Đôn Kihôtê (Tập 1) - Chương 40 phần 1

Chương
40: Kế tiếp cuộc đời người tù

"Hỡi các linh hồn hạnh phúc, bằng hành động dũng cảm
các người đã trút khỏi thể xác, từ cõi trần ô trọc bay bổng lên thượng giới cao
siêu.

Căm giận quân
cướp nước và một lòng cúc cung tận tụy, các người đã chẳng tiếc thân, bằng máu
của mình và của đồng đội nhuốm thắm biển khơi và những bãi cát vàng.

Các người đã
chết vì sức cùng lực tận nhưng tinh thần vẫn còn dư và những cánh tay rã rời
của các người đã mang lại chiến thắng.

Cái chết đáng
thương xót của các người giữa nơi mũi tên hòn đạn được người đời ca tụng và
được Chúa ban vinh hiển đời đời".

- Bài thơ đúng
như vậy, Người Tù nói.

- Nếu tôi
không nhớ sai, người bạn của Đôn Phernanđô nói, bài thơ về đồn binh như sau:

"Từ mảnh
đất cằn cỗi hoang tàn này, từ những thành trì đổ nát này, linh hồn của ba ngàn
binh sĩ bay lên yên nghỉ trên cõi thiên đường đầy hạnh phúc.

Những cánh tay
của họ đã vung lên dũng cảm nhưng vô hiệu quả và cuối cùng, người ít sức kiệt,
họ đã ngã gục dưới mũi gươm của quân thù.

Đất này đã
chứng kiến biết bao sự kiện buồn thương từ những thế kỷ xưa cho đến nay.

Nhưng cũng từ
mảnh đất khốc liệt này có những linh hồn cao cả nhất bay bổng lên trời cao và
cũng tại đây có những con người dũng cảm nhất yên nghỉ đời đời".

Mọi người đều
khen thơ hay, riêng Người Tù tỏ vẻ vui mừng vì được biết tin bạn cũ; anh ta kể
tiếp:

- Sau khi pháo
đài La Gôlêta và đồn binh thất thủ, bọn Thổ ra lệnh phá đổ pháo đài (đồn binh
thì không còn gì để phá nữa). Để tranh thủ thời gian và đỡ tốn công sức, chúng
nổ mìn từ ba phía. Tuy nhiên, những bước tường thành cổ tưởng như dễ phá vẫn
đứng trơ trơ, trái lại phần công sự do kỹ sư Phratin xây sau này bị mìn đánh
sập ngay. Sau đó, hạm đội thắng trận trở về Cônxtantinôpla; mấy tháng sau, chủ
tôi là tướng Thổ Uchali chết. Người ta gọi hắn là Uchali Phartắc, tiếng Thổ Nhĩ
Kỳ có nghĩa là kẻ bội giáo mắc bệnh sài. Quả thật, hắn có bệnh sài, và người
Thổ có tục lấy những tật xấu hay những tính tốt của mỗi người để đặt tên cho
nhau. Ở Thổ Nhĩ Kỳ chỉ có bốn dòng họ chính cống, còn những dòng họ khác lấy
những tật xấu hoặc những tính tốt của mình để tự đặt tên họ. Năm mười bốn tuổi,
tên Uchali này là nô lệ của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ và phải đi phục dịch trên một
chiến thuyền; năm ba mươi tư tuổi, một hôm trong lúc đang chèo thuyền, hắn bị
một tên Thổ đánh cho một cái tát; ức quá, hắn từ bỏ tôn giáo của mình để chờ
dịp trả thù, không chịu ra luồn vào cúi như những sủng thần của hoàng đế đã làm
để được thăng quan tiến chức, hắn đã bằng tài năng để trở thành vua Arhêl rồi
làm đô đốc thủy quân, chức vụ thứ ba trong triều. Quê quán hắn ở Calabrơ; hắn
là một người tốt bụng, đối xử nhân đạo với tù nhân. Sau khi hắn chết, theo chúc
thư để lại, người ta phân chia số ba ngàn tù nhân của hắn cho những bộ hạ thân
tín của hắn và cho hoàng đế (theo lệ, hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ là người thừa kế của
tất cả những người chết và cũng được hưởng một phần gia tài như những người con
khác). Chủ mới của tôi là một kẻ bội giáo quê quán ở Vênêxia; tên này bị Uchali
bắt được từ hồi còn nhỏ khi đang làm việc trên một chiếc tàu. Hắn được Uchali
rất yêu quý và trọng đãi, nhưng hắn độc ác có một trên đời. Tên hắn là Axan
Aga, làm vua Arhêl và rất giàu có. Được về Arhêl với hắn, tôi cũng mừng vì ở đó
gần Tây Ban Nha. Không phải tôi có ý định viết thư về nước báo tin bất hạnh của
tôi đâu; tôi chỉ muốn xem ở Arhêl tôi có gặp may mắn hơn không vì khi còn ở
Cônxtantinôpla, tôi đã dùng trăm phương ngàn kế để đi trốn nhưng đều không gặp
may. Tại Arhêl, tôi cũng đã tìm nhiều cách hòng đạt được điều tôi mong ước vì
không một lúc nào tôi từ bỏ hy vọng được trở lại tự do; mỗi khi ý nghĩ và hành
động của tôi không đem lại kết quả mong muốn, tôi không nản chí, cố tạo ra một
nguồn hy vọng mới để giữ vững tinh thần, dù hy vọng đó mỏng manh. Tôi đã sống
như vậy trong một nhà tù, người Thổ Nhĩ Kỳ gọi là ngục giam trong đó có những
tù nhân Kitô giáo của nhà vua và của các tư nhân cùng những phạm nhân của thành
phố; những người này chuyên đi phục dịch những việc công cộng, rất khó được thả
ra vì họ là của chung không thuộc về một người chủ nhất định nào cả, không biết
thương lượng với ai để chuộc tiền dù họ có tiền chuộc. Như tôi đã nói, nhiều
người trong tỉnh gửi tù nhân của họ tại những ngục giam này, nhất là những
người tù để chuộc, vừa đảm bảo vừa giữ cho tù nhân được lành mạnh khi trao trả.
Những tù nhân để chuộc của vua Thổ Nhĩ Kỳ cũng không phải đưa đi làm; nếu mãi
không có ai đến chuộc, để thúc tù nhân chăm viết thư về nhà xin tiền, người ta
bắt họ cũng phải đi làm, đi kiếm củi hoặc những việc khác khá nặng nhọc.

Tôi cũng là
một trong những tù nhân để chuộc; khi biết tôi là đại úy, họ liệt tôi vào danh
sách những nhà quý tộc mặc dù tôi đã thanh minh là tôi không có tiền nong gì
cả; họ đeo cho tôi một cái xích, không phải để trói buộc tôi mà để phân biệt
tôi thuộc loại chờ chuộc tiền. Tôi sống trong ngục giam cùng với những người
quyền quý khác cũng được liệt vào số người để chuộc. Tuy bị đói rách thiếu thốn
nhưng điều làm chúng tôi đau khổ nhất là phải chứng kiến những hành động tàn ác
chưa từng thấy của lão chủ đối với những người Kitô giáo. Mỗi ngày hắn treo cổ
một người, có người bị đóng cọc vào hậu môn, có người bị xẻo tai, chỉ vì những
chuyện rất nhỏ hoặc chẳng vì lý do gì cả. Chính những người Thổ Nhĩ Kỳ cũng
phải nhận rằng hắn hành hạ tù nhân chỉ vì ý thích riêng và do bản tính muốn
tiêu diệt hết giống người. Riêng có một người tù của hắn được sống yên ổn; đó
là một quân nhân Tây Ban Nha tên là Xaavêđra 1. Để giành lại tự do, anh ta đã
có những hành động táo bạo khiến dân địa phương còn nhớ mãi, thế nhưng lão Axan
Aga không hề đánh đập hoặc nói nặng một câu; trước những việc làm của anh ta,
tất cả chúng tôi đều lo cho anh bị trừng trị và bản thân anh ta cũng lo. Giá có
thời giờ, tôi sẽ kể ra đây một vài việc làm của anh ta, chắc các ngài sẽ thấy
thú vị và ngạc nhiên hơn cả câu chuyện về cuộc đời tôi. Nhưng thôi, ta hãy quay
trở lại câu chuyện của tôi.

Bên cạnh nhà
tù của chúng tôi là tư thất của một người Môrô giàu có và quyền quý, cửa sổ
nhìn thẳng xuống sân nhà tù. Theo kiến trúc của người Môrô, cửa sổ là những lỗ
hổng có che mành kín mít. Một hôm, tôi và ba người bạn tù đeo xiềng xích tập
nhảy trong sân để giết thời giờ vì những người tù Kitô giáo khác đi làm việc cả
rồi, bỗng đâu tôi ngước mắt nhìn lên thì thấy ở trên một cái cửa sổ che mành có
một cây sào thò ra, đầu sào treo một cái gói, cây sào cứ đu đưa như làm hiệu
cho chúng tôi cầm lấy. Chúng tôi chăm chú nhìn, rồi một người trong bọn tiến
đến dưới cửa sổ để xem ở trên làm gì hoặc có hạ cây sào xuống không. Khi anh ta
tới nơi, cây sào vọt lên rồi đảo ngang lia lịa như một người trả lời không. Anh
bạn tù bỏ đi thì cây sào lại hạ xuống và lại làm hiệu như lúc ban đầu. Người
thứ hai trong bọn tôi tiến lại cửa sổ và sự việc cũng diễn ra như trước; rồi
đến người thứ ba cũng vậy. Nhìn thấy thế, tôi cũng muốn thử để cầu may; khi tôi
đến dưới cửa sổ, cây sào bỗng dưng hạ xuống sát chân tôi. Tôi tháo cái gói và
mở ra, thấy có một cái khăn tay trong đựng mười xianix, tiền Môrô làm bằng một
loại vàng kém phẩm chất, mỗi đồng ăn mười rêal của ta. Không cần phải nói cũng
biết là tôi rất mừng rỡ khi nhận được gói đó; cả bọn chúng tôi vừa vui mừng vừa
ngạc nhiên trước món quà, đặc biệt là tôi vì cây sào kia chỉ hạ xuống khi tôi
lại gần, chứng tỏ rằng món quà đó dành cho tôi. Tôi cầm lấy tiền, bẻ gãy cây
sào, trở về chỗ cũ nhìn lên thì thấy có một bàn tay trắng muốt mở cửa sổ ra rồi
lại đóng vào ngay. Thấy vậy, chúng tôi nghĩ và đoán rằng có một người đàn bà
nào ở trong nhà đó đã làm phúc cho chúng tôi, và để tỏ lòng biết ơn, chúng tôi
chào kính cẩn theo kiểu Môrô, đầu cúi, người ngả xuống, tay để lên ngực. Một
lát sau, cũng từ trong khung cửa sổ nói trên có một cây thánh giá nhỏ làm bằng
sậy thò ra rồi thụt vào ngay. Hiện tượng đó khiến chúng tôi đoán rằng có một
người đàn bà nào theo đạo Kitô bị giam ở bên trong, và cũng chính người đó đã
cho chúng tôi tiền. Thế nhưng bàn tay trắng trẻo và những vòng xuyến đeo ở cánh
tay đã đánh tan ý nghĩ đó của chúng tôi. Chúng tôi lại đoán rằng có lẽ đó là
một người đàn bà Kitô giáo đã từ bỏ đạo của mình rồi được chủ lấy làm vợ chính
thức. Có nhiều người Môrô lấy vợ như vậy, và họ quý hơn cả những người cùng
giống, coi đó là một hạnh phúc lớn. Tuy nhiên, tất cả những điều dự đoán của
chúng tôi còn rất xa sự thật. Cũng từ hôm đó, chúng tôi chỉ chăm chăm nhìn về
hướng cửa sổ ở đó đã hiện ra cây sào, ngôi sao dẫn đường cho chúng tôi. Nửa
tháng trôi qua nhưng không thấy xuất hiện lại cây sào, cũng chẳng thấy bàn tay
thò ra hoặc một dấu hiệu gì khác. Mặc dù đã tìm mọi cách để tìm hiểu xem ai
sống trong ngôi nhà đó và ở trong ngôi nhà đó có người đàn bà Kitô giáo nào bỏ
đạo không, chúng tôi chỉ được nghe nói rằng chủ nhân là một người Môrô quyền
quý và giàu có tên là Ahi Môratô, nguyên tổng đốc trấn thủ pháo đài Pata, một
trong những chức vụ rất quan trọng. Giữa lúc chúng tôi đã hết hy vọng nhìn thấy
những đồng tiền vàng từ trên cửa sổ rơi xuống, bỗng dưng cây sào lại xuất hiện
cùng với một gói tiền to hơn treo lủng lẳng ở đầu. Cũng như lần trước, lúc đó
sân nhà tù vắng người, không có ai ngoài bọn tôi. Chúng tôi cũng lại thử như
lần trước; ba người bạn tù của tôi lần lượt đến dưới cửa sổ và lần nào cây sào
cũng không hạ xuống thấp, chỉ đến khi tôi tới thì nó mới chịu. Tôi mở gói ra
thấy có bốn mươi đồng tiền vàng Tây Ban Nha và một lá thư viết bằng tiếng Arập,
cuối dòng có hình một cây thánh giá lớn. Tôi hôn hình cây thánh giá, cầm tiền
trở về chỗ cũ, rồi cả bốn anh em chúng tôi làm lễ chào kính cẩn. Bàn tay lại
hiện ra làm hiệu bảo chúng tôi đọc thư, rồi cửa sổ khép vào. Chúng tôi vừa ngạc
nhiên vừa mừng rỡ; trong bọn không người nào biết tiếng Arập; ai nấy đều ước ao
muốn biết ngay trong thư nói gì nhưng tìm ra một người đọc hộ là một chuyện rất
khó. Cuối cùng, tôi quyết định nhờ cậy một người đã từ bỏ đạo Kitô, sinh trưởng
tại Murxia ở Tây Ban Nha; anh ta rất thân với tôi và hứa sẽ giữ kín chuyện này.
Trên thực tế, có những người từ bỏ đạo Kitô nhưng vẫn muốn trở về quê hương bản
quán cho nên họ muốn được những người bạn tù có tín nhiệm chứng nhận rằng họ
đối xử tốt với những người Kitô giáo và có ý định trốn về nước ngay khi có dịp.
Có những người kiếm bằng được những tờ chứng nhận đó với ý tốt, nhưng cũng có
những kẻ lợi dụng; chúng đi theo bọn Thổ Nhĩ Kỳ xâm nhập vào các nước Kitô giáo
để cướp bóc và nếu bị bắt, chúng chìa giấy chứng nhận ra thanh minh rằng chúng
có ý muốn trở về nước và phải đi theo bọn Thổ để về được; sau khi đã thoát khỏi
những trận đòn phủ đầu, chúng tỏ vẻ ăn năn trở lại với Chúa, không bị tội gì
cả, và khi nào có cơ hội, chúng lại trở về Berbêria làm nghề cũ. Trái lại, có
những người sử dụng những tờ giấy chứng nhận đó với ý định tốt và ở lại làm ăn
trên đất Kitô giáo. Người tù nói trên thuộc loại này; vì là bạn của tôi, anh ta
được chúng tôi chứng nhận rất tốt, và nếu bọn Môrô tìm thấy những tờ chứng nhận
đó, chúng sẽ thiêu sống anh. Tôi biết anh ta thạo tiếng Arập, vừa nói vừa viết
được; tuy nhiên, trước khi kể lại rõ sự việc, tôi bảo anh ta đọc lá thư, nói
tránh rằng đã vô tình nhặt được ở một cái khe trong chỗ ngủ. Anh ta giở thư ra
nhìn một lúc rồi lẩm nhẩm đọc từng chữ. Tôi hỏi có hiểu không, anh ta bảo:
"Hiểu lắm chứ; nếu anh muốn tôi dịch nguyên văn, hãy đem bút và mực ra
đây, tôi sẽ làm được tốt hơn". Chúng tôi vội đi lấy những thứ đó đem lại,
anh ta bắt đầu dịch, dịch xong, anh ta bảo:

- Tất cả những
câu chữ Tây Ban Nha dịch ra đây là toàn bộ nội dung lá thư; chỉ xin lưu ý các
anh là những chữ Lêla Mariên có nghĩa là Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.

Chúng tôi đọc
thì thấy nội dung như sau:

"Khi tôi
còn nhỏ tuổi, cha tôi có một người nô lệ gái; người này đã dạy tôi đọc kinh
Kitô giáo bằng tiếng của dân tộc tôi và kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Lêla
Mariên. Người nô lệ gái đã qua đời và tôi biết chị không bị hỏa thiêu mà đã đi
theo thánh Ala
vì có hai lần tôi thấy chị hiện về bảo tôi tìm đến đất Kitô giáo để nhìn thấy
Lêla Mariên; chị còn bảo Lêla Mariên yêu quý tôi lắm. Tôi không biết đi bằng
cách nào. Từ trên cửa sổ này, tôi đã nhìn thấy nhiều tù nhân Kitô giáo nhưng
không thấy ai có vẻ trung hậu như ông. Tôi là một cô gái có nhan sắc và có
nhiều tiền mang theo. Ông thử xem có cách nào cho chúng ta đi khỏi nơi đây được
không. Nếu ông làm được, đến chỗ mới, ông sẽ là chồng tôi, còn nếu ông không
muốn thì cũng chẳng sao; Lêla Mariên sẽ cho tôi một người chồng. Tôi viết cho
ông lá thư này, ông hãy liệu tìm người đọc hộ; chớ tin vào bọn Môrô vì tất cả
đều tráo trở. Tôi rất lo và không muốn ông bộc lộ chuyện này với bất cứ ai vì
nếu cha tôi biết, người sẽ ném tôi xuống giếng rồi chặn đá lên. Tôi sẽ mắc một
sợi dây vào cây sào để ông buộc thư trả lời; nếu ông không có ai viết giúp cho
bằng tiếng Arập, hãy ra hiệu cho tôi biết, Lêla Mariên sẽ giúp tôi hiểu được ý
ông. Cầu Lêla Mariên và Ala
phù hộ cho ông và cây thánh giá này mà tôi vẫn thường hôn theo lời dặn của
người nô lệ gái".

Các ngài thử
nghĩ xem, làm sao chúng tôi không khỏi ngạc nhiên và mừng rỡ khi đọc xong những
lời lẽ đó. Người chối Chúa 2 đã nhận thấy thái độ của chúng tôi và hiểu rằng
không phải tôi vô tình nhặt được lá thư mà rõ ràng thư đó viết cho một người
trong bọn tôi; anh ta nói:

- Nếu quả thật
điều tôi suy đoán là đúng, xin hãy tin cậy vào tôi và nói rõ sự thật; vì tự do
của các bạn, tôi sẽ không tiếc thân.

Nói xong, anh
ta rút ở trong ngực ra một cây thánh giá bằng kim khí, vừa khóc lóc vừa thề
trước hình Chúa rằng dù là kẻ có tội, anh vẫn tin tưởng vào Người; anh ta còn
hứa sẽ trung thành giữ kín những điều chúng tôi bộc lộ, anh nói:

- Theo cảm
nghĩ và sự ước đoán của tôi, nhờ vào người con gái đã viết bức thư này, tất cả
chúng ta đây sẽ được tự do. Riêng tôi sẽ đạt nguyện vọng tha thiết là được trở
lại Thánh hội mà tôi đã phải xa lìa vì sự dốt nát và những tội lỗi mình đã gây
ra.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.