Hồng lâu mộng - Chương 036

Chương 36: Hồi thứ ba
mươi sáu

Thêu bức uyên ương, hiên
Giáng Vân mộng lành báo trước

Ngẫm đường tình phận, viện
Lê Hương duyên đẹp định rồi

Giả mẫu từ khi ở buồng
Vương phu nhân về, thấy Bảo Ngọc mỗi ngày một khá, trong bụng rất vui mừng.
Nhưng sợ Giả Chính lại gọi chăng, liền sai người đi gọi đứa hầu cận Giả Chính
đến bảo:

- Từ giờ trở đi, có
khách nào ông mày muốn gọi Bảo Ngọc đến tiếp, thì không được gọi, hãy trình với
ông mày rằng: tao bảo một là Bảo Ngọc bị đánh đau, phải chăm nuôi mới đi lại
được; hai là năm nay nó có sao hạn chiếu mệnh, phải cúng sao, kiêng không tiếp
người lạ. Đến hết tháng tám mới được ra ngoài.

Tên hầu cận vâng lời đi
ra. Giả mẫu lại gọi vú Lý và Tập Nhân về kể lại nhưng câu ấy cho Bảo Ngọc nghe,
để Bảo Ngọc yên lòng.

Bảo Ngọc xưa nay vẫn
không thích tiếp chuyện với bọn quan lại đàn ông, lại rất ghét nhưng lúc phải
mũ áo xúng xính đi mừng đi thăm các nơi. Bây giờ được bà bảo thế, càng đắc ý,
không những từ khước tất cả họ hàng bè bạn, mà ngay trong gia đình, muốn đến
thăm cha mẹ hay không là tùy ý. Ngày chỉ nằm ngồi chơi đùa trong vườn, mỗi buổi
sáng sang thăm bà và mẹ một lần, rồi về nhà, suốt ngày thích để cho đám a hoàn
sai vặt, lại cho là thú tiêu khiển của mình. Bọn Bảo Thoa có lựa lời khuyên
ngăn, thì cáu kỉnh nói: “Các cô là hạng con gái trong sạch, mà cũng học lối mua
chuộng hư danh, theo hùa với bọn giặc nước và bọn quỷ ăn lộc. Đó chẳng qua là
tại người xưa ngồi rỗi bày trò, cố ý bịa đặt, để cám dỗ bọn râu mày ô trọc đời
sau. Ta không ngờ sinh gặp lúc không may, đến cả chị em trong lầu son gác tía
cũng lây phải thói xấu ấy, thực là phụ cái ơn chung đúc khí thiêng liêng của
trời đất!”

Mọi người thấy thế, cũng
không khuyên can nữa. Chỉ có Đại Ngọc từ bé đến giờ không hề hé miệng khuyên
chuyện lập công danh để hiển dương cha mẹ gì cả, vì thế Bảo Ngọc rất kính phục
Đại Ngọc.

Sau khi Kim Xuyến chết,
có mấy người đầy tớ thường đến hỏi thăm, hầu hạ Phượng Thư và biếu xén các thứ,
trong bụng Phượng Thư đâm ngờ, không biết ý họ thế nào. Hôm ấy lại có người đem
đồ lễ đến biếu. Nhân buổi chiều không có ai, Phượng Thư cười hỏi Bình Nhi. Bình
Nhi cười nhạt:

- Thế mà mợ cũng không
nghĩ ra à? Tôi đoán những người thường đi lại biếu xén mợ, đều có con làm a
hoàn cho bà Hai cả. Hiện giờ trong nhà bà Hai có bốn đứa con lớn, mỗi đứa mỗi
tháng được lĩnh một lạng bạc, ngoài ra những đứa khác chỉ được có mấy trăm đồng
thôi. Nay Kim Xuyến chết rồi, chắc họ muốn dòm ngó cái số một lạng bạc chứ gì?

Phượng Thư cười nói:

- Phải đấy, em nhắc chị
mới nhớ ra. Nhưng mà họ không biết điều tí nào. Tiền muốn nhiều, việc khó nhọc
lại không muốn gánh. Giá họ biết thân biết phận, được đưa con vào hầu hạ ở đây,
đã là quá lắm rồi, lại còn nghĩ đến chuyện ấy nữa à? Thôi được, tiền của họ có
phải dễ dàng đưa đến ta tiêu đâu. Đó là tự họ mang đến, vậy thì họ biếu cái gì
ta cứ nhận, còn ta đã có chủ ý.

Phượng Thư định bụng như
thế, nên cứ để dằng dai mãi, chờ khi nào mọi người biếu đủ cả, mới lựa dịp

Buổi trưa hôm ấy, Tiết
phu nhân, Bảo Thoa, Đại Ngọc đương ngồi cả ở buồng Vương phu nhân ăn dưa.
Phượng Thư nhân dịp liền trình:

- Từ khi Kim Xuyến chết,
mẹ thiếu một người hầu, giờ người định cho a hoàn nào thay, xin cho biết để cuối
tháng sẽ phát lương cho nó.

Vương phu nhân nghĩ một
lúc rồi nói:

- Cứ ý ta thì có lệ đâu
lại nhất thiết cứ phải bốn hay năm người? Cốt đủ người sai là được, thừa thì
nên bớt đi.

Phượng Thư cười nói:

- Cứ lẽ ra thì mẹ nói
rất phải, nhưng đó là theo lệ cũ. Nhà người khác còn có hai người hầu nữa là
nhà mẹ mà lại không theo đúng lệ ư! Vả chăng bớt đi một lạng bạc cũng chả là
mấy.

Vương phu nhân nghĩ một
lúc rồi nói:

- Thôi được, cái số tiền
ấy cứ chi lại đây, không cần phải lấy thêm người nữa, ta sẽ cho em nó là Ngọc
Xuyến. Con chị nó đã hầu ta bao lâu, mà chẳng được cái gì, bây giờ con em theo
hầu ta, cho nó ăn hai phần tiền cũng chẳng lấy gì làm quá đáng.

Phượng Thư vâng lời,
quay lại nhìn Ngọc Xuyến cười nói: “Mừng em nhé!”

Ngọc Xuyến đến cúi đầu
tạ ơn.

Vương phu nhân lại hỏi
Phượng Thư:

- Tôi muốn hỏi chị: hiện
giờ lương dì Triệu và dì Chu mỗi tháng bao
nhiêu?

- Đã có lệ rồi, mỗi
người hai lạng, dì Triệu lại còn có hai lạng tiền lương của em Hoàn, cộng là
bốn lạng, ngoài ra còn có bốn quan tiền nữa.

- Tháng nào chị cũng
phát đủ số đấy chứ?

Phượng Thư thấy câu hỏi
hơi lạ, liền nói:

- Sao lại không đủ?

- Hôm nọ nghe đâu có
người ta thán rằng dì ấy bị bớt một quan tiền lương, thế là vì cớ gì?

- Nguyên trước tiền
lương bọn a hoàn hầu các dì ấy, mỗi người được một quan, không biết năm ngoái ở
bên ngoài họ bàn bạc thế nào lại bớt mất một nửa, thành ra tiền lương của bọn a
hoàn hầu các dì ấy chỉ còn mỗi người có năm trăm đồng thôi. Mỗi dì có hai a
hoàn, phải bớt đi một quan. Thực ra việc này không phải tự con. Con vẫn muốn
phát đủ, nhưng từ bên ngoài người ta khấu đi mất rồi, chả lẽ con xuất tiền
lương ra bù sao! Con chẳng qua là người đ mà thôi. Thu bao nhiêu phát bấy
nhiêu, con có được làm chủ đâu. Con đã nói hai ba lần, nên để số lương như cũ
là phải; nhưng họ bảo chỉ có chừng ấy thôi, vì vậy con không thể nói lại được
nữa. Hiện giờ chính tay con phát lương cho họ, phát đúng ngày đúng tháng. Trước
kia họ lĩnh ở bên ngoài, tháng nào cũng rắc rối, có bao giờ được trôi chảy như
thế này đâu.

Vương phu nhân nghe nói,
nín một lúc rồi hỏi:

- Thế thì trong nhà cụ
có mấy người được ăn lương một lạng?

- Tám người, nhưng bây
giờ còn có bảy thôi, vì trừ Tập Nhân.

- Thế thì phải đấy.
Trong nhà em Bảo không có a hoàn nào được ăn lương một lạng cả. Tập Nhân vẫn
chỉ coi như người hầu của cụ thôi.

- Tập Nhân vẫn là người
hầu của cụ cho sang ở tạm bên nhà chú Bảo, tiền lương của cô ta vẫn phải lĩnh
với bọn a hoàn của cụ. Bây giờ bảo Tập Nhân là người hầu của Bảo Ngọc mà bớt
một lạng tiền lương bên cụ đi thì không thể được. Phải thêm một người hầu nữa
cho cụ mới có thể bớt được. Nếu không bớt, thì lại phải thêm một người hầu nữa
cho em Hoàn, như thế mới công bằng. Trừ bảy a hoàn lớn là bọn Tình Văn, Xạ
Nguyệt mỗi người mỗi tháng một quan tiền ra, còn tám a hoàn nhỏ là bọn Giai
Huệ, cũng chỉ mỗi người mỗi tháng năm trăm đồng tiền thôi, đó là lệnh của cụ,
còn ai dám kêu ca tị nạnh nữa.

Tiết phu nhân cười nói:

- Các chị hãy nghe mồm
mép chị Phượng kìa, cứ liến láu như đổ xe hột đào ấy! Chị ấy tính toán rành
mạch, xử sự lại rất công bằng.

Phượng Thư cười nói:

- Thưa cô, chả lẽ cháu
lại dám nói sai hay sao?

Tiết phu nhân cười nói:

- Chị nói có bao giờ
sai? Nhưng nên nói thong thả, có đỡ nhọc không?

Phượng Thư muốn cười
nhưng lại nín lặng để nghe vương phu nhân chỉ bảo. Vương phu nhân nghĩ một lúc
rồi nôi:

- Ngày mai cắt một a
hoàn sang hầu cụ để th cho Tập Nhân, và bớt tiền lương của nó đi. Rồi mỗi tháng
trích ra hai lạng bạc và một quan tiền ở trong số lương hai mươi lạng của ta,
để chi cho nó. Từ giờ trở đi, hễ dì Triệu và dì Chu được hưởng cái gì, thì Tập
Nhân cũng được hưởng hai ấy, nhưng về phần Tập Nhân, thì cứ lấy ở trong sổ
lương của ta ra mả chi, không nên đả động đến tiền công.

Phượng Thư nhất nhất
vâng lời, rời đẩy Tiết phu nhân

- Dì nghe thấy chưa,
trước cháu nói thế nào, quả nhiên bây giờ đúng thế.

Tiết phu nhân nói:

- Xử thế mới phải. Không
nói gì dáng dấp con bé, chỉ xem cách nó xử sự đúng đắn, nói năng hòa nhã, nhưng
vẫn có vẻ cứng rắn cương quyết, thật khó có được người như thế.

Vương phu nhân rơm rớm
nước mắt nói:

- Các người có biết hết
chỗ tốt của Tập Nhân đâu? nó so với Bảo Ngọc còn hơn gấp mười lần! Nếu được nó
hầu hạ luôn bên cạnh Bảo Ngọc, thật lả có phúc đấy!

Phượng Thư nói:

- Đã thế thì sao không
lấy nó làm nàng hầu ở ngay trong nhà có hơn không?

Vương phu nhân nói:.

- Không được. Một là nó
còn ít tuổi, hai là ông không bằng lòng, ba là Bảo Ngọc thấy nó còn là a hoàn,
thì dủ có phóng túng chăng nưa, cũng phải nghe lời nó khuyên răn; nếubây giờ
cho nó làm nàng hầu ngay, không khi nào nó dám khuyên ngăn đến nơi đến chốn. Thôi
hãy cứ để thế, hai ba năm nữa sẽ liệu.

Phượng Thư thấy không có
việc gì, liền quay ra, vừa đi đến thềm, đã có mấy người đàn bà đứng chờ ở đấy,
thấy Phượng Thư ra, họ đều cười nói:

- Hôm nay mợ vào trình
việc gì mà lâu thế Không biết nực à?

Phượng Thư vén tay áo
lên, chân đứng kiễng trên bực cửa,(1) cười nói:

- Chỗ này gió lùa mát
quá, đứng hóng một lúc rỗi sẽ đi.

(1). Thời phong kiến, phụ nữ đứng như vậy là một cứ
chỉ khinh bạc.

Phượng Thư lại nói với
mọi người:

- Các chị bảo tôi nói
chuyện lâu quá, nhưng bà cứ hỏi tôi những việc gì hàng trăm năm về trước không
có lẽ tôi lại không nói? - Lại cười nói - Từ giờ trở đi, tôi làm việc phải cay
nghiệt một chút mới được. Họ có oán trách tôi, đến tại bà, tôi cũng chẳng sợ.
Những bọn con đĩ thối mồm thối mép, chết đâm chết chém ấy, đừng có mơ tưởng!
Nay mai sẽ có ngày ta phải bớt lương khắp lượt cho mà coi. Bây giờ mới bớt của
a hoàn, mà đã oán trách ầm lên. Sao không biết nghĩ, mình nó có đáng sai khiến
ba đứa không

Phượng Thư vừa rủa, vừa
đi, rồi chọn một a hoàn đưa sang bên Giả mẫu. Vương phu nhân ăn dưa xong, nói
chuyện một lúc rồi đi về Đến vườn, Bảo Thoa rủ Đại Ngọc vào Ngẫu Hương tạ chơi.
Đại Ngọc nói: “phải về tắm rửa”, rồi đi ngay. Bảo Thoa đi một mình, tiện đường
tạt vào viện Di Hồng, muốn gặ nói chuyện để khuây khỏa buổi trưa. Khi vào đến
sân, thấy lặng lẽ không một tiếng động. Đôi hạc đậu ở khóm chuối cũng đều thiu
thiu giấc ngủ. Bảo Thoa rẽ sang bên cạnh, vào ngay trong buồng, thấy ở gian
ngoài, bọn a hoàn đương ngủ ngổn ngang cả trên giường. Bảo Thoa đi qua cửa sổ
có treo màn gấm các màu, vào tận buồng Bảo Ngọc, thấy Bảo Ngọc cũng ngủ, chỉ có
Tập Nhân ngồi thêu bên cạnh, để một cái phất trần cán bằng sừng trắng.

Bảo Thoa đến gần khê
cười nói:

Chị cẩn thận quá, trong
nhà này còn có ruồi muỗi à? Để cái này làm gì đấy?

Tập Nhân bất thình lình
ngẩng đầu lên, trông thấy Bảo Thoa, vội bỏ kim chỉ đứng dậy, khẽ cười nói:

Cô đến đấy à? Tồi sợ
giật nẩy mình lên. Cô chưa biết, ở đây tuy không ruồi muỗi, nhưng có một thứ
sâu nhỏ ở ngoài màn chui vào, chẳng ai trông thấy. Trong khi ngủ, lỡ nó cắn vào
người, thì đau như kiến đốt.

Bảo Thoa nói:

- Chả trách được, đằng
sau thì gần nước, lại trồng các thứ hoa, làm thơm lừng cả nhà lên, giống sâu
này quen ăn nhị hoa, hễ ngửi thấy mùi thơm là thế nào nó cũng chui vào.

Bảo Thoa nhìn cái bức
thêu ở tay Tập Nhân. Đó là cáiyếm bằng lụa trắng, giữa có màu đỏ, trên mặt thêu
kiểu “Uyên ương vờn hoa sen” có hoa đỏ lá xanh, có chim uyên ương năm màu.

Bảo Thoa nói:

- Ái chà? Tươi đẹp quá!
Cái này của ai mà làm phí bao nhiêu là công?

Tập Nhân ngoảnh vào
giường bĩu môi. Bảo Thoa cười nói:

- Người đã lớn thế mà
còn đeo cái này à?.

Tập Nhân cười nói:

- Xưa nay cậu ấy vẫn
không chịu đeo, nên phải làm thật đẹp, để cậu ấy trông thấy tự khắc phải đeo!
Bây giờ trời nóng, nhân lúc cậu ấy ngủ không để ý, tôi lựa cách đeo vào cho, lỡ
đêm không đắp chăn cẩn thận cũng không sao. Cô nói làm cái này tốn công, có lẽ
cô chưa thấy cái cậu ấy đang đeo trong người sao!

- Chị chịu khó quá!

- Hôm nay làm việc
nhiều, cổ cúi xuống đau nhừ cả người.

Lại cười nói:

- Cô hãy ngồi chơi, tôi
ra ngoài một tý rồi vào ngay.

N

Bảo Thoa chỉ chăm chú
nhìn cái bức thêu nên không để ý, ngồi luôn xuống đó. Vì cũng thích bức thêu,
Bảo Thoa liền lấy ngay kim thêu tiếp.

Không ngờ Đại Ngọc hẹn
Tương Vân đến mừng Tập Nhân. Hai người vào sân, thấy vắng ngắt cả. Tương Vân
quay ra ngoài hiên đi tìm Tập Nhân, Đại Ngọc tìm đến chỗ cửa sổ, đứng ngoài màn
the nhìn vào, thấy Bảo Ngọc mặc cái áo sa màu hồng, nằm ngủ ở trên giường, Bảo
Thoa ngồi thêu bên cạnh, có cái đập ruồi để gần đấy.

Đại Ngọc thấy thế, đứng
né ra một bên, lấy tay bịt mồm, không dám cười ra tiếng, liền vẫy Tương Vân
lại. Tương Vân tưởng có gì lạ, vội chạy lại, thấy thế, muốn cười, nhưng nghĩ
Bảo Thoa xưa nay đối với mình tử tế, liền nín ngay, biết Đại Ngọc vốn tính đành
hanh, hay nói bóng nói gió để chế nhạo người, Tương Vân kéo Đại Ngọc và nói:

- Đi đi thôi. Tôi nhớ
Tập Nhân có nói là đến trưa sẽ ra ao giặt quần áo, chắc chị ta đã ở đấy rồi,
chúng ta đi tìm chị ấy thôi.

Đại Ngọc hiểu ý, cười
nhạt một tiếng rồi theo đi.

Bảo Thoa ở trong nhà mới
tết được vài ba cái hoa, thấy Bảo Ngọc nằm mê thét lên: “Lời nói hòa thượng và
đạo sĩ tin thế nào được? Cái gì là nhân duyên vàng ngọc! Tôi chỉ biết duyên cây
và đá thôi!”

Bảo Thoa nghe câu ấy,
bất giác sửng sốt, chợt thấy Tập Nhân vào cười hỏi:

- Cậu ấy chưa dậy à?

Bảo Thoa lắc đầu. Tập
Nhân lại cười nói:

- Tôi ta gặp cô Lâm và
cô Sử, họ có đến đây không?

- Không thấy.

Rồi Bảo Thoa lại cười
hỏi:

- Họ có bảo gì chị
không?

Tập Nhân đỏ mặt lên,
cười nói:

- Thì chẳng qua họ cũng
nói đùa đấy thôi, có thực thế đâu?

Bảo Thoa cười nói:

- Hôm nay không phải họ
nói đùa đâu, tôi cũng muốn mách chị việc ấy, nhưng vì chị vội đi ra.

Nói chưa dứt lời, Phượng
Thư lại cho người đến gọi Tập Nhân. Bảo Thoa cười nói:

- Chắc cũng lại việc ấy
thôi.

Tập Nhân gọi hai a hoàn
đến thay, rồi cùng Bảo Thoa ra khỏi viện Di Hồng, đến nhà Phượng Thư. Quả nhiên
Phượng Thư nói chuyện ấy, và bảo phải đến tạ ơn Vương phu nhân, chứ không cần
phải đến Giả mẫu nữa, vì sợ chị ta ngượng. Khi Tập Nhân ở nhà Vương phu nhân
về, thì Bảo Ngọc đã dậy và hỏi đi đâu, Tập Nhân cầm trả lời hàm hồ, đến đêm
vắng người mới nói thực.

Bảo Ngọc mừng lắm, cười
nói:

- Tôi xem chị còn đòi về
nhà nữa hay không? Lần trước chị về thăm nhà, khi trở lại nói là anh chị muốn
chuộc về, ở đây chẳng bấu víu vào đâu, sau này biết làm thế nào. Chị dùng những
câu nói không có tình nghĩa để dọa tôi. Từ giờ trở đi, tôi xem còn ai dám đến
đây đòi chị về nữa không

Tập Nhân cười nhạt:

- Cậu đừng nói những câu
ấy nữa. Từ giờ trở đi, tôi là người của bà nhà. Muốn đi đâu tôi chỉ phải trình
bà thôi, không cần nói với cậu nữa.

Bảo Ngọc cười nói:

- Nếu tôi là người không
ra gì, thì chị cứ trình với bà mà về để người ngoài biết tôi không tốt, nên chị
mới phải đi, như thế thì chị còn ra gì nữa?

Tập Nhân cười nói:

- Sao lại không ra gì?
Không lẽ kẻ cướp tôi cũng theo à? Nếu thế thì chỉ có chết thôi. Người ta dù có
sống đến trăm năm, rồi cũng phải chết. Khi tắt hơi rồi, chẳng còn nghe gì, thấy
gì, thế là xong chuyện.

Bảo Ngọc nghe nói, liền
bịt mồm Tập Nhân lại, bảo:

- Thôi! Thôi! Đừng nói
những câu ấy nữa.

Tập Nhân vẫn biết Bảo
Ngọc có tính tình kỳ quặc, hễ nghe thấy người ta nói những câu nịnh hót tán
tỉnh, thì cho là không thực, chán không buồn nghe; nhưng thấy người ta nói
những câu thực thà thân thiết, thì lại đâm ra thương cảm.

Tập Nhân hối hận trót
nói quá lời, liền cười xòa nói lảng ra chuyện khác. Rồi chuyển những câu lâu
nay Bảo Ngọc thích nghe, như gió xuân trăng thu, son hồng phấn lạt; rồi đến
việc người con gái thế nào là tốt. Không ngờ Tập Nhân buột miệng nói đến cái chết
của người con gái, liền vội bưng mồm không nói nữa.

Bảo Ngọc đương thích
nghe, bỗng thấy Tập Nhân không nói, liền cười:

- Ai mà chẳng chết?
Nhưng có đáng chết thì mới chết chứ! Những đám râu mày hên hạ, khi nghe người
ta nói “Quan văn chết vì can vua, quan võ chết vì đánh giặc”. Hai cái chết ấy
mới là danh tiết của bậc đại trượng phu. Nhưng, dù sao không chết vẫn hơn. Vì
có vua hôn ngu ngăn, chỉ biết liều chết để mua lấy tiếng khen, thì sau nây sẽ
bỏ vua lại cho ai? Khi có giặc giã mới phải đi đánh, nhưng chi biết liều chết
để tỏ ra mình có công đánh giặc, thì sau này bỏ nước lại cho ai? Vì vậy đều
không phải là cái chết chính đáng..

Tập Nhân nói:

- Xưa nay tướng giỏi tôi
hiền, đều là bất đắc dĩ mới phải chết đấy thôi.

Bảo Ngọc nói:.

- Hạng quan võ ấy chẳng
qua chỉ cậy sức hung hăng, chứ mưu trí kém cỏi, chẳng có tài năng, đến nỗi bị
chết uổng, chả lẽ cũng là bất đắc dĩ à? Còn hạng quan văn thì lại khác hẳn, họ
cứ chôn vào ruột mấy câu đọc thuộc lòng trong sách, hễ nhà vua có lỗi nhỏ gì,
thì cứ nói càn ngăn bậy, để được tiếng là người trung trực; máu nóng nổi lên,
dù chết cũng liều, như thế có thể gọi là bất đắc dĩ được không? Phải biết rằng
trời có cho thì mới được làm vua, nếu không phải là bực thần thánh nhân từ,
không khi nào trời lại giao cho muôn việc nặng nề như thế. Vậy thì những cái
chết ấy, chẳng qua chỉ để mua chuộc tiếng khen, chứ chẳng hiểu nghĩa lớn vua
tôi gì cả. Còn như tôi bây giờ, nếu có phúc ra, gặp được lúc các chị em đủ mặt
ở đây, mà chết ngay đi, lại được nước mắt các chị em chảy ra thành một con sông
lớn, buông xác tôi xuống đó lềnh bềnh, trôi đến một chỗ rất xa xăm, không có
chim ho cò gáy, rồi theo gió mà tan đi, không bao giờ hóa kiếp làm người nữa,
như thế là tôi chết đúng lúc đấy!

Tập Nhân nghe những câu
rồ dại ấy, liền kêu mệt, không trả lời, Bảo Ngọc mới nhắm mắt ngủ. Hôm sau quên
hẳn chuyện ấy.

Đi chơi các nơi mãi đâm
chán, một hôm Bảo Ngọc nghĩ ngay đến khúc hát “Mẫu đơn đình”. Vì đã được nghe
hai lần, nhưng vẫn chưa thỏa. Nhân nghe nói trong đám mười hai đứa con hát ở
viện Lê Hương có một Linh Quan, đóng vai nữ, hát rất hay. Bảo Ngọc đi ra cửa
nách để tìm, gặp Bảo Quan và Ngọc Quan đang chơi ở sân. Thấy Bảo Ngọc đến, họ
cười đón mời ngồi.

Bảo Ngọc hỏi:

- Linh Quan ở đâu?

- Chị ấy đương ở trong
nhà.

Bảo Ngọc vội chạy vào,
thấy Linh Quan một mình nằm dựa ở trên gối. Thấy Bảo Ngọc đến, Linh Quan vẫn cứ
nằm yên không nhúc nhích. Bảo Ngọc ngồi ngay bên cạnh, vì xưa nay vẫn hay chơi
đùa với những bọn con gái quen, nên cho Linh Quan cũng như các người khác, liễn
ghê lại gần, cười nói, nằn nì Linh Quan hát cho nghe một bài Niêu tình ty(2).
Linh Quan thấy Bảo Ngọc ngồi xuống, vội đứng dậy tránh đi chỗ khác, nghiêm nét
mặt nói:

 (2). Sợi tơ bay
dưới ánh sáng.

- Tôi khản cổ lắm. Hôm
nọ bà đòi chúng tôi vào hát, tôi cũnghát được.

Bảo Ngọc thấy nó ngồi
lên, để ý ngắm một lúc, thì chính là người con gái ngồi viết chữ “Tường” ở dưới
hoa tường vi hôm nọ. Nghĩ bụng, xưa nay mình chưa bị người ta chán ghét bao giờ
nên rất khó chịu, mặt đỏ lên rồi đi ra. Bọn Bảo Quan không biết vì cớ gì, liền
hỏi, Bảo Ngọc nói cho họ biết. Bảo Quan cười nói:

- Cậu hãy chờ một lát.
Cậu Tường về bảo nó hát, nhất định nó sẽ hát ngay.

Bảo Ngọc nghe nói, có ý
buồn, liền hỏi:

- Anh Tường đi đâu?.

- Cậu ấy vừa mới đi.
Chắc là Linh Quan cần cái gì, cậu ấy đi tìm cho nó đấy.

Bảo Ngọc lấy làm lạ,
đứng chờ một lúc, thấy Giả Tường ở ngoài chạy về, tay cầm cái ***g chim, trong
***g có con chim sẻ và một cái cầu nhỏ để làm trò. Hắn hăm hở đến tìm Linh
Quan, chợt trông thấy Bảo Ngọc, đành phải đứng lại.

Bảo Ngọc hỏi:

- Giống chim sẻ gì thế
mà biết ngậm cờ múa trên cầu làm trò?

- Đây là giống chim sẻ
cổ trắng.

- Mua hết bao nhiêu
tiền?

- Một lạng tám đồng bạc.

Hắn vừa nói vừa mời Bảo
Ngọc ngồi, rồi chạy vào nhà Linh Quan. Bảo Ngọc không nghĩ đến chuyện hát nữa,
chỉ muốn xem Giả Tường với Linh Quan ra thế nào. Giả Tường chạy đến phòng Linh
Quan cười bảo:

- Em lại mà xem, cái này
thích lắm..

Linh Quan đứng dậy hỏi:

- Cái gì?

- Anh mua con chim sẻ để
em chơi đỡ buồn. Anh bắt nó làm trò cho em xem nhé!

Nói xong, hắn lấy nắm
thóc nhử con chim sẻ, quả nhiên nó nhảy ngay lên cái cầu làm trò. Nó ngậm ngay
cái mặt nạ và cái cờ múa tít. Bọn con hát đều cười “Thú quá”, chỉ có Linh Quan
cười nhạt một tiếng, tỏ vẻ bực mình, nằm xuống ngủ.

Giả Tường cười hỏi:

- Có hay không?

- Nhà các anh đã bắt bao
nhiêu con nhà tử tế, đem nhốt ở trong chuồng này vẫn còn chưa đủ hay sao, lại
bắt cả chim sẻ vào đây để làm trò nữa. Rõ ràng anh đem con chim sẻ ra hình dung
chúng tôi để làm trò cười, lại còn hỏi có

Giả Tường nghe nói, đứng
ngay dậy, vội vàng thề và nói:

- Hôm nay sao mà tôi u
mê thế? Bỏ ra vài lạng bạc mua con chim sẻ về, tưởng để em chơi cho đỡ buồn,
ngờ đâu lại đến nông nỗi này. Thế thì anh đem thả nó ra cũng là một cách để em
tai qua nạn khỏi đấy

Nói xong, hắn thả con
chim ra và bẻ gãy cả ***g.

Linh Quan lại nói:

- Con chim không như
người, nhưng nó cũng có mẹ ở trong tổ, thế mà anh bắt nó về làm trò chơi, liệu
có nó bằng lòng hay không? Hôm nay tôi bị thổ huyết, bà cho người gọi anh đi
mời thầy thuốc đến xem bệnh cho tôi, thế mà anh lại đem cái của ấy về để làm
trò cười. Hạng người như tôi hay đau yếu luôn, lại chả được ai nhìn ngó, đoái
hoài đến!

Giả Tường vội nói:

- Chiều hôm qua tôi đi
mời thầy thuốc, nhưng ông ấy bảo không việc gì, cứ cho uống hai thang, hôm sau
sẽ đến xem lại. Ngờ đâu hôm nay em lại thổ huyết nữa. Tôi phải đi mời thầy
thuốc đến ngay.

Hắn nói xong định ra đi.
Linh Quan lại nói:

- Hãy hượm đã, trời nắng
chang chang thế này mà anh tức khí đi ngay thì tôi cũng không xem đâu!

Giả Tường nghe nói, đành
phải dừng lại.

Bảo Ngọc thấy quang cảnh
vậy, đứng ngẩn người ra, mới hiểu cái thâm tâm của Linh Quan viết chữ “Tường”
hôm trước.

Không thể đứng yên được,
Bảo Ngọc quay đi ngay. Giả Tường bấy giờ bụng chỉ để vào Linh Quan, nên không
nghĩ gì đến ai.

Khi Bảo Ngọc về, cũng
chỉ có bọn con hát ra tiễn thôi.

Bảo Ngọc trong bụng vẩn
vơ nghĩ ngợi, ngơ ngẩn ra về; đến viện Di Hồng, thấy Đại Ngọc và Tập Nhân đương
ngồi nói chuyện. Bảo Ngọc bước vào thở dài nói với Tập Nhân:

- Câu chuyện tôi nói với
chị chiều hôm qua, thực là không đúng tý nào. Chẳng trách ông thường bảo tôi
“Lấy ống nhòm trời, lấy bầu đong biển”. Hôm qua tôi bảo bao nhiêu nước mắt của
các chị chỉ để chôn cho một mình tôi, thật là nhầm to, nay suy ra, thì nước mắt
của các chị có phải để dành cho một mình tôi cả đâu. Từ giờ về sau, mỗi một
người chỉ được hưởng một số nước mắt về phần mình thôi.

Tập Nhân cho là đêm qua
chẳng qua câu chuyện nói đùa, đã quên đi rồi, không ngờ Bảo Ngọc lại gọi ra

- Cậu thực là điên!

Bảo Ngọc lẳng lặng không
trả lời. Từ đó mới nhận rõ là tình duyên của người ta, trời đã định trước, nên
chỉ ngấm ngầm đau xót: “Không biết sau này ta chết, ai là người rỏ nước mắt?”

Đại Ngọc thấy bộ dạng
Bảo Ngọc như thế, biết ngay là lại bị ám ảnh gì rồi, không tiện hỏi nhiều, liền
nói:

- Tôi vừa mới ở bên mợ,
nghe thấy nói ngày mai là ngày sinh nhật dì Tiết, bảo tôi tiện đường đến hỏi
anh có đi hay không, thì cho người đến đằng nhà nói một tiếng.

Bảo Ngọc nói:

- Ngày sinh nhật ông Cả,
tôi cũng không đến nữa là. Bây giờ đến đó, lỡ ra người ta trông thấy, còn ra
làm sao nữa? Tôi chẳng đi đâu cả. Trời nóng thế này, mà phải đóng bộ quần áo
vào thì phiền quá, tôi không đi chắc dì cũng chả giận đâu.

Tập Nhân vội nói:

- Sao cậu lại nói thế?
Không thể ví bà dì với ông Cả được, vì nhà ở gần hơn, lại trong thân thích với
nhau. Nếu cậu không đi thì chẳng làm cho bà ấy lại sinh nghĩ ngợi hay sao? Cậu
sợ nóng, thì sáng sớm đến mừng tuổi ngay, uống chén nước trà rồi về, thế chả
tốt hơn ư?

Bảo Ngọc chưa kịp nói
thì Đại Ngọc cười nói ngay:

- Nghĩ lúc người ta ngồi
đuổi muỗi cho mình, thì anh cũng nên đến là phải.

Bảo Ngọc không hiểu thế
nào, vội hỏi:

- Ngồi đuổi muỗi là thế
nào?

Tập Nhân kể lại cho Bảo
Ngọc nghe câu chuyện hôm qua, khi Bảo Ngọc ngủ, không có ai ngồi cùng, cô Bảo
phải ngồi lại một lúc. Bảo Ngọc vội nói:

- Quá đáng! Tôi ngủ
không biết, sao lại dám khinh thường cô ấy như thế? Thế nào ngày mai tôi cũng
phải đi.

Đang nói chuyện thì
Tương Vân ăn mặc chỉnh tề đến cáo từ và nói ở nhà cho người sang đón về. Bảo
Ngọc, Đại Ngọc đứng dậy mời ngồi, nhưng Tương Vân không chịu ngồi, hai người
đành phải đứng dậy đi tiễn. Bây giờ Tương Vân nước mắt ràn rụa, vì có người nhà
đứng đấy, nên không dám tỏ vẻ buồn rầu. Một lúc Bảo Thoa chạy đến, lại càng
thêm quyến luyến, không nỡ rời tay. Bảo Thoa nghĩ bụng: “Nếu cứ quyến luyến mãi
để người nhà cô ta về mách với bà dì, thì khi cô ta về, sẽ bị dằn vặt khó
chịu”. Vì thế phải giục Tương Vân đi. Mọi người tiễn ra đến cửa ngoài. Bảo Ngọc
còn muốn tiễn xa nữa, nhưng Tương Vân ngăn lại gọi Bảo Ngọc đến gần, khẽ dặn:

- Nếu cụ không nhớ đến
tôi, thì anh nên nhắc nhở, để cho người đi đón tôi sang.

Bảo Ngọc vội nhận lời.
Tương Vân lên xe đi rồi, mọi người mới về.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3