Đôn Kihôtê (Tập 1) - Chương 05 + 06
Chương
5: Kể tiếp về nỗi bất hạnh của chàng hiệp sĩ
Thấy
mình không sao nhúc nhích được, Đôn Kihôtê bèn cầu cứu tới bài thuốc thông
dụng, tức là nghĩ ra một đoạn nào đó trong sách vở tương tự với tình trạng hiện
tại của chàng. Đầu óc điên rồ đã giúp chàng nhớ đoạn nói về hiệp sĩ Valđôvinôx
với Hầu tước Đê Mantua, khi chàng hiệp sĩ này bị hoàng tử Carlôtô đánh trọng
thương, nằm trơ một mình trên núi. Đây là một câu chuyện khá phổ biến - trẻ
con, người lớn, ông già bà cả đều biết - và cũng thật như những phép mầu của
Mahôma 1. Đôn Kihôtê thấy tình trạng mình lúc này giống hệt. Thế là với một vẻ
lầm lì, bằng một giọng yếu ớt, vừa lăn lộn dưới đất, chàng vừa nhắc lại bản
tình ca mà hiệp sĩ Valđôvinôx đã đọc lúc bị thương trên núi: "Nương tử
hỡi, nàng ở nơi nào mà chẳng xót thương tới nỗi bất hạnh của ta? Phải chăng
nàng không biết tới, hay nàng đã phụ bạc ta rồi?". Cứ như vậy, chàng đọc
luôn một mạch không nghỉ, tới câu: "Hầu tước Đê Mantua cao quý, thúc phụ và ân nhân của
tôi!..." tình cờ có một bác nông phu người cùng làng đi say lúa mì về qua
đấy. Thấy có người nằm sóng soài giữa đường, bác vội tới hỏi han xem là ai, làm
sao mà rên rỉ thảm thiết như vậy. Đôn Kihôtê lại ngỡ là thúc phụ hầu tước Đê
Mantua đã tới, bèn tiếp tục kể lể về những nỗi bất hạnh của hiệp sĩ Valđôvinôx,
mối tình của hoàng tử Carlôtô với vợ chàng, y hệt trong sách, không sai một
chữ.
Bác nông phu
chẳng hiểu đầu đuôi ra sao, bèn lật cái lưỡi trai đã gẫy nát và lau chùi mặt
mũi đầy bụi của chàng. Lau sạch sẽ, bác nhận ngay ra Đôn Kihôtê và kêu lên:
- Kìa, ngài
Kihađa (đó là tên của Đôn Kihôtê khi chàng chưa hóa rồ và chưa từ một nhà quý
tộc hiền lành trở thành một hiệp sĩ giang hồ). Ai đã gây nông nỗi này?
Bác nông phu
càng hỏi, Đôn Kihôtê càng gân cổ đọc tiếp bản tình ca. Bác chỉ còn biết lột áo
giáp của chàng xem có vết thương nào không, thì không thấy có máu, mà cũng
chẳng có vết tích gì. Bác liền đỡ chàng dậy và khó nhọc lắm mới đặt được chàng
lên lưng con lừa của bác để cho chàng cưỡi được êm ái hơn. Xong xuôi, bác thu
nhặt vũ khí, kể cả những mảnh giáo vụn, bỏ tất cả lên lưng con Rôxinantê, một
tay dắt ngựa, một tay dắt lừa, trở về làng, vừa đi vừa nghĩ về những câu nói kỳ
quặc của Đôn Kihôtê. Trong khi đó, chàng hiệp sĩ của chúng ta mình đau như dần,
ngồi không vững trên con lừa, thỉnh thoảng lại ngửa mặt lên trời thở dài thườn
thượt làm bác nông phu lại phải hỏi xem đau đớn ra sao. Chính là lúc ma quỷ lại
nhập vào chàng và nhắc chàng nhớ tới những chuyện tương tự với hoàn cảnh hiện
đại. Hết chuyện chàng hiệp sĩ Valđôvinôx, giờ lại đến chuyện anh chàng người
Môrô 2 là Abinđaraêx lúc bị tỉnh trưởng Antêkêra là Rôđrigô đê Narvaex trong
chuyện nữ thần Điana của Horhê đê Môntêmayor, khiến bác nông phu phải run thầm
vì những chuyện quá ngớ ngẩn. Thấy Đôn Kihôtê hóa rồ, bác liền vội rảo cẳng về
làng để khỏi phát điên vì những bài diễn thuyết tràng giang đại hải đó. Cuối
cùng, Đôn Kihôtê nói:
- Ngài Đôn
Rôđrigô đê Narvaex, xin thưa với ngài rằng Haripha xinh đẹp mà tôi vừa kể với
ngài bây giờ là nàng Đulxinêa kiều diễm ở làng Tôbôxô; vì nàng tôi đã, đang và
sẽ lập ra những chiến công hiển hách nhất từ xưa đến nay và mãi về sau.
- Thật là tội
nợ cho tôi, bác nông phu đáp. Xin ngài hãy nhìn lại xem, tôi không phải lả Đôn
Rôđrigô đê Narvaex mà cũng chẳng phải là hầu tước Đê Mantua. Tôi là Pêđrô Alônxô, láng giềng của
ngài đây. Còn ngài chẳng phải là Valđôvinôx hay Abinđaraêx gì hết, mà là nhà
quý tộc Kihađa đó thôi.
- Ta biết ta
là ai chứ. Ta biết rằng không những ta bằng họ, mà còn bằng cả mười hai vị đình
thần nước Pháp cộng với chín danh nhân thế giới, vì tất cả những chiến công của
các vị này gộp lại hay tách riêng ra cũng chưa sánh kịp chiến công của ta đâu.
Vừa đi vừa nói
những chuyện như vậy, hai người về đến làng lúc sẩm tối. Bác nông phu không
muốn mọi người trông thấy cảnh thiểu não của nhà quý tộc bị đòn nên đợi trời
sẩm tối mới đưa Đôn Kihôtê về nhà. Lúc ấy, trong nhà Đôn Kihôtê đang xôn xao.
Cha xứ và bác phó cạo, hai người bạn thân của chàng, đều có mặt, bà quản gia
nói với cha xứ:
- Cụ cử Pêrêx
ơi (đó là tên Cha xứ), liệu ông chủ tôi có gặp tai vạ gì không? Đã ba ngày hôm
nay chẳng thấy bóng vía ông ấy đâu; cả ngựa, khiên, giáo, áo giáp cũng đều mất
tăm. Khổ thân tôi chưa! những cuốn sách kiếm hiệp chết tiệt mà ông ấy đọc tối
ngày đã làm ông ấy mụ mẫm. Thật đúng vậy, cũng như tôi đã sinh ra để một ngày
kia sẽ chết. Bây giờ tôi mới nhớ ra rằng có nhiều lúc tôi thấy ông ấy nói một
mình là ông ấy muốn trở thành hiệp sĩ giang hồ, đi khắp thiên hạ tìm kiếm
chuyện mạo hiểm. Quỷ Satăng bắt những quyển sách ấy đi. Chúng đã làm hư hỏng
một con người tài giỏi nhất xứ Mantra.
Cô cháu gái
cũng nói xen vào:
- Bác Nicôlax
ạ (đó là tên bác phó cạo), nhiều khi cậu cháu đọc thông hai ngày đêm những
chuyện phiêu lưu khốn kiếp ấy. Sau đó, cậu cháu bỏ sách xuống, cầm lấy thanh
gươm đâm chém liên hồi cho đến khi mệt nhoài. Rồi cậu bảo là cậu đã giết được
bốn tên khổng lồ cao như bốn ngọn tháp; thấy mồ hôi trên người, cậu bảo đấy là
máu bị kẻ địch chém phải. Xong rồi, cậu bê cả vò nước lã uống một hơi, bảo đó
là nước thần uống vào khỏi hẳn mệt nhọc, do ông bạn pháp sư nổi tiếng Exkiphê
tặng. Tất cả chỉ tại cháu thôi. Giá như cháu sớm kể với các bác tính nết ngông
cuồng của cậu cháu để các bác chỉ giúp thì đâu đến nông nỗi này; các bác sẽ đốt
hết đống sách độc hại đáng quẳng vào lửa kia như những sách tà giáo.
- Ta cũng nghĩ
vậy, Cha xứ nói, và nhất định chỉ trong ngày mai ta sẽ đốt hết đống sách đó, để
phòng những kẻ khác đọc phải và bắt chước ông bạn đáng quý của ta.
Đôn Kihôtê và
bác nông phu đứng ngoài nghe thấy hết; lúc này, bác đã hiểu hết căn bệnh của
chàng hiệp sĩ, bèn gọi to:
- Hãy mở cửa
đón hầu tước Đê Mantua
là hiệp sĩ Valđôvinôx bị thương nặng trở về và đón cả anh chàng người Môrô
Abinđaraêx bị hiệp sĩ dũng cảm Đôn Rôđrigô đê Narvaex, tỉnh trưởng Antêkêra bắt
làm tù binh về đây nữa.
Mọi người
trong nhà xổ ra: Cha xứ và bác phó cạo nhận ra bạn của mình, bà quản gia và cô
cháu gái nhận ra ông chủ và ông cậu, họ ôm chầm lấy Đôn Kihôtê vẫn ngồi trên
lưng lừa vì không sao xuống được; chàng nói:
- Khoan đã, ta
trọng thương vì lỗi tại con ngựa, hãy dìu ta vào giường và nếu có thể, hãy mời
bà Urganđa tài giỏi tới chữa trị các vết thương cho ta.
- Đã bảo mà,
bà quản gia nói, đã biết ngay ông chủ bị què cẳng mà. Thôi mời ông vào nhà để
chúng tôi thuốc thang cho, chẳng cần tới mụ Ganđa Gan điếc gì đâu. Những cuốn
sách kiếm hiệp trăm lần đáng nguyền rủa đã đưa ông tới cơ sự này đây.
Mọi người dìu
Đôn Kihôtê lên giường và sau khi xem xét kỹ, họ thấy không có thương tích gì
cả. Chàng đáp là chỉ thấy nhức nhối mình vì con Rôxinantê hụt chân, chàng bị
ngã ngựa vì đánh nhau với mười tên khổng lồ hung tợn nhất trên đời.
- Đấy, Cha xứ
nói, lại chuyện khổng lồ rồi. Xin thề là nội nhật ngày mai, tôi sẽ đốt sạch bọn
chúng.
Mọi người xúm
lại hỏi han Đôn Kihôtê nhưng chàng chẳng buồn trả lời, chỉ đòi ăn và đi ngủ,
hai việc quan trọng nhất với chàng lúc này. Trong lúc đó, Cha xứ hỏi cặn kẽ bác
nông phu đã làm thế nào tìm thấy Đôn Kihôtê. Bác này thuật lại toàn bộ sự việc,
kể lại cả những lời nói kỳ quặc của chàng, khiến Cha xứ càng thêm quyết tâm
thực hiện ý đồ của mình. Ngày hôm sau, ông rủ bác phó cạo Nicôlax cùng đến nhà
Đôn Kihôtê.
Chương 6: Cha xứ và bác phó cạo kiểm tra kho sách của nhà quý tộc
Khi
hai người tới nơi, Đôn Kihôtê vẫn còn ngủ. Họ bảo cô cháu gái đưa chìa khóa
gian phòng chứa chấp những quyển sách tai hại; cô này vui vẻ đưa ngay, và cả ba
người mở cửa vào, theo sau là bà quản gia. Trong phòng có hơn một trăm pho sách
lớn đóng rất đẹp, và nhiều cuốn khác nhỏ hơn. Bà quản gia vội quay ngoắt ra rồi
một lát sau trở lại với một cóng nước thánh và một cái ngù để rảy. Bà nói:
- Xin Cha hãy
cầm lấy và rảy khắp phòng để đuổi hết lũ phù thủy nhan nhản trong đống sách, đề
phòng chúng thù vì bị ta tống cổ khỏi trái đất này.
Lời nói chất
phát khiến Cha xứ phì cười. Ông bảo bác phó cạo đưa cho từng quyển để xem trong
đó nói gì, vì chắc có những quyển không đáng phải hỏa thiêu.
- Ấy chớ, cô
cháu gái nói, Cha không nên trừ một quyển nào vì chúng nó đều làm hại đến cậu
cháu cả. Tốt hơn hết là quẳng tất qua cửa sổ xuống sân rồi chất đống đốt sạch,
hoặc khuân xuống sân sau đốt cho đỡ khói.
Bà quản gia
cũng đồng ý xử tử những quyển sách vô tội, nhưng Cha xứ còn muốn xem qua những
tên sách. Bác Nicôlax lấy quyển thứ nhất nhan đề là Amađix nước Gôlơ gồm bốn
tập. Cha xứ nói:
- Có một điều
tôi không rõ lắm là tôi nghe nói quyển sách kiếm hiệp này được xuất bản đầu
tiên ở Tây Ban Nha, từ đó mới sinh sôi nảy nở ra các quyển khác. Vì nó là tên
đầu sỏ của một trường phái nguy hại như vậy nên thiết tưởng phải vứt ngay vào
đống lửa, không do dự gì hết.
- Thưa Cha,
không phải thế đâu, bác phó cạo đáp; tôi thấy nói rằng đây là quyển hay nhất,
có một không hai, trong loại sách kiếm hiệp; bởi vậy xin hãy tha tội cho nó.
- Cũng đúng,
Cha xứ nói; và vì lý do đó, hãy cho nó sống. Nào, bác đưa tôi quyển bên cạnh
xem sao.
- Đây là Những
chuyện oanh liệt của Explanđian, con đẻ của Amđix nước Gôlơ.
- Quả thật đứa
con này không xứng đáng với những thành tích của cha nó. Đây, bà quản gia, hãy
cầm lấy và mở cửa sổ vứt ra sân. Nó sẽ là quyển đầu tiên bị đốt.
Bà quản gia
khoái chí đỡ ngay lấy, và thế là anh chàng Explanđian bị quăng luôn ra sân chờ
thiêu.
- Ta làm tiếp,
cha xứ nói.
- Đây là
Amađix nước Hy-lạp, và hình như cả cái đống ở phía bên này cũng đều thuộc dòng
họ Amađix thì phải.
- Vứt tất ra
sân; đốt bà hoàng Pintikiniextra đi, đốt anh chăn cừu Đarinel với những bài ca
mục đồng của chàng, cùng những câu văn kỳ quặc và khó hiểu của tác giả đi, dù
phải đốt cả ông thân sinh ra tôi một khi ông cụ cũng đi làm cái nghề hiệp sĩ
giang hồ này.
- Tôi tán
thành, bác phó cạo nói.
- Cháu cũng
vậy, cô cháu gái hùa theo.
- Thế thì đưa
cả đây cho tôi khuân xuống sân sau, bà quản gia lên tiếng.
Sách nhiều
quá, đi cầu thang sợ lâu, bà quản gia bèn ném tất qua cửa sổ.
- Quyển gì to
thế kia? Cha xứ hỏi.
- Đó là Đôn
Olivantê đê Laora.
Người viết
quyển này đồng thời là tác giả cuốn Vườn hoa, Cha xứ nói. Thực ra, cũng khó
đánh giá quyển nào viết đúng sự thật hơn, hay nói cho đúng, quyển nào ít bịa
đặt hơn. Chỉ biết rằng quyển này phải quẳng ra sân vì sự vô lý của nó.
- Đây là
Phlôrixmartê đê Ircania.
- Ngài
Phlôrixmartê đấy ư? Mời ngày mau mau ra sân mặc dù ngài sinh ra trong hoàn cảnh
khác thường và có những chuyện phiêu lưu nổi tiếng; văn chương của ngài cứng
nhắc và khô khan lắm, chỉ đáng đốt đi thôi. Bà quản gia, hãy vứt nó ra sân cùng
với quyển này nữa.
- Thưa ngài,
tôi rất vui lòng, bà quản gia vừa đáp vừa phấn khởi chấp hành lệnh của Cha xứ.
- Đây là Hiệp
sĩ Platir.
- Quyển này cũ
lắm và không có một lý do nào được miễn tội cả. Hãy cho nó theo gót những quyển
kia, không được biện bạch gì hết.
Tới một quyển
khác nhan đề: Hiệp sĩ thánh giá.
- Với một cái
tên tôn nghiêm như vậy, Cha xứ nói, cuốn này đáng được tha tội dốt nát. Nhưng
ta thường nói: "Đằng sau cây thánh giá có con quỷ". Thôi, đốt đi.
Bác phó cạo
lại lấy một cuốn khác.
- Đây là Tấm
gương của giới hiệp sĩ.
- Tôi biết
rồi, Cha xứ nói. Trong này có ngài Râynalđô đê Môntalban cùng bạn hữu của ngài,
một lũ ăn cắp. Lại có cả mười hai vị Đình thần nước Pháp và sử gia chính cống
Turpin. Theo tôi, chỉ nên bắt nó đi đày chung thân vì nó có đóng góp vào sáng
tác của nhà văn hào Matêô Bôiarđô và của thi sĩ Luđôvicô Ariôxtô. Riêng về thi
sĩ này, nếu tôi tìm thấy ở đây những tác phẩm bằng tiếng ngoại quốc, tôi sẽ
không tha; nhưng nếu bằng tiếng mẹ đẻ thì tôi xin đội ngay lên đầu.
- Tôi có bằng
tiếng Ý-đại-lợi, bác phó cạo nói, nhưng tôi chẳng hiểu gì hết.
- Càng may. Có
một ngài đại úy đã dịch nó ra tiếng Tây Ban Nha nhưng chẳng ra gì, làm mất cả
giá trị cuốn sách. Nhiều người thích dịch thơ, nhưng dù cho họ thận trọng và
tài giỏi đến mấy cũng không có được những bản dịch hay như nguyên bản. Theo ý
tôi, đối với quyển này cũng như những quyển khác viết về nước Pháp, chỉ có cách
xếp tất vào một cái hố khô ráo cho tới khi tìm ra được một biện pháp giải
quyết. Tuy nhiên, nếu tôi vớ được cuốn Bernarđô đel Carpiô - chắc nó quanh quẩn đâu đây - và
cuốn Rônxêxvaiêx, tôi sẽ đưa ngay cho bà quản gia quẳng vào lửa, không chút do
dự.
Bác phó cạo
hoàn toàn tán thành ý kiến của Cha xứ; bác thấy Cha là một nhà tu hành chân
chính, biết trọng chân lý.
Hai người tiếp
tục kiểm tra. Bác phó cạo lấy một quyển nhan đề là Palmêrin đê Ôliva; bên cạnh
đó là quyển Palmêrin nước Anh-cát-lợi. Thoạt nhìn, Cha xứ nói ngay:
- Hãy đem anh
Ôliva này nghiền cho nát rồi đốt khi không còn tí tro nào. Trái lại, phải giữ
và bảo quản thật tốt cuốn Palmêrin nước Anh-cát-lợi, coi nó như một tác phẩm có
một không hai. Phải đóng cho nó một cái hộp quý như cái hộp mà Alêhanđrô đã tìm
thấy trong đống di vật của Đariô và sau đó dùng để đựng những tác phẩm của thi
hào Ômêrô. Bác phó ạ, cuốn sách này có hai ưu điểm; một là bản thân nó rất hay,
hai là theo người ta đồn, cuốn sách do một ông vua Bồ Đào Nha có tài viết. Tất
cả những câu chuyện ở lâu đài Miraguarđa đều rất hấp dẫn, viết có kỹ xảo; những
câu đối thoại lịch sự, rõ ràng, thông minh, rất thích hợp với tính cách của
từng nhân vật. Theo tôi, chỉ có quyển này và quyển Amađix nước Gôlơ đáng được
sống, còn tất cả những cuốn khác phải chết, không lôi thôi gì hết. Ý kiến bác
ra sao?
- Không đâu,
ông bạn ạ, bác phó cạo đáp, vì cuốn Đôn Bêlianix tôi đang cầm đây là một cuốn
nổi tiếng.
- Cuốn này ư?
Cần lấy đại hoàng để chữa phần hai, phần ba và phần bốn của nó vì trong đó có
nhiều mật đắng quá; ngoài ra, cũng cần tước bớt câu chuyện ở lâu đài Phama và
những chuyện bậy bạ khác. Ta sẽ gia hạn cho nó một thời gian để sửa chữa, sau
đó sẽ khoan hồng hoặc trị tội. Trong khi chờ đợi, bác hãy tạm mang về nhà nhưng
chớ cho ai đọc.
- Xin đồng ý.
Tới đây, Cha
xứ bảo bà quản gia vứt hết những pho sách lớn ra sân vì ông chẳng còn sức kiểm tra
nữa. Bà này sốt sắng làm ngay vì đối với bà, thật không có việc nào thích thú
hơn là đốt hết cả đống sách. Bà ôm bảy, tám quyển một lúc vứt ra sân. Vì quá ôm
đồm, có một quyển rớt ngay cạnh chân bác phó cạo; bác nhặt lên xem, thấy đề:
Truyện hiệp sĩ trứ danh Tirantê el Blancô. Cha xứ vội kêu lên:
- Phúc đức
quá! Tirantê el Blancô đấy à? Đưa đây cho tôi. Trong này chứa cả một kho truyện
rất ly kỳ, lý thú. Nào là truyện hiệp sĩ dũng cảm Đôn Kiriêlây xôn đê
Môntalban, truyện em chàng là Tômax đê Môntalban và hiệp sĩ Phônxêca, nào là
truyện hiệp sĩ Tirantê đánh nhau với con chó dữ tợn, nào là những nét sắc sảo
của cô hầu tên gọi là Sự-khoái-lạc-của-đời-tôi, những mối tình và những mưu mẹo
của bà quả phụ Rêpôxađa, nào là truyện bà hoàng hậu mê anh kỵ sĩ theo hầu
Ipôlitô. Xin nói thật với bác rằng, về mặt văn phong, đây là quyển sách hay
nhất. Trong này, tác giả tả các hiệp sĩ ăn ngủ như thế nào, họ chết và làm di
chúc trước khi chết như thế nào, và còn bao nhiêu chuyện nữa mà những sách kiếm
hiệp khác không có. Tuy nhiên, tác giả của nó đáng phải tội tào dịch 1 suốt đời
vì đã viết những chuyện quá ngớ ngẩn. Bác hãy mang về đọc và sẽ thấy lời tôi
nói không sai.
- Xin vâng,
bác phó cạo đáp; thế còn những cuốn sách nhỏ này thì sao?
- Chắc không
phải sách kiếm hiệp đâu mà là thơ đấy.
Nói rồi, Cha
xứ mở một quyển ra xem; đó là Nữ thần Điana của Horhê đê Môntêmayor. Nghĩ rằng
những quyển khác cũng cùng loại này, ông nói:
- Những quyển
này không đáng phải đốt vì không có hại và sẽ không bao giờ có hại như sách
kiếm hiệp. Loại sách này có nội dung tốt, không đầu độc ai cả.
- Ấy chết, cô
cháu gái lên tiếng, xin ngài hãy ra lệnh đốt tất vì một khi cậu cháu khỏi bệnh
hiệp sĩ giang hồ mà lại đọc những quyển này, ngài sẽ cao hứng đóng vai chăn cừu
đi lang thang khắp núi rừng, vừa hát vừa thổi sáo thì thật quá tội; hoặc giả,
ngài trở thành thi sĩ lại càng chết vì cháu nghe nói, đó là một bệnh không chữa
được và hay lây.
- Con bé nói
phải, Cha xứ đáp; tốt hơn hết là tránh cho ông bạn ta từ nay về sau khỏi bị cám
dỗ. Còn về quyển Nữ thần Điana của Môntêmayor, tôi có ý kiến là không nên đốt
vì đó là quyển xuất sắc nhất trong loại này. Tuy nhiên, phải cắt nói về mụ pháp
sư Phêlixia và nước thần, bỏ hầu hết những câu thơ, chỉ giữ lại phần văn xuôi
thôi.
- Quyền tiếp theo
là Nữ thần Điana thứ hai của Xalmantinô và một quyển của Hil Pôlô, nhan đề
giống như quyển trên.
Hãy vứt
Xalmantinô ra sân cho nó làm bạn với đám bị kết án tử hình, còn quyền của Hil
Pôlô thì phải giữ gìn cẩn thận.Thôi, ta làm tiếp đi, bác phó, nhanh tay lên kẻo
muộn rồi.
Bác phó cạo
giở một quyển khác và nói:
- Đây là Mười
tập sách về tình yêu của nàng Phortuna, của nhà thơ ở đảo Xerđêgna tên là
Antôniô đê Lôphraxô.
- Tôi xin lấy
danh dự của một nhà tu hành mà nói rằng từ ngày có thần Apôlô, có các thi thần
và các nhà thơ, chưa có quyển nào lý thú như quyển này. Đây là quyển hay nhất,
có một không hai trong loại. Ai chưa đọc nó có thể coi như chưa được đọc một
quyển sách hay bao giờ. Bác đưa đây cho tôi. Được quyển này, tôi còn thích hơn
được ai cho một cái áo thầy tu mua tận Phlôrenxia.
Cha xứ để
riêng cuốn sách sang một bên với một vẻ khoái chí. Bác phó cạo làm tiếp:
- Đây là Chàng
chăn cừu ở Ibêria, Những nữ thần ở Enarêx và Phương thuốc chữa bệnh ghen.
- Tốt hơn hết
là hãy đưa cả cho bà quản gia xét xử. Và xin đừng hỏi tôi tại sao, vì sẽ không
bao giờ giải đáp xong.
- Đây là Chàng
chăn cừu Philiđa.
- Không phải
chàng chăn cừu mà là một Đình thần khôn ngoan. Hãy giữ lại và coi đó là một báu
vật.
- Quyển sách
to này nhan đề là Bảo tàng thi ca.
- Giá nó không
nhiều thơ ca như vậy, chắc sẽ có giá trị hơn vì bên cạnh những bài rất hay có
một vài bài dở quá, cần phải tước bỏ đi. Nhưng thôi, ta cứ giữ lại vì tác giả
là một người bạn của tôi; vả chăng, ông ta đã từng có tác phẩm hay hơn nhiều.
- Đây là cuốn
Ca sĩ của Lôpêx Malđônađô.
- Tác giả của
nó là bạn thân của tôi. Khi ông ta ngâm những bài thơ do chính mình sáng tác,
ai nghe cũng phải mê. Giọng rất ấm và êm tai. Những bài ca mục đồng hơi dài một
chút, nhưng cái gì hay không sợ thừa. Hãy giữ lại. Nhưng kìa, quyển gì ở bên
cạnh thế kia.
- Đó là La
Galatêa của Mighel đê Xervantêx.
- Ông
Xervantêx này là một người bạn cố tri của tôi đấy. Ông ta viết về những nỗi bất
hạnh của người đời hay hơn làm thơ. Trong cuốn này, ông ta có ý đồ tốt, nhưng
ông đặt vấn đề ra rồi chẳng giải quyết gì cả. Cần chờ đọc phần hai mà tác giả
đã hứa sẽ cho ra mắt. Có lẽ sau khi sửa sai, ông ta sẽ được độc giả tha thứ.
Trong khi chờ đợi, bác hãy mang về cất kỹ ở nhà.
- Rất vui
lòng. Còn đây là ba cuốn khác đi cùng với nhau: La Araocana của đôn Alônxô đê
Erxiia, La Aoxtriađa của Huan Ruphô, bồi thẩm tỉnh Corđôba, và El Mônxêratô của
Crixtôbal đê Viruêx, thi sĩ tỉnh Valenxia.
- Cả ba đều là
những thiên anh hùng ca tuyệt tác bằng tiếng Tây Ban Nha, có thể đọ với những
tác phẩm nổi tiếng nhất của nước Ý-đại-lợi. Hãy giữ lại, coi đó như những viên
ngọc trong kho tàng thơ ca của Tây Ban Nha.
Lúc này, Cha
xứ đã thấy mệt, muốn đốt tất đống sách còn lại, không cần xem xét gì nữa. Nhưng
bác phó cạo lại đưa cho một quyển khác nhan đề là Nàng Anhêlica khóc. Vừa trông
thấy, Cha xứ vội nói:
- Tôi cũng sẽ
khóc nếu phải ra lệnh đốt quyển này. Tác giả là một trong những nhà thi hào nổi
tiếng nhất không những ở Tây Ban Nha mà trên khắp hoàn cầu; ngoài ra, ông ta
còn thành công lớn trong việc dịch một số thơ ngụ ngôn của Ôviđiô.

