Hồng lâu mộng - Chương 086
Chương 86: Hồi thứ tám
mươi sáu
Ăn của đút, quan già
thay án kiện;
Gửi tình riêng, gái trẻ
giảng cầm thư.
Tiết phu nhân nghe đọc
thư của Tiết Khoa xong gọi thằng nhỏ vào hỏi:
- Mày có nghe cậu Cả nói
vì sao mà đánh chết người không?
- Con cũng không nghe rõ
lắm. Hôm nọ nghe cậu Cả nói với cậu Hai...
Nói đến đó, nó đưa mắt
nhìn quanh, thấy không có ai, nó nói tiếp:
- Cậu Cả nói: Từ khi
trong nhà lục *****c ghê gớm, cậu con chả còn thiết gì nữa, nên định sang miền
nam đặt mua hàng. Hôm đó cậu hẹn một người cùng đi, người này ở cách phía nam
thành hơn hai trăm dặm. Đang đi tìm anh ta, thì gặp một người quen cũ tên là
Tưởng Ngọc Hàm vừa dẫn một lũ con hát nhỏ vào thành. Cậu con liền cùng anh ta
vào hàng ăn cơm uống rượu. Người bán rượu ở hàng ấy cứ nhìn Tưởng Ngọc Hàm chằm
chặp nên cậu con đâm cáu. Sau đó Tưởng Ngọc Hàm đi. Hôm sau cậu con mời người
kia đến uống rượu. Đang uống, sực nhớ đến việc hôm qua, cậu con bảo người bán
rượu đổi rượu khác. Hắn đưa rượu đến chậm, cậu con mắng; nó không chịu, cậu con
liền giơ bát rượu lên định đánh. Không ngờ hắn cũng là một thằng bướng bỉnh,
liền chìa đầu ra thách. Cậu con cầm bát đập vào đầu nó một cái; máu phọt ra, nó
ngã lăn ra đất. Ban đầu nó còn chửi mắng nhưng sau im bặt.
- Tại sao không có ai
can?
- Không nghe cậu Cả nói
đến điều đó, con không dám nói càn.
- Thôi mày hãy nghỉ đã.
Thằng nhỏ vâng lời lui
ra.
Tiết phu nhân thân hành
đến gặp Vương phu nhân, nhờ Vương phu nhân xin hộ với Giả Chính. Giả Chính hỏi
rõ đầu đuôi, chỉ ậm ừ cho qua chuyện, bảo chờ Tiết Khoa nộp đơn trình xem quan
huyện phê ra sao rồi sẽ liệu.
Tiết phu nhân lại lấy
bạc ở hiệu cầm đồ, sai thằng nhỏ đem đi ngay. Sau ba ngày, có tin về. Tiết phu
nhân được thư, sai a hoàn nhỏ gọi Bảo Thoa. Bảo Thoa vội vàng đến, thư viết:
“Số bạc đã tiêu vào việc
đút lót cho những người trong cửa quan. Anh Cả ở trong ngục cũng không lắm, xin
bác yên lòng. Người ở đây họ điêu ngoa lắm, bà con người chết và người làm
chứng đều không chịu nghe, ngay cả người bạn anh Cả cũng về hùa với họ. Cháu
cùng Lý Tường ở nơi đất khách lạ lùng, may tìm được một ông thầy kiện, cho ông
ta một ít bạc, ông ta mới bầy cho một kế: Việc này phải kéo cả người cùng uống
rượu với anh Cả là Ngô Lương vào; phải tìm nó, cho nó một ít bạc, bảo nó giúp
mình. Nếu nó không nghe thì khai nó đã đánh chết Trương Tam rồi đổ tội cho
người khác. Nó có cứng họng thì việc này mới dễ thu xếp. Cháu theo kế, quả
nhiên Ngô Lương phải nghe theo. Hiện giờ cháu đã đem tiền mua chuộc được bà con
người chết và những người làm chứng và đã làm một cái đơn. Hôm qua cháu nộp đơn
lên quan, hôm nay quan đã phê vào đơn và đưa ra, xin xem đơn trình sẽ rõ”.
Bảo Thoa lại đọc đơn
trình như sau:
“Con là Mỗ, kêu oan về
việc anh con bị tai bay vạ gió. Nguyên anh con là Tiết Bàn, quán ở Nam Kinh,
trú ở Tây Kinh, ngày… tháng… năm… vừa rồi đem vốn liếng qua miền nam buôn bán.
Đi chưa được vài ngày, nghe người nhà đưa tin về nói là anh con mang tội giết
người. Con liền đến nơi xảy ra vụ án, biết rằng anh con vô tình làm chết người
họ Trương. Đến khi vào nhà giam hỏi thăm, anh con khóc nói với con rằng: Quả
thật anh con không quen biết gì người họ Trương và không hề có hiềm khích gì
với anh ta cả. Bất thình lình nhân việc đổi rượu cãi nhau, anh con nổi giận hắt
bát rượu xuống đất, lúc Trương Tam đang cúi đầu nhặt vật gì, nhỡ tay, cái bát
đập vào thái dương, nên bị thiệt mạng. Quan lớn bắt hỏi, anh con sợ bị tra tấn,
đành phải thú nhận đã đánh chết người. Nhờ ơn quan lớn nhân từ biết là oan ức,
nên chưa kết án. Anh con trong nhà giam, không dám làm đơn khiếu oan, vì sợ can
phạn đến lệ cấm. Con nghĩ tình anh em, liều mình kêu thay. Cúi xin quan lớn
rộng ơn cho phép, đòi các nhân chứng hỏi lại, ơn ấy không gì bằng, cả nhà chúng
con đều được đội ơn nhờ nhân đức không bao giờ hết!” Nay kính trình.
Lời quan huyện phê như
sau:
“Hôm nọ khám nghiệm xác
chết, chứng cứ rành rành, vả lại chưa hề tra khảo gì anh mày đã thú rằng mình
đánh chết, lời thú nhận còn ở trong hồ sơ. Nay mày ở xa mới đến, mắt không
trông thấy, sao dám kêu xin bậy bạ. Đáng lẽ phải trị tội, nhưng nghĩ tình
thương anh, hãy tạm tha cho.
Không chấp đơn”.
Tiết phu nhân nghe đọc
đến đó nói:
- Thế là không cứu được
nữa à? Làm sao bây giờ?
Bảo Thoa nói:
- Thư cậu Hai đọc đã hết
đâu, còn một đoạn nữa.
Bảo Thoa đọc tiếp
“Có việc rất cần, hỏi
người về đó sẽ biết”.
Tiết phu nhân liền hỏi
người mang thư về. Anh ta nói:
- Ở huyện đã biết nhà ta
giàu có, cần phải lo liệu việc này ở trong Kinh, lại mất cho họ một cái lễ lớn,
thì còn có thể xét lại mà kết án nhẹ. Bây giờ bà phải lo liệu mau lên, không
thì cậu Cả sẽ bị khổ.
Tiết phu nhân nghe nói,
bảo thằng nhỏ đi ra, rồi đến ngay phủ Giả nói rõ đầu đuôi với Vương phu nhân,
nhờ xin hộ với Giả Chính. Giả Chính chỉ sai người lấy tình mà nói với quan
huyện, chứ không chịu nói đến chuyện tiền nong lễ vật. Tiết phu nhân sợ không
ăn thua, lại nhờ Phượng Thư nói với Giả Liễn, tốn mất mấy ngàn lạng bạc mới mua
chuộc được viên tri huyện. Tiết Khoa nhờ vậy thu xếp xong xuôi. Sau đó tri
huyện yết thị ra công đường xét xử, sai gọi tất cả hàng xóm, nhân chứng, bà con
người chết và Tiết Bàn ở nhà giam đến. Tên thơ lại gọi tên từng người xong, tri
huyện liền gọi lý dịch địa phương đến đọc lại lời khẩu cung hôm trước, lại sai
gọi mẹ người chết là bà Vương và chú người chết là Trương Nhị đến. Bà Vương vừa
khóc vừa thưa:
- Chồng con là Trương
Đại, người ở xóm Nam,
chết đã mười tám năm nay. Con đầu và con thứ hai cũng đều chết cả, chỉ còn trơ
trọi đứa con vừa chết, tên là Trương Tam, năm nay hai mươi ba tuổi, chưa có vợ.
Vì nhà con nghèo, không có gì nuôi sống, mới cho nó đi làm hầu rượu ở trong
quán rượu của ông Lý. Hôm nọ, vừa trưa, chủ quán rượu sai người đến báo: “Con
bà bị người ta đánh chết rồi”. Quan lớn đèn trời soi xét cho! Con thực hồn vía
lên mây, liền chạy đến nơi, thấy cháu nó vỡ đầu, máu chảy lênh láng, nằm thở
thoi thóp; hỏi nó, nó không nói được nữa, một chốc thì chết. Con toan níu lấy
thằng vô loại này liều mạng với nó!
Nói đến đó bọn nha dịch
quát một tiếng, bà Vương liền lạy lục mà nói:
- Xin quan lớn đèn trời
minh oan cho con. Con chỉ có một đứa con ấy thôi!
Viên tri huyện bảo: - Mụ
hãy xuống đi. - Lại gọi chủ quán họ Lý hỏi:
- Tên Trương Tam lm thuê
ở quán mày phải không?
Lý Nhị thưa:
- Bẩm không phải làm
thuê, mà làm người hầu rượu.
- Hôm khám xác chết, mày
nói Tiết Bàn cầm bát đánh chết Trương Tam, có phải chính mắt mày trông thấy
không?
- Lúc đó con đang đứng
bên quầy bán hàng, nghe nói ngoài phòng khách gọi rượu, một chốc nghe có tiếng
kêu: “Nguy rồi! Đánh bị thương r” Con chạy ra thì thấy Trương Tam nằm dưới đất,
không nói năng được nữa. Con liền một mặt đi trình lý dịch địa phương; một mặt
sai người đi báo với mẹ anh ta. Còn những việc họ đánh nhau thế nào, thực con
không rõ, xin quan lớn hỏi những người uống rượu sẽ biết.
Viên tri huyện quát:
- Lúc sơ thẩm lấy khẩu
cung, mày nói chính mắt trông thấy, sao bây giờ lại nói không?
- Hôm đó con khiếp sợ
mất vía, nên trót nói nhảm. Bọn nha dịch lại quát không cho nói nữa.
Viên tri huyện gọi Ngô
Lương hỏi:
- Mày cùng họ uống rượu
ở một chỗ phải không? Tiết Bàn đánh người như thế nào? Cứ khai cho thực.
- Hôm đó con đang ở nhà,
thì cậu Tiết này mời đi uống rượu. Cậu ấy chê rượu không ngon, đòi đổi rượu
khác. Trương Tam không chịu. Cậu Tiết nổi giận, cầm bát rượu hắt lên mặt anh
ta, không hiểu vì sao, cái bát lại va phải đầu, chính mắt con trông thấy như
thế.
- Nói bậy! Hôm trước lúc
khám xác, Tiết Bàn tự nhận là cầm bát đánh chết, mày cũng hảo chính mắt trông
thấy, tại sao hôm nay lại nói khác! Lính đâu! Vả vào miệng nó!
Bọn nha dịch dạ vang,
toan lại vả miệng. Ngô Lương kêu van:
- Quả thật Tiết Bàn
không hề đánh nhau với Trương Tam, mà chỉ nhỡ tay để vỡ bát rượu va phải đầu
anh ta. Xin quan lớn làm ơn hỏi lại Tiết Bàn thì rõ.
Viên tri huyện gọi Tiết
Bàn lên, hỏi:
- Mày cùng Trương Tam có
hiềm thù gì không? Tại sao nó chết? cứ khai thật đi!
- Xin quan lớn thương
cho con nhờ! Con thật không hề đánh anh ta. Chỉ vì anh ta không chịu đổi rượu,
con cầm bát rượu hắt xuống đất, không ngờ nhỡ tay, bát va vào đầu, con vội vàng
bịt lấy chỗ chảy máu, ngờ đâu bịt mãi không được, máu ra nhiều quá, một chốc
thì chết. Hôm trước lúc khám xác, con sợ quan lớn đánh, nên nói là cầm bát đánh
anh ta, xin quan lớn rộng thương cho.
Viên tri huyện quát:
- Đồ ngốc! Hôm trước ta
hỏi mày tại sao đánh nó, thì mày khai là tức nó không chịu đổi rượu mà đánh,
thế mà nay lại nói nhỡ tay va phải nó à?
Viên tri huyện vờ làm bộ
đòi đánh đập kìm kẹp. Tiết Bàn cứ một mực nói như vậy.
Viên tri huyện gọi người
khám xác chết đến hỏ
- Hôm trước ở chỗ khám
xác chết, ghi chép thương tích thế nào, mày nói cho thật.
- Hôm trước khám thây
Trương Tam, trong người không có thương tích gì cả, chỉ ở thóp có một vết
thương do đồ sứ chạm phải, dài một tấc bảy phân, sâu năm phân, toạc da, xương ở
chỗ thóp dập vỡ ba phân, quả thật là bị va chạm thành thương.
Tri huyện đem đối chiếu
với giấy ghi thương tích hôm trước thì giống hệt nhau, biết rằng bọn thơ lại đã
sửa cho nhẹ đi, nhưng cũng không bắt bẻ gì, liền gọi ký tên cho qua chuyện.
Bà Vương vừa van vừa
khóc:
- Quan lớn đèn trời soi
xét! Hôm trước nghe nói còn có nhiều thương tích nữa, sao hôm nay thương tích
đều đi đâu mất cả?
- Mụ kia nói nhảm! Giấy
ghi thương tích còn rành rành đó, mụ không biết à?
Rồi gọi chú người chết
là Trương Nhị lên hỏi:
- Cháu anh chết, anh
biết anh ta bị bao nhiêu vết thương không?
Trương Nhị vội vàng
thưa:
- Chỉ có một vết thương
trên đầu thôi ạ.
- Có thế chứ?
Liền gọi thơ lại đem
giấy ghi thương tích xác chết cho mụ Vương xem; lại bảo lý dịch địa phương và
chú người chết chỉ cho mụ ta rõ; hiện có bà con và các người chứng kiến ở chỗ
khám xác chết xác nhận rõ ràng không có chuyện đánh nhau, cho nên không thể gọi
là ẩu đả được. Quan huyện bảo mọi người ký tên vào, cho là nhầm nhỡ làm chết
người, giam Tiết Bàn lại, chờ ngày trình lên quan trên. Còn các người khác thì
giao lý dịch địa phương nhận về. Sau đó quan huyện cho tan hầu.
Mụ Vương khóc lóc kêu la
ầm ĩ. Tri huyện bảo bọn nha dịch:
- Đuổi cổ nó ra.
Trương Nhị cũng khuyên
mụ Vương:
- Cháu nó quả thực vì
nhầm nhỡ mà chết, sao bà lại vu vạ cho người ta! Quan lớn đã phân xử sáng suốt,
đừng có làm ầm ĩ lên!
Tiết Khoa ở ngoài, dò
nghe rõ ràng, rất mừng rỡ, liền sai người đưa tin về nhà, chờ cho quan trên phê
xuống y án thì sẽ tìm cách chuộc tội. Còn anh ta thì hãy ở lại chờ tin. Bỗng
nghe người đi ngoài đường xôn xao nói với nhau:
- Có bà Quý phi nào
chết, nhà vua không ra triều ba h
Tiết Khoa nghĩ bụng:
“Chỗ này cách nơi lăng tẩm nhà vua không xa, tri huyện phải lo công việc đắp
đường xá, chắc rằng không thể rảnh rang mà lo việc mình. Mình có nán lại cũng
vô ích.” Tiết Khoa bèn vào nhà giam bảo anh:
- Anh hãy yên lòng chờ
đợi, em về nhà ít hôm sẽ đến.
Tiết Bàn cũng sợ mẹ
buồn, liền dặn về nói lại: “Con không việc gì, cần phải lên hầu cửa quan ít lâu
nữa, rồi sẽ được về nhà, nhưng đừng có tiếc tiền”.
Tiết Khoa để Lý Tường ở
lại trông nom, còn mình thì về nhà gặp Tiết phu nhân kể chuyện quan huyện
thương tình như thế nào, xét đoán như thế nào, cuối cùng kết án là vô ý làm
chết người: “Sau này chỉ mất một ít tiền cho bà con người chết, chờ cấp trên
cho phép chuộc tội, thế là ổn hết”.
Tiết phu nhân nghe nói,
cũng tạm yên lòng, bảo:
- Bác đang mong cháu về
trông nom việc nhà. Bác định sang tạ ơn bên phủ Giả, vả lại Chu quí phi vừa
mất, bên ấy hôm nào cũng phải vào cung dự lễ tang, trong nhà chẳng còn mấy
người. Bác định sang bên dì trông nom hộ, và làm bạn cho vui, nhưng nhà mình
chẳng có ai, được cháu về thì hay lắm.
- Cháu ở ngoài nghe nói
là Giả quí phi mất, nên mới vội về. Quí phi nhà ta đang khỏe mạnh thế, sao lại
nói mất?
- Năm trước quí phi đã
đau một lần, rồi lại khỏe. Lần này không nghe nói đau yếu gì, nhưng nghe nói
mấy hôm gần đây cụ bên phủ không được khỏe, hễ nhắm mắt là mơ thấy Quí phi. Mọi
người trong nhà đều lo lắng. Nhưng đến khi dò hỏi thì quí phi chẳng có việc gì.
Đêm hôm kia, chính miệng cụ nói: “Tại sao Nguyên phi đến đây một mình?” Mọi
người cho rằng đó là lời sảng trong lúc đau yếu, nên không ai tin. Cụ nói:
“Chúng mày không tin, nhưng Nguyên phi còn nói với tao rằng: Vinh hoa dễ hết,
cần phải quay mình lùi bước”. Mọi người đều nói: “Điều ấy ai mà chẳng hay tưởng
đến? Đó chẳng qua những người già cả hay lo trước nghĩ sau mà thôi”. Vì thế
chẳng ai cho là việc quan trọng. Thế rồi đến sáng hôm sau nghe trong cung xôn
xao đồn rằng quí phi bệnh nặng, truyền các bà mệnh phụ vào cung thăm hỏi. Bọn
họ lo sợ ngờ vực, vội vàng vào cung. Họ còn chưa về thì ở nhà đã nghe nói bà
Chu quí phi mất. Lời đồn đại bên ngoài ăn khớp với sự ngờ vực trong nhà, như
thế cháu xem có lạ không?
Bảo Thoa nói:
- Chẳng những lời đồn
đại bên ngoài lầm lẫn đã đành, mà trong nhà hễ nghe hai chữ “quí phi” thì đã
hoảng lên, sau đó mới rõ là không phải. Hai hôm nay, bọn a hoàn và những bà già
ở bên phủ đều nói rằng họ đã biết là không phải Quí phi nhà ta mất. Con hỏi:
“Sao các người nắm chắc được thế?” Họ nói: “Cách đây năm năm, vào tháng giêng
có một ông thầy bói ở tỉnh ngoài đến, có tiếng là bói rất tài. Cụ bảo viết năm,
tháng, ngày giờ sinh đẻ của Nguyên phi lẫn vào trong lá số của bọn a hoàn đưa
cho thầy ấy đoán xem. Thầy ấy xem xong rồi nói: Cô con gái sinh vào mồng một
tháng giêng này, chỉ sợ nói sai giờ, chứ nếu không sai, thì thật là một vị quí
nhân, không thể ở trong phủ này. Nghe vậy dượng và mọi người đều nói: Thầy đừng
kể gì sai hay đúng, cứ chiếu cố theo số đó mà đoán xem. Ông ta liền nói: năm
Giáp Thân, tháng Giêng Bính Dần, trong bốn chữ này có “thương quan tổn tài”.
Riêng chữ thân có “chính quan” và “lộc mã”(1), như thế là trong nhà không thể
nuôi được, nhưng cũng không tốt lắm. Ngày sinh là Ất Mão, đầu mùa xuân, mộc
Vượng, ví như cây gỗ có đẽo gọt lắm mới thành vật quí. Giờ sinh vào tân kim,
rất quí; giữa chữ tỵ là chính quan lộc mã càng tốt. Như vậy gọi là “phi thiên
lộc mã cách”. Ông ta lại nói: ngày đẻ gặp “chuyên lộc” hết sức quí trọng. Thiên
đức nguyệt đức ở cung bản mệnh, giàu sang hưởng phúc tiêu phòng. Cô này, nếu
nói đúng giờ, nhất định là một vị hoàng phi. Thế không phải là đoán rất đúng à?
Sau ông ta nói thêm: Nhưng tiếc thay, vinh hoa không được lâu; chỉ sợ gặp phải
tháng Mão năm Dần, sẽ là ngày mãn kiếp. Cũng như cây gỗ tốt, đem chạm trổ bóng
bẩy thì bản chất sẽ không bền. Bọn họ quên hẳn những câu nói ấy rồi chỉ lo hão.
Con sực nghĩ đến, mới nói với mợ Cả. Năm nay có phải là năm Dần tháng Mão đâu.
(1) Những danh từ trong bói số.
Bảo Thoa chưa nói xong,
Tiết Khoa vội nói:
- Việc người ta mặc họ!
Nếu có ông thầy bói như thần tiên, tôi muốn hỏi xem anh Cả nhà ta năm nay sao
dữ nào chiếu mệnh mà gặp tai vạ như thế? Nên mau mau biên rõ ngày, giờ sinh của
anh ấy để tôi nhờ ông ta đoán xem có can gì không?
- Ông ấy là người xa
đến, không biết nay còn ở Kinh nữa hay không.
Bảo Thoa nói xong, vội
sắm sửa cho Tiết phu nhân sang phủ Giả. Tiết phu nhân đến nơi thấy chỉ có bọn
Lý Hoàn và Thám Xuân ở nhà. Họ liền hỏi:
- Việc cậu Cả ra sao
rồi?
- Chờ bẩm lên quan trên
rồi mới biết được, xem chừng thì cũng không bị tội chết.
Nghe nói, mọi người mới
yên lòng. Thám Xuân liền nói:
- Hôm qua mẹ cháu còn
nhắc: Lần trước trong nhà có việc nhờ dì trông nom cho; giờ đây nhà dì cũng có
việc, nhờ vả không tiện, nên trong lòng rất là áy náy.
- Dì ở nhà cũng buồn.
Anh Cả cháu mắc nạn, em Hai cháu thì phải đi lo liệu, ở nhà chỉ còn một mình
chị cháu thì làm được gì? Vả lại con dâu nhà dì lại là đứa không biết lo liệu
công việc cho nên dì không sao sang bên này được. Hiện nay quan huyện ở đấy
cũng còn bận việc đám ma quí phi. Việc làm án chưa thể xong được. Vì thế em Hai
cháu về nhà, nên dì mới sang đây xem sao.
Lý Hoàn nói:
- Dì ở đây vài hôm thì
hay quá.
Tiết phu nhân gật đầu
nói:
- Dì cũng muốn ở đây làm
bạn với chị em cháu, nhưng sợ em Bảo nó buồn.
Tích Xuân nói:
- Dì mà nhớ chị Bảo, thì
sao không mời chị ấy sang đây luôn thể?
Tiết phu nhân cười nói:
- Làm thế sao được?
- Không được à? Sao
trước kia chị ấy cũng sang ở bên này?
Lý Hoàn nói:
- Cô không hiểu đâu, giờ
ở nhà người ta có việc, sang làm sao được?
Tích Xuân tưởng là thật,
không hỏi thêm nữa.
Đang nói chuyện thì bọn
Giả mẫu đã về. Tiết phu nhân chưa kịp chào, Giả mẫu đã hỏi ngay đến việc Tiết
Bàn. Tiết phu nhân kể lại đầu đuôi câu chuyện. Bảo Ngọc ở bên cạnh nghe nhắc
đến Tưởng Ngọc Hàm, trước mặt không dám hỏi, nhưng trong bụng đoán chắc là hắn
rồi, lại nghĩ thầm: “Hắn đã về Kinh sao không đến gặp ta?” Lại thấy Bảo Thoa
cũng không sang, không biết vì cớ gì, trong bụng cứ ngẩn ngơ suy nghĩ. Vừa lúc
ấy thì Đại Ngọc cũng đến hỏi thăm sức khỏe. Bảo Ngọc thấy vui mừng nên không
nhớ đến Bảo Thoa nữa. Liền cùng bọn chị em ăn cơm chiều tại nhà Giả mẫu. Ăn
xong, mọi người ra về. Tiết phu nhân nghỉ ở phòng sau trong nhà Giả mẫu.
Bảo Ngọc về đến phòng,
thay quần áo xong, bỗng nhớ đến cái thắt lưng Tưởng Ngọc Hàm biếu mình trước
kia, liền hỏi Tập Nhân:
- Cái thắt lưng màu đỏ
năm nọ chị không thắt, có còn nữa không?
- Tôi cất đi rồi, hỏi
làm gì?
- Tôi hỏi qua thế thôi!
- Cậu lại không nghe nói
cậu cả Tiết vì chơi với bọn người tầm bậy ấy nên đã gây ra vụ án mạng tày trời
à? Cậu còn nhắc đến cái của ấy làm gì? Nghĩ ngợi viển vông như thế, chẳng bằng
cứ yên lòng đọc sách, vứt hết những chuyện vô ích ấy càng hay.
- Tôi có nghĩ ngợi gì
đâu, ngẫu nhiên nhớ đến hỏi chị một câu. Nó còn cũng được, mà mất cũng thôi.
Thế mà chị đã nói một tràng như thế
- Không phải tôi lắm
điều đâu. Con người đọc sách, hiểu đạo lý thì phải lo cố gắng vươn lên; nếu như
người thân yêu đến họ thấy thế, mới vui mừng tôn kính chứ!
Bảo Ngọc nghe Tập Nhân
nhắc, liền nói:
- Chết rồi! Vừa rồi ở
bên nhà cụ, thấy đông người, tôi không nói chuyện với cô Lâm. Cô ấy cũng không
để ý gì đến tôi. Lúc ra về cô ta đi trước. Bây giờ chắc cô ấy đang ở nhà, tôi
đến một tí đã rồi hãy về.
Nói xong Bảo Ngọc chạy
đi.
Tập Nhân nói:
- Cậu về nhanh lên nhé!
Thật là vì tôi nhắc mà cậu cao hứng như thế.
Bảo Ngọc không trả lời,
cúi đầu đi một mạch đến quán Tiêu Tương, thấy Đại Ngọc ngồi bên kia bàn xem
sách. Bảo Ngọc đi đến trước mặt, cười nói:
- Em về nhà sớm thế?
Đại Ngọc cũng cười nói:
- Anh chẳng để ý gì đến
em, em còn ở đấy làm gì?
- Họ nói nhiều quá, anh
không thể mở miệng vào đâu, nên không nói chuyện với em được.
Vừa nói, Bảo Ngọc vừa
nhìn cuốn sách Đại Ngọc đương xem, nhưng chẳng biết một chữ nào cả. Có chữ thì
giống chữ “Thược”, có chữ thì giống chữ “Mang”; cũng có chữ “Đại”, ở bên cạnh
có chữ “Cửu”, thêm một cái ngoặc, ở giữa lại thêm một chữ “Ngũ”; cũng có chữ
bên trên là chữ “Ngũ”, chữ “Lục” một bên thêm chữ “Mộc” bên dưới lại là chữ
“Ngũ”. Bảo Ngọc nhìn thấy, vừa lấy làm lạ, vừa bực mình, liền nói:
- Em độ này học càng
tiến, xem cả sách thiên thư nữa đấy à?
Đại Ngọc phì cười nói:
- Rõ học giỏi thực! Ngay
cả bản đàn cũng chưa hề xem.
- Sao lại không xem?
Nhưng tại sao tôi không biết một chữ nào cả? Em biết à?
- Không biết thì xem làm
gì?
- Anh không tin. Xưa nay
anh chưa nghe em gẩy đàn bao giờ. Bên thư phòng của chúng ta có treo mấy cây
đàn, năm trước có một vị khách, gọi là Kê Hiếu Cố, đến chơi, cha anh nhờ ông ta
gẩy một khúc. Ông ta lấy đàn xuống xem rồi nói: “Không cái nào dùng được. Nếu
ông lớn cao hứng thì hôm khác xin đến hầu”. Chắc rằng cha anh không hiểu đàn,
nên ông ta cũng chẳng đến. Tại sao em biết gẩy đàn mà giấu tàế?
- Em đã hiểu gì đâu! Hôm
trước trong người thấy hơi khoan khoái, nhân tiện lục sách trên giá, thấy có
một tập bản đàn, rất có thú vị, trong ấy giảng về lý thuyết gẩy đàn rất thông,
cách gẩy cũng rõ ràng. Chơi đàn thật là trò tiêu khiển tĩnh tâm, dưỡng tính của
người xưa. Khi em còn ở Dương Châu, cũng đã nghe giảng qua và cũng đã học,
nhưng vì không hay gẩy, nên rồi quên mất. Đúng như người ta hay nói: “Ba ngày
không gẩy, tay sinh gai”. Hôm trước xem mấy thiên này, chỉ có tên bản hát mà
không có lời, em lại đi chỗ khác tìm được một bản có lời về xem, mới thấy thú
vị. Nhưng làm thế nào để gẩy cho hay, thì thật cũng khó. Trong sách có chép:
Ông Sư Khoáng gẩy đàn có thể gọi gió sấm, rồng, phượng đến. Khổng Tử khi học
đàn với ông sư Tương, nghe gẩy mà biết ngay khúc đàn là của Văn Vương. Non cao
nước chảy, được gặp tri ân...
Nói đến đây, mí mắt Đại
Ngọc rung rung rồi từ từ cúi đầu. Bảo Ngọc đang lúc cao hứng nói:
- Những lời em vừa nói
rất là thú vị! Nhưng anh không biết chữ nào trong đó cả. Em hãy dạy cho anh ít
chữ xem nào.
- Không cần phải dạy,
nói ra thì anh sẽ hiểu ngay.
- Anh là người tối dạ,
em hãy dạy cho anh cái chữ “Đại” thêm một ngoặc, và ở giữa lại có chữ “Ngũ” là
chữ gì.
- Chữ “Đại” và chữ “Cứu”
là dùng ngón tay cái bên trái đè phím thứ chín trên đàn; cái ngoặc ấy và chữ
“Ngũ” là dùng ngón tay bên phải bật năm dây. Đây không phải là một chữ, mà là
một tiếng, rất dễ hiểu thôi. Lại còn có những cách như kéo dài mềm mại, khoan
thai, lỏng lẻo, mạnh, nhanh, vội vã, giục giã đều là phép nghiên cứu về cách
gẩy đàn cả.
Bảo Ngọc mừng quá hoa
chân múa tay nói:
- Em đã thông hiểu lý thuyết
gẩy đàn như thế, sao chúng ta không học gẩy đi?
- Cầm có nghĩa là cấm.
Người xưa làm ra đàn vốn là để sửa mình, nuôi dưỡng tính tình, dẹp lòng dâm
đãng, bỏ sự xa xỉ. Nếu muốn gẩy đàn thì phải ở nơi nhà cao gác vắng; hoặc ở
trên lầu, trong núi; hoặc bên mỏm đá, bờ sông. Họ chỉ chơi khi trời đất thuận
hòa, trăng trong gió mát, đốt hương ngồi lặng, bụng không nghĩ bậy, khí huyết
điều hòa, lúc đó mới cảm thông với thần thiêng, nhịp nhàng với đạo lớn. Cho nên
người xưa nói: “Tri âm khó gặp”, nếu không có người tri âm, thì một mình đánh
đàn trước trăng thanh gió mát, đá lạ thông xanh, hạc nội chim ngàn, để gởi gắm
vào đấy hứng thú của mình mới không phụ với đàn. Lại còn một điều nữa, cần phải
gẩy giỏi, biết lựa tiếng hay. Nếu muốn gẩy đàn, trước hết phải khăn áo chỉnh
tề, hoặc áo lông, hoặc áo rộng; phải như bộ dạng của người xưa, mới có thể xứng
đáng với cách điệu thnh nhân. Sau đó rửa tay, đốt hương, ngồi lên giường đặt
đàn trên bàn, nhắm ngồi đúng phím thứ năm, đối với tầm bụng của mình, thong
dong đưa hai tay lên, như vậy tâm hồn và thể xác đều ngay thẳng. Lại phải biết
rõ nặng, nhẹ, nhặt, khoan, cuốn, mở tự nhiên, thần thái trang trọng mới được.
- Chúng ta học để mà
chơi, chứ nghiên cứu tỷ mỷ như thế thì khó lắm.
Hai người đang chuyện
trò, thì Tử Quyên ở ngoài vào. Trông thấy Bảo Ngọc, Tử Quyên cười:
- Cậu Hai hôm nay cao
hứng thật.
Bảo Ngọc cũng cười:
- Nghe cô em giảng giải,
làm cho tôi sáng mắt ra, càng nghe càng thích.
- Không phải cậu cao
hứng về việc đó đâu. Tôi nói là cậu cao hứng đến đây kia.
- Trước đây cô em không
được khỏe, tôi sợ đến làm phiền, vả lại tôi phải đi học, do đó có vẻ xa lạ.
Tử Quyên không chờ Bảo
Ngọc nói xong, liền đỡ lời:
- Cô tôi cũng mới đỡ,
cậu đã nói thế, thì cũng chỉ nên ngồi một lát, rồi để cô tôi đi nghỉ, kẻo giảng
giải mãi, e mệt đấy.
Bảo Ngọc cười, nói:
- Thật ra tôi cứ thích
nghe, quên rằng cô em mệt.
Đại Ngọc cười:
- Nói chuyện này là có
giải trí, cũng không việc gì mà mệt. Nhưng chỉ sợ em thì cứ nói mà anh vẫn
không hiểu.
- Dấn dần tự nhiên rồi
cũng hiểu.
Bảo Ngọc vừa nói vừa
đứng dậy, lại tiếp:
- Em phải nghỉ thôi.
Ngày mai anh sẽ bảo cô Ba, cô Tư, đều học gẩy đàn cả, để anh nghe.
Đại Ngọc cười:
- Anh lại muốn ngồi
không mà hưởng à? Nếu như mọi người đều học gẩy được mà anh không hiểu, thì
cũng không xứng đáng.
Nói đến đây, Đại Ngọc
sực nghĩ đến tâm sự của mình, liền im lặng không nói nữa.
Bảo Ngọc cười:
- Cốt làm sao cho các cô
đàn hay thì tôi thích nghe. Đừng kể tôi có phải “tai trâu” hay không.
Đại Ngọc đỏ mặt lên rồi
cười. Bọn Tử Quyên, Tuyết Nhạn cũng cười.
Mọi người đi ra cửa thì
thấy Thu Văn dẫn mấy a hoàn nhỏ bưng một chậu hoa lan đến, nói:
- Bên nhà bà Hai vừa có
người biếu bốn chậu hoa lan. Vì bận việc, không có thì giờ thưởng thức, bà Hai
bảo đưa cho cậu Hai một chậu và cô Lâm một chậu.
Đại Ngọc xem thì thấy có
mấy cành hoa sinh đôi, bỗng động lòng, cũng không rõ là vui hay buồn, cứ ngơ
ngẩn đứng nhìn. Lúc bấy giờ Bảo Ngọc chỉ nghĩ đến đàn, liền nói:
- Em bây giờ có hoa lan
thì có thể gẩy khúc “Ỷ Lan” đấy.(2)
Đại Ngọc nghe nói, trong
lòng không vui. Cô ta về phòng, xem hoa lan, vơ vẩn nghĩ: “Cỏ cây đang lúc mùa
xuân hoa tươi lá tốt, nghĩ mình tuổi trẻ mà đã giống như vóc bồ liễu ba thu,
nếu được như nguyện hoặc giả dần dần tươi tốt, nếu không thì chẳng khác gì hoa
liễu lúc xuân tàn, chịu sao nổi mưa dồn gió dập”. Nghĩ đến đây, Đại Ngọc bất
giác chảy nước mắt. Tử Quyên đứng bên thấy quang cảnh ấy không hiểu vì duyên cớ
gì, nghĩ bụng: “Vừa rồi Bảo Ngọc ở đây thì cô ta cao hứng như thế; giờ đang xem
hoa, bỗng làm sao lại thương cảm?” Tử Quyên đang lo không biết khuyên giải ra
sao, thì thấy bên nhà Bảo Thoa sai người đến.
(2) Một khúc đàn do Khổng tử khi ở nước Vệ về nước Lỗ
thấy hoa lan ở trong hang núi mà làm ra.