Hồng lâu mộng - Chương 050

Chương 50: Hồi thứ năm
mươi

Am Lư Tuyết nối nhau thơ
tức cảnh;

Ổ Noãn Hương khéo đặt
câu đố đèn.

Bảo Thoa nói:

- Cần phải định thứ tự,
để tôi viết ra.

Nói xong, liền bảo mọi
người rút thăm. Người bắt đầu chính là Lý Hoàn, rồi theo thứ tự mà rút.

Phượng Thư nói:

- Đã thế tôi cũng đọc
một câu.

Mọi người đều cười nói:

àng hay.

Bảo Thoa viết một chữ
“phượng” ở trên chữ “Đạo Hương lão nông”. Lý Hoàn giảng nghĩa đầu bài cho
Phượng Thư nghe.

Phượng Thư nghĩ một lúc,
cười nói:

- Chị em đừng cười tôi
nhé, tôi chỉ có một câu nôm na thôi, còn sau không biết gì hết.

Mọi người đều cười nói:

- Càng nôm na càng hay.
Chị cứ đọc ra đây, rồi đi làm việc của chị.

Phượng Thư cười nói:

- Khi tuyết xuống thế
nào cũng có gió bấc. Đêm qua nghe gió bấc thổi, tôi có một câu: “một đêm gió
bấc ào ào”, được hay không, tôi cũng chẳng cần.

Mọi người nhìn nhau cười
nói:

- Câu này tuy nôm na,
nhưng chưa nói hết ý. Đó chính là biết cách mở đầu bài thơ đấy. Không những
hay, mà còn để lại rất nhiều ý tứ cho người làm sau. Vậy cứ lấy câu này làm
đầu, Đạo Hương lão nông tiếp luôn đi.

Phượng Thư cùng thím Lý
và Bình Nhi lại uống hai chén rượu rồi đi.

Lý Hoàn viết:

Một đêm gió bấc ào
ào(1),

(1) Nguyên văn mỗi câu năm chữ. Muốn đọc dễ hiểu,
chúng tôi xin dịch ra thể lục bát.

Rồi đọc câu của mình:

Cửa ngoài còn thấy tuyết
giào giạt bay.

Thương thay thân trắng
bùn dây,

Hương Lăng:

Tiếc thay ngọc lại rắc
đầy khắp nơi.

Muốn cho cỏ héo lại
tươi,

Thám Xuân:

Còn như mầm lụa tưới
hoài công thôi.

Rượu quê giá đã lên rồi,

Lý Ỷ:

Được mùa kho thóc khá
dồi dào thay.

Gió lay ống sậy, gió
bay,

Lý Văn:

Giời kia ló mặt, sao này
quay chuôi.

Hàn sơn xanh đã kém mùi,

Nước chiều gặp lạnh đọng
rồi không dâng.

Trên cành liễu, bám lưng
chừng,

Tương Vân:

Chuối kia lá rách, đong
chăng được nào.

Đỉnh vàng mùi xạ ngạt
ngào,

Bảo Cầm:

Vạt tay áo lụa ủ vào kim
điêu.

Trước song sáng lấn
gương treo,

Đại Ngọc:

Mùi thơm quyện lẫn hạt
tiêu trên tường.

Vẫn còn ngọn gió tạt
ngang,

Bảo Ngọc:

Ai người tỉnh giấc mơ
màng là ai

Nơi nào tiếng sáo hoa
mai?

Bảo Thoa:

Nhà nào đương thổi mấy
bài ngọc tiêu?

Cua buồn trục đất sắp
xiêu,

Lý Hoàn cười nói:

- Để tôi đi xem rượu
nóng cho các chị thôi.

Bảo Thoa nhắc Bảo Cầm
đọc tiếp, Tương Vân đứng ngay lên đọc:

Đuổi nhau rồng đánh tan
vèo đám mây.

Chiếc thuyền bến nội về
đây,

Bảo Cầm:

Bá kiều roi trỏ chốn này
tặng thơ.

Áo cừu cho tướng nơi xa,

Tương Vân đâu có chịu
kém. Vả lại, không ai nhanh bằng cô ta, nên đều trừng mắt nhìn cô ta đọc:

Áo bông này thiếp gửi
đưa tới chàng.

Tổ xây kiến khéo lo
lường,

Bảo Thoa khen hay luôn
miệng, rồi đọc tiếp:

Cành kìa lá nọ xem
nhường lung lay.

Sáng trong nhẹ bước
đường mây,

Uốn lưng thoăn thoắt múa
may giữa trời.

Đòi khi trà đắng thưởng
chơi,

Đại Ngọc vừa đọc vừa đẩy
Bảo Ngọc bảo đọc tiếp. Bảo Ngọc đương mải nhìn Bảo Cầm, Bảo Thoa, Đại Ngọc hùa
nhau đấu với Tương Vân, rất lấy làm thú, còn nghĩ gì đến thơ nữa. Bây giờ bị
Đại Ngọc đẩy, mới đọc:

Rắc đầy hoa muối nhớ lời
ca xưa.

Câu buông, tơi khoác
trên bờ,

Bảo Cầm:

Tiếng tiêu văng vẳng
vọng qua rừng nào.

Voi quỳ nghìn ngọn núi
cao,

Tương Vân:

Một đường rắn lượn ngoằn
ngoèo đằng xa.

Hoa này lạnh mới chồi
hoa,

Bảo Thoa cùng mọi cười
đều khen hay. Thám Xuân đọc tiếp:

Màu này nào sợ sương sa
kém màu.

Trong nhà sẻ lạnh xôn
xao,

Tương Vân đương khát,
vội đi uống nước, bị Tụ Yên đọc cướp:

Cú già trên núi nghẹn
ngào buồn tênh.

Trên thềm lên xuống lượn
quanh,

Tương Vân vội vất chén
nước xuống, đọc luôn:

Nước ao mặc sức bập bềnh
khắp nơi.

Trong veo khi mới sáng
trời,

Đại Ngọc:

Đến đêm khuya lại tơi
bời bay cao.

Lòng thành biết lạnh đâu
nào.

Tương Vân:

Điềm lành sua nóng tan
vào từng mây.

Nằm khèo ai hỏi ta đây,

Bảo Cầm vội đọc:

Chơi ngông có bạn rủ
ngay đi cùng.

Dây lưng trắng đứt trên
không,

Lụa giao chợ bể chớ mong
sánh cùng.

Đại Ngọc ngắt ngay Tương
Vân:

Vẻ buồn che kín lầu
hồng,

Tương Vân đọc cướp:

Giỏ bầu nghèo xác nhớ
ông Nhan Hồi.

Bảo Cầm cũng không chịu
thua, đọc ngay:

Trà pha nước mới gần
sôi,

Tương Vân thấy thế, rất
lấy làm thú, vừa cười vừa đọc:

Lá tươi nấu rượu lá đời
nào khô?

Đại Ngọc cười đọc:

Chổi đâu sư muốn quét
chùa,

Bảo Cầm cười đọc:

Đàn vui đâu để trẻ khua
gậy tìm.

Tương Vân cười ngặt nghẽo,
định đọc luôn một câu.

Mọi người cười hỏi:

- Cô định đọc câu gì
đây?

Tương Vân đọc:

Hạc trên lầu đã ngủ yên,

Đại Ngọc ôm bụng cười
rồi đọc to:

Quen người, mèo cũng ủ
rền nệm nhung.

Bảo Cầm:

Trong trăng sóng bạc
trập trùng,

Tương Vân:

Thành mây thấp thoáng
vầng hồng trên cao.

Đại Ngọc:

Hương mai hãy nhấm xem
nào,

Bảo Thoa cười khen hay
rồi đọc:

Rượu pha nước trúc nhấp
vào càng say.

Bảo Cầm:

Uyên ương lưng ướt đầm
dây,

Tương Vân:

Kìa chim phỉ thúy dính
đầy cả đuôi.

Đại Ngọc

Tiếng đâu như gió thổi
ngoài,

Bảo Cầm:

Tiếng đâu sầm sập như
trời đổ mưa.

Tương Vân gục xuống,
cười rũ rượi. Mọi người thấy ba người này đối chọi nhau, không ai nghĩ đến làm
thơ, chỉ nhìn mà cười. Đại Ngọc lại giục Tương Vân đọc luôn nữa và bảo:

- Mày đến lúc tài cùng
lực kiệt rồi sao? Tao xem mày còn nỏ mồm nữa thôi?

Tương Vân cứ gục vào
lòng Bảo Thoa cười mãi. Bảo Thoa đẩy dậy, nói:

- Mày có giỏi gieo hết
cả vần nhị tiêu tao mới phục.

Tương Vân đứng dậy cười
nói:

- Không phải làm thơ
đâu, tôi đọc liều đấy thôi.

Mọi người cười nói:

- Chính là tự cô nói ra
đấy!

Thám Xuân nghĩ mình
không thể đọc chen vào chỗ nào được nữa, liền viết ra rồi nói:

- Chưa kết thúc đâu.

Lý Văn cầm lấy đọc một
câu:

Sớm nay hỏi đã vui chưa?

Lý Ỷ đọc kết một câu:

Mượn thơ để chúc Đường
Ngu thanh bình.

Lý Hoàn nói:

- Thôi đủ rồi! Tuy chưa
làm hết vần nhưng gò ép mãi, nặn thêm ra lại không hay.

Nói xong, mọi người lại
bình phẩm một lần nữa, có thơ Tương Vân là nhiều hơn. Họ đều cười nói:

- Đó là công lao của
miếng thịt hươu đấy.

Lý Hoàn cười nói:

- Cứ theo từng câu mà
cắt nghĩa, đều liền mạch cả, chỉ có Bảo Ngọc là hỏng thôi.

Bảo Ngọc cười nói:

- Tôi vốn không biết làm
thơ liên cú, phải nơi nới cho tôi mới được.

Lý Hoàn cười nói:

- Không lẽ lần nào họp
thi xã cũng nới cho chú, khi chú bảo vần khó, khi làm dở bài, n không biết làm
liên cú. Hôm nay nhất định tôi phải phạt chú. Tôi vừa trông thấy những cây hồng
mai trong am Lũng Thúy rất đẹp, muốn bẻ một cành để cắm lọ, nhưng tôi ghét Diệu
Ngọc, không muốn gặp cô ta. Bấy giờ chú phải đến đấy lấy một cành mang về
thưởng chơi.

Mọi người đều nói:

- Cách phạt này vừa nhã
lại vừa thú!

Bảo Ngọc thấy thế cũng
thích, nhận lời đi ngay. Tương Vân, Đại Ngọc đều nói:

- Ngoài ấy lạnh lắm, anh
uống một chén rượu nóng rồi hãy đi.

Lúc đó Tương Vân đã hâm
sẵn bình rượu rồi. Đại Ngọc cầm lên rót đầy một chén lớn. Tương Vân cười nói:

- Anh uống chén rượu này
của chúng tôi, nếu không lấy được hoa về, sẽ lại phạt thêm!

Bảo Ngọc uống ngay một
chén, rồi đi ra ngoài tuyết.

Lý Hoàn sai người đi
theo. Đại Ngọc ngăn lại nói:

- Không cần. Có người
nữa đi theo sẽ không lấy được hoa đâu.

Lý Hoàn gật đầu nói:
“Phải đấy”.

Rồi sai a hoàn mang đến
một cái bình vẽ một mỹ nhân nhún vai, đổ nước vào để chờ cắm cành mai, lại cười
nói:

- Nếu mang về, ta phải
làm bài thơ vịnh hồng mai mới được

Tương Vân nói:

- Tôi làm trước một bài.

Bảo Thoa cười nói:

- Hôm nay không cho cô
làm nữa! Cô cướp mất cả để người khác ngồi không thì chẳng có thú gì. Khi nào
Bảo Ngọc về sẽ bắt phạt cậu ta cứ nói là không biết liên cú. Đã vậy bắt cậu ta
phải làm bài thơ này.

Đại Ngọc cười nói:

- Phải lắm. Tôi không có
ý định ấy. Những người vừa rồi không liên cú được nhiều, bây giờ phải làm thơ
hồng mai.

Bảo Thoa cười nói:

- Phải lắm. Vừa rồi các
cô Hình, cô Lý không được thi tài, và lại là khách. Cô Cầm, cô Tần và cô Vân
làm tranh mất nhiều, chúng ta không ai nên làm nữa, cứ để cho các cô ấy làm mới
phải.

Lý Hoàn nói:

- Cô Ỷ không quen làm th
lắm, nên để cho em Cầm làm thôi.

Bảo Thoa đành phải nhận
lời, rồi nói:

- Thế thì dùng ba chữ
“hồng mai hoa” làm vận, mỗi người làm một bài thất ngôn: cô Hình làm vần
“hồng”, cô Lý làm vần “mai” cô Cầm làm vần “hoa”.

Lý Hoàn nói:

- Nếu tha cho Bảo Ngọc,
tôi không phục.

Tương Vân nói:

- Có một đầu bài hay
lắm, bắt anh ấy làm.

Mọi người hỏi: “Đầu bài
gì?”

Tương Vân nói:

- Bắt anh ấy làm bài thơ
“Đến thăm Diệu Ngọc xin cành hồng mai”, như thế chẳng thú lắm hay sao?

Mọi người đều nói: “Thú
đấy!”

Nói chưa dứt lời thì Bảo
Ngọc hớn hở cầm cành hồng mai về. Bọn a hoàn vội ra đỡ lấy cắm vào lọ, mọi
người đều đến ngắm nghía. Bảo Ngọc cười nói:

- Bây giờ chị em thưởng
ngoạn đi, không biết mất bao nhiêu hơi sức mới xin được đấy!

Thám Xuân đã mang một
cốc rượu ấm đến. Bọn a hoàn đi lấy nón, áo tơi rồi đập tuyết đi. Người hầu ở
các nhà đều mang thêm quần áo đến. Tập Nhân cũng sai người mang cái áo khoác da
cáo còn rung rúc đến. Lý Hoàn sai người mang một khay khoai luộc, hai mâm cam,
quất và trám đưa cho Tập Nhân. Tương Vân nói lại cho Bảo Ngọc biết đầu bài thơ
vừa rồi, và giục làm ngay, Bảo Ngọc nói:

- Xin các chị em đừng
hạn vần, để tôi chọn lấy.

Mọi người đều nói:

- Anh muốn làm vần nào
thì làm.

Mọi người vừa nói, vừa
ngắm cành mai. Cành cao gần hai thước, bên cạnh có một nhánh đâm ngang dài độ
hai, ba thước. Nhánh ấy lại có nhiều nhánh nhỏ đâm ra, nhánh như ly cuộn tròn,
nhánh như giun nằm thẳng, nhánh khẳng khiu như cái bút, nhánh rườm rà như rừng
cây. Thật là hoa khoe son phấn, hương lấn huệ lan. Mọi người xem đều khen ngợi.
Ngờ đâu Tụ Yên, Lý Văn, Bảo Cầm đã làm xong thơ, viết ra cả rồi. Mọi người theo
thứ tự xem chữ hồng, chữ mai, chữ hoa. Đầu tiên là bài Hồng mai hoa của Hình Tụ
Yên.

Kìa đào kia hạnh chửa
đâm bông.

Mai đã ngoài sương cợt
gió đông,

Đại Dĩu(2) hồn bay xuân
khó biết,

(2) Núi Đại Dĩu cao tuyệt vời có nhiều hồng mại và
bạch mai.

La Phù(3) ráng phủ mộng
chưa thông.

(3) Cát Hồng đời Tấn tu tiên ở núi này.

Cuống xanh đuốc rợi tô
màu đẹp,

Rượu choáng tiên dìu
vượt quãng không.

Nhìn kỹ sắc này hồ dễ
có,

Ở hàng băng tuyết nhạt
pha nồng.

Lý Văn:

Bạch mai biếng vịnh,
vịnh hồng mai,

Đón khách say hoa, trổ
mọi tài.

Mặt lạnh nổi hằn dây
những máu,

Lòng chua thành bụt giận
gì ai.

Uống nhầm viên thuốc
xương thay hẳn,

Ăn trộm đào tiên kiếp
đổi rồi.

Giang Bắc, Giang Nam
xuân chói lọi,

Bướm ong thôi chớ đắn đo
hoài.

Bảo Cầm:

Cành lá lơ thơ hoa chói
màu,

Chị em trang điểm khéo
đua nhau.

Cửa cong sân vắng trời
tan tuyết,

Nước chảy non cao ráng
dọi đầu,

Mộng kín lạnh lùng vang
sáo ngọc,

Chèo tiên ngào ngạt lướt
sông Ngâu.

Dao đài kiếp trước là ai
đấy,

Sắc tướng này xem có
khác đâu.

Mọi người xem xong, đều
cười khen ngợi và cho bài cuối cùng hay hơn. Bảo Ngọc thấy Bảo Cầm trẻ hơn cả
lại có tài nhanh nhẹn. Đại Ngọc, Tương Vân mỗi người rót một chén rượu nhỏ mừng
Bảo Cầm, Bảo Thoa cười nói:

- Cả ba bài đều có câu
hay. Ngày thường các chị trêu tôi chán rồi, bây giờ lại trêu đến em nó.

Lý Hoàn lại hỏi Bảo
Ngọc:

- Chú đã làm xong thơ
chưa?

Bảo Ngọc vội nói:

- Tôi đã làm xong rồi,
nhưng khi xem ba bài này lại sợ quá quên mất cả. Để tôi nghĩ lại x

Tương Vân nghe nói, liền
cầm cái đũa đồng gõ vào ***g ấp cười nói:

- Tôi gõ hết hồi mà anh
không làm xong thì lại phải phạt đấy.

Bảo Ngọc cười nói:

- Tôi có thơ rồi.

Đại Ngọc cầm bút cười
nói:

- Anh đọc đi, em viết
hộ.

Tương Vân gõ một cái,
cười nói:

- Thế là hết một hồi
rồi.

Bảo Ngọc cười nói:

- Có thơ rồi, em viết
đi.

Mọi người nghe Bảo Ngọc
đọc:

Thơ chửa làm xong rượu
chửa mời.

Đại Ngọc viết rồi lắc
đầu cười nói:

- Câu mở đầu thường lắm.

Tương Vân lại nói:

- Đọc nhanh lên!

Bảo Ngọc cười đọc:

Tìm xuân, hỏi chạp tới
bồng lai.

Đại Ngọc, Tương Vân đều
gật đầu cười nói:

- Cũng hơi có tứ đấy.

Bảo Ngọc lại đọc:

Cần chi Đại Sĩ lưng bình
móc,

Xin hẳn Sương Nga một
nhánh mai.

Đại Ngọc viết rồi lấc
đầu nói:

- Chỉ khéo vặt đấy thôi.

Tương Vân lại gõ một
cái, Bảo Ngọc cười đọc:

Gạt tuyết đỏ đi đời bớt
lạnh,

Kéo mây tía xuống bụi
thêm mùi.

Nhà thơ ai tiếc thân gầy
guộc,

Áo dính đầy rêu trước
phật đài.

Đại Ngọc viết xong,
Tương Vân đương bàn thơ, thấy mấy a hoàn chạy đến nói:

- Cụ đến đấy!

Mọi người vội ra đón,
cười nói:

- Sao người cao hứng
thế?

Nói xong, trông đằng xa
thấy Giả mẫu khoác áo che tuyết đội mũ bằng lông chuột, ngồi trên kiệu nhỏ, che
dù xanh, bọn Hổ Phách, Uyên Ương và năm sáu a hoàn, cầm dù đỡ kiệu đi đến. Bọn
Lý Hoàn vội chạy ra đón. Giả mẫu bảo họ đứng lại, nói:

- Thôi, các cháu cứ đứng
ở đấy được rồi.

Giả mẫu xuống kiệu cười
nói:

- Ta trốn mẹ mày và cháu
Phượng đến đây. Tuyết xuống nhiều, ta ngồi kiệu không sao, chứ không nên để cho
mẹ con nó phải dầm tuyết.

Mọi người vâng dạ, đều
cầm lấy áo tơi và đỡ Giả mẫu xuống.

Giả mẫu vào trong nhà,
cười nói:

- Hoa mai đẹp nhỉ! Các
cháu chỉ biết vui lấy một mình ta không tha cho đâu!

Lý Hoàn sai người lấy
một cái nệm da chó sói đến trải giữa. Giả mẫu ngồi xuống cười nói:

- Các cháu cứ việc chơi
đùa ăn uống. Mùa này ngày ngắn, ta không muốn ngủ trưa. Đánh một hồi bài, chợt
nghĩ đến các cháu, nên ta lại đây để góp vui.

Lý Hoàn lại mang cái
***g ấp đến. Thám Xuân lấy riêng đũa chén, rót rượu ấm mời Giả mẫu. Giả mẫu
uống một hớp, hỏi:

- Ở mâm kia có những thứ
gì đấy?

Mọi người liền bưng lại,
nói:

- Đây là món gà gô om
rượu.

Giả mẫu nói:

- Được rồi, xé một miếng
đùi mang lại đây.

Lý Hoàn vâng lời đi rửa
tay, xé một miếng mang đến.

Giả mẫu nói:

- Các cháu cứ ngồi
xuống, coi như ta không đến đây mới được, nếu không ta sẽ về ngay.

Mọi người nghe nói, mới
theo thứ tự ngồi xuống. Lý Hoàn ngồi ở tận bên dưới. Giả mẫu hỏi:

- Các cháu chơi gì đấy?

- Chúng cháu đang làm
thơ.

- Làm thơ chẳng bằng làm
mấy câu đố để ra giêng chơi.

Mọi người vâng lời.

Cười nói một lúc, Giả
mẫu nói:

- Chỗ này ẩm ướt, các
cháu đừng ngồi lâu, sợ bị cảm lạnh. Nhà cháu Tư ấm hơn, chúng ta đến xem bức vẽ
của nó xem cuối năm liệu có xong được không.

Mọi người cười nói:

- Cuối năm nay xong thế
nào được? Có lẽ đến tiết đoan ngọ sang năm mới xong.

- Như thế sao được? Thật
lại tốn công hơn là làm cái vườn này.

Nói xong, Giả mẫu ngồi
vào kiệu, mọi người đi theo, qua Ngẫu Hương tạ, đi vào một con đường hẹp, hai
bên đông tây đều là cửa đi ra phố, trên cửa lầu, trong ngoài đều có biển đá. Đi
vào cửa tây, có biển phía ngoài khắc hai chữ xuyên vân, biển bên trong khắc hai
chữ độ nguyệt. Lên đến thềm, vào cửa giữa hướng nam, Giả mẫu xuống kiệu. Tích
Xuân ra đón. Đi qua dãy hành lang, đến buồng ngủ Tích Xuân. Dưới mái treo cái
biển có chữ Noãn Hương ổ, đã có mấy người đứng mở bức rèm da vượn màu đỏ, hơi
ấm bốc ngay lên mặt.

Mọi người vào trong nhà,
Giả mẫu không ngồi, hỏi ngay Tích Xuân:

- Vẽ đến đâu rồi?

- Trời lạnh lắm, keo rắn
lại không chảy, sợ vẽ không đẹp nên cháu phải cất đi.

- Cuối năm nay thế nào
cũng phải xong, cháu đừng giở lối lười ra; hãy mang ra vẽ đi cho ta.

Nói chưa dứt lời, thấy
Phượng Thư mặc áo nhung màu tía, cười hì hì đi vào, nói:

- Hôm nay bà lẻn đi một
mình, chẳng nói cho ai biết, làm cháu phải đi tìm mãi!

Giả mẫu thấy Phượng Thư,
trong bụng mừng lắm, nói

- Ta sợ cháu rét, nên
không cho cháu biết. Cháu thật là con ma khôn, cũng biết tìm đến đây. Cứ lý ra
có phải hiếu kính ở chỗ ấy đâu.

Phượng Thư cười nói:

- Có phải là cháu hiếu
kính mà đi tìm bà đâu? Vì cháu đến đó, thấy im lặng như tờ, hỏi bọn hầu nhỏ,
chúng không chịu bảo, cháu đành phải vào vườn tìm. Đương lúc nghi hoặc thấy có
hai sư cô đến, cháu mới hiểu là các sư cô chắc lại đến đòi tiền sớ hay tiền
hương đèn hàng năm gì chăng, chả vì cứ cuối năm là bà tiêu nhiều, nên phải đi
trốn nợ. Cháu hỏi sư cô, quả thế thật. Cháu đã giả tiền lễ hàng năm cho họ về
rồi. Thế là chủ nợ đã đi bà không cần phải trốn nữa. Cháu đã nấu sẵn gà gô non,
mời bà về xơi cơm chiều, nếu để chậm sợ quá lửa mất.

Phượng Thư nói một câu
làm mọi người lại cười ầm lên.

Phượng Thư không chờ Giả
mẫu trả lời, cứ sai người khiêng kiệu đến. Giả mẫu cười, vịn tay Phượng Thư
bước lên kiệu, dẫn mọi người, cười nói ra đến cửa Đông, nhìn lên xem bốn mặt
đều trắng xóa như trát phấn, dát bạc. Trông thấy Bảo Cầm mặc áo cừu thêu đàn
le, đang đứng đợi ở sau sườn núi, sau lưng có một a hoàn, bưng cái lọ cắm cành
hồng mai. Mọi người đều cười nói:

- Thảo nào thiếu hai
người, thì ra họ đến chờ ở đây, lại cũng đi kiếm hoa mai rồi!

Giả mẫu mừng quá, cười
nói:

- Các cháu hãy nhìn xem,
trên sườn núi tuyết này, có dáng người như thế, ăn mặc quần áo như thế, đằng
sau lại có hoa mai như thế liệu giống cái gì?

Mọi người đều cười nói:

- Giống bức tranh Diễm
tuyết đồ của Cừu Thập Châu(4) treo ở nhà cụ.

(4) Ông tên là Cửu Anh, người quận Thái Thương, nhà
Minh, có tài vẽ, nhất là vẽ nữ sĩ, thì thần thái rất sinh động.

Giả mẫu lắc đầu, cười
nói:

- Bức vẽ ấy đâu có quần
áo như thế này? Người cũng không được đẹp như thế!

Nói chưa dứt lời, thấy
phía sau Bảo Cầm có một người mặc áo da vượn màu đỏ đi đến. Giả mẫu hỏi:

- Lại cô ả nào nữa đấy?

- Chúng cháu ở đây cả,
chắc là cậu Bảo Ngọc.

- Ta càng ngày càng sinh
lóa mắt.

Hai người đi đến, chính
là Bảo Ngọc và Bảo Cầm. Bảo Ngọc cười bảo bọn Bảo Thoa, Đại Ngọc:

- Tôi vừa đến am Lũng
Thúy, cô Diệu Ngọc gửi biếu chị em mỗi người cành mai, tôi đã sai người đưa đến
nhà rồi.

Mọi người đều cười nói:

- Cám ơn cậu có lòng
nghĩ đến chúng tôi.

Mọi người ra khỏi cửa
vườn, đến buồng Giả mẫu. Ăn cơm xong, lại chuyện trò một lúc. Chợt thấy Tiết
phu nhân đến, nói:

- Tuyết xuống nhiều quá!
Suốt ngày không đến thăm cụ được. Hôm nay sao người không cao hứng? Đáng lẽ
người nên đi thưởng tuyết mới phải.

Giả mẫu

- Sao lại không cao
hứng? Tôi đã đến chỗ chị em chúng nó thưởng tuyết một lúc rồi.

Tiết phu nhân cười nói:

- Chiều hôm qua tôi định
đến mượn dì nó cái vườn một ngày, bày vài bàn rượu, mời cụ hôm nay đến đó
thưởng tuyết. Nhưng thấy người đã đi nghỉ rồi, tôi lại nghe cháu Bảo nói là
người không được khoan khoái. Vì thế tôi không dám quấy rầy. Nếu biết thế này,
tôi phải đến mời người mới phải.

Giả mẫu cười nói:

- Bây giờ là tháng mười
mới bắt đầu có tuyết, sau này còn nhiều, sẽ còn làm phiền đến bà dì, lúc ấy
cũng chưa muộn.

Tiết phu nhân cười nói:

- Được như vậy cũng bõ
lòng thành kính của tôi.

Phượng Thư cười nói:

- Chỉ sợ dì lại quên
chăng? Chi bằng bây giờ dì cân ngay năm mươi lạng bạc giao cho cháu, khi nào có
tuyết, cháu sẽ sắm sửa tiệc rượu. Như thế, người không phải để ý đến và cũng
không quên được nữa.

Giả mẫu cười nói:

- Đã vậy bà dì cứ giao
hẳn cho nó năm mươi lạng và nó sẽ chia đôi mỗi người một nửa. Hôm nào có tuyết,
tôi giả cách người khó ở để lấp liếm cho xong chuyện. Như thế bà dì không phải
bận lòng, mà tôi và cháu Phượng sẽ được hưởng món lộc đó.

Phượng Thư vỗ tay cười
nói:

- Hay lắm! Bà nói rất
hợp ý cháu.

Mọi trời đều cười.

Giả mẫu cười nói:

- Hừ! Không biết xấu! Cứ
định nhờ bão bẻ măng. Sao mày chẳng nói: bà dì là khách, đến ở nhà ta, chúng ta
nên bày tiệc mời bà dì mới phải, lẽ nào để bà dì tốn tiền! Mày lại còn giở mặt
ra đòi bà dì năm mươi lạng bạc, thật không biết xấu hổ!

Phượng Thư cười nói:

- Bà tinh lắm, cháu mới
nói thử đấy thôi. Nếu bà dì nhẹ dạ bỏ ra năm mươi lạng bạc, bà sẽ chia ngay cho
cháu đấy. Bây giờ bà đắn đo biết là không ăn thua gì, nên trở mặt đem cháu ra
làm bung xung, nói những câu ra vẻ đứng đắn. Thế thì bây giờ cháu cũng không
lấy bạc của bà dì nữa, cháu sẽ ứng tiền ra làm tiệc rượu mời bà đến ăn, rồi lại
gói thêm năm mươi lạng bạc nữa đem biếu bà, coi như bà phạt cháu hay ôm đồm
những việc không đâu. có được không?

Mọi người nghe nói cười
lăn ra.

Nhân nói tới việc Bảo
Cầm bẻ cành mai dưới tuyết, đẹp hơn trong tranh, Giả mẫu lại hỏi tỉ mỉ về ngày
sinh tháng đẻ cùng tình cảnh gia đình của Bảo Cầm. Tiết phu nhân biết ý, có lẽ
lại muốn dạm hỏi cho Bảo Ngọc đây, trong bụng cũng rất vui, nhưng đã trót hẹn
gả cho nhà họ Mai rồi; vì Giả mẫu chưa nói rõ, nên tự mình cũng không tiện nói
ra, cứ nửa kín nửa hở nói với Giả mẫu:

- Tiếc rằng cháu nó kém
phúc! Cha cháu mất năm trước rồi. Từ bé cháu vất vả nhiều, theo cha đi khắp đó
đây, hễ nó buôn bán ở đâu là đem gia quyến đi theo. Năm nay chơi tỉnh này một
năm, sang năm chơi tỉnh khác mấy tháng, vì thế trong nước mười phần cháu đi tới
năm sáu. Mấy năm trước đây, cha cháu đã hứa gả cháu cho con quan hàn lâm họ
Mai. Năm sau cha cháu mất, rồi mẹ cháu lại bị bệnh suyễn…

Chưa chờ dứt câu, Phượng
Thư đã thở dài giậm chân nói:

- Thực không may! Tôi
đang định làm mối cho cô ấy, đã lại nhận lời người khác mất rồi!

Giả mẫu cười hỏi:

- Cháu muốn làm mối cho
ai?

- Bà không cần phải nghĩ
nữa. Trong bụng cháu đã nhằm sẵn rồi. Hai người ấy xứng đôi lắm. Nhưng bây giờ
đã có người khác hỏi, nói cũng vô ích, thà chẳng nêu ra cho xong.

Giả mẫu cũng biết ý
Phượng Thư, thấy đã gả cho người khác nên không nói nữa. Mọi người lại nói
chuyện phiếm một lúc mới về.

Hôm sau tạnh tuyết. Ăn
cơm xong, Giả mẫu lại dặn Tích Xuân:

- Bất cứ lạnh hay ấm,
cháu phải vẽ đi, cuối năm chưa xong cũng được. Có điều cần nhất là cháu phải
theo đúng cảnh Bảo Cầm cùng a hoàn và hoa mai, mà vẽ thêm vào đấy.

Biết là khó, Tích Xuân
cũng vẫn phải nhận lời. Một lúc, mọi người đến xem, thấy Tích Xuân đang ngồi
thừ người ra. Lý Hoàn cười bảo mọi người:

- Chúng ta hãy nói
chuyện với nhau, để cho cô ấy nghĩ. Hôm nọ cụ bảo phải làm mấy bài thơ đố đèn,
về đến nhà không ngủ được, tôi đã đặt hai câu đố về “Tứ thư”. Còn cô Ỷ và cô
Văn mỗi người cùng đặt hai câu.

Mọi người đều cười nói:
“Cái đó cần phải làm. Chị hãy nói trước để chúng tôi đoán”.

Lý Hoàn cười đọc:

- Quan âm vị hữu thế gia
truyền(5), đố một câ trong “Tứ thư”.

(5) Đây là câu đố, chưa rõ nghĩa là gì.

Tương Vân liền đọc câu:

- Tại chỉ ư chí thiện(6)

(6) Chữ ở sách Đại học, nghĩa là cốt ở chỗ làm điều
lành.

Bảo Thoa cười nói:

- Cô hãy nghĩ nghĩa ba
chữ thế gia truyền đã rồi hãy đoán.

Lý Hoàn cười nói:

- Nghĩ nữa đi.

Đại Ngọc cười nói:

- Tôi đoán nhé. Có phải
là câu “tuy thiện vô trưng”(7) hay không?

(7) Chữ trong sách Trung dung. Nghĩa là: tuy làm điều
lành nhưng không có báo ứng.

Mọi người đều cười nói:

- Câu ấy phải đấy.

Lý Hoàn lại đọc:

- Cỏ xanh ao nọ gọi tên
gì?

Tương Vân nói:

- Nhất định là “lau sậy”
có đúng không?

- Cô đoán tài đấy. Còn
câu của cô Văn là “Nước trôi bên đá dòng càng lạnh”, đố tên một người xưa.

Thám Xuân cười hỏi:

- Có phải là Sơn Đào(8)
không?

(8) Sơn Đào người đời Tấn. Theo nghĩa chữ Hán, “sơn”
là núi, “đào” là sóng. Có nghĩa là nước ở trong núi. Đúng với nghĩa câu đố
“nước ở bên đá chảy ra”.

- Đúng đấy.

Lý Hoàn lại nói:

- Câu đố của cô Ỷ là một
chữ “huỳnh” (đom đóm), đoán ra một chữ.

Mọi người đoán một lúc,
Bảo Cầm nói:

- Chữ này ý tứ rất sâu.
Không biết có phải chữ “hoa” là hoa cỏ không(9)?

(9) Theo chữ Hán, chữ “hoa” trên là bộ “thảo”, dưới là
chữ “hóa”. Tục truyền giống đom đóm là do cỏ mục hóa ra, tức là chữ “thảo” và
chữ “hóa”, cho nên đố chữ “huỳnh”, đoán chữ “hoa” là đúng.

Lý Ỷ cười nói: “Phải
đấy”.

Mọi người hỏi: “Đom đóm
với hoa có liên can gì với nhau?”

Đại Ngọc cười nói:

- Hay lắm! Đom đóm không
phải là cỏ hóa ra à?

Mọi người hiểu ý, đều
cười nói: “hay”

Bảo Thoa nói:

- Những câu này tuy hay
đấy, nhưng không hợp với ý cụ. Chi bằng chúng ta tìm những vật gần gũi dễ trông
thấy để người nhã hay người tục đều thưởng thức được cả mới vui.

Mọi người đều nói

- Cũng nên làm câu đố
những vật gì gần gũi dễ thấy mới phải.

Tương Vân nghĩ một lúc,
cười nói:

- Tôi đặt một khúc hát
“điểm giáng thần”(10) thật là một vật tục, các chị thử đoán xem. - Nói xong
liền đọc:

(10) Tên điệu hát.

Suối khe nỡ bỏ mà đi,

Bụi hồng nào có thú gì
mà chơi?

Hão huyền danh lợi một
đời.

“Việc sau” thôi thế thì
thôi còn gì.

Mọi người đều không
hiểu, nghĩ một lúc, có người đoán là ông sư, có người đoán là đạo sĩ, có người
đoán là con rối. Bảo Cầm cười một lúc rồi nói:

- Không đúng cả. Tôi
đoán trúng rồi, nhất định là con khỉ nuôi để làm trò chơi.

Tương Vân cười nói:
“Đúng đấy”.

Mọi người nói:

- Câu đầu đúng, nhưng
câu cuối cùng cắt nghĩa thế nào?

Tương Vân nói:

- Con khỉ nào để chơi mà
chẳng chặt đuôi?

Mọi người đều cười nói:

- Nó đặt câu đố cũng lắt
léo kỳ quái quá!

Lý Hoàn nói:

- Hôm qua bà dì nhân nói
cô Cầm trải đời nhiều, đi đây đi đó cũng nhiều, cô cần phải làm câu đố. Vả
chăng làm thơ cô lại hay, tại sao không biên mấy câu đố để cho chúng tôi đoán?

Bảo Cầm nghe nói, gật
đầu mỉm cười, đang nghĩ. Bỗng Bảo Thoa đọc ngay một bài:

Gỗ đàn gỗ tử chạm trồng
lên.

Thợ giỏi nào đây xếp đặt
nên?

Mưa gió lưng trời dù tạt
lại.

Chùa đâu nghe được tiếng
chuông rền?

(Là một vật gì?)

Mọi người đang đoán, Bảo
Ngọc cũng lại đọc một bài:

Tiên tục hai nơi khéo
viển vô

Ngọc đâu hòa nhịp vẳng
trên không.

Tiếng loan tin hạc nghe
cho kỹ.

Cũng thở than đi đáp tấm
lòng.

Đại Ngọc cũng đọc một
bài:

Ngựa tốt cần chi phải
buộc thừng?

Lên thành xuống trại
dáng hung hăng,

Gió mây chuyển động tùy
tay chủ,

Núi cưỡi lưng ngao cũng
khó bằng.

Thám Xuân cũng có một
bài, định đọc, thì Bảo Cầm chạy đến cười nói:

- Từ bé tôi đã đi nhiều
nơi, đã xem nhiều cổ tích. Tôi chọn mười nơi, làm ra mười bài hoài cổ. Thơ tuy
quê, nhưng ghi lại được việc trước, và ám chỉ được mười vật thường trông thấy,
các chị thử đoán xem.

Mọi người nghe xong, đều
nói:

- Thế càng hay lắm. Sao
không viết ra cho chị em xem?

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3