!
Bảo Ngọc nghe nói, biết
mình lỡ lời, đỏ mặt, định tìm lời phân giải.

