Biên niên sử Narnia (Tập 3) - Chương 01
CHƯƠNG 1
Shasta bắt đầu cuộc hành trình
Đây là câu chuyện phiêu lưu xảy ra
ở Narnia, Calormen và những miền đất ở giữa hai đất nước này vào thời đại Vàng
khi Peter Đại đế trị vì xứ Narnia cùng vua Edmund, nữ hoàng Susan và nữ hoàng
Lucy.
Ngày ấy, ở miền nam xa xôi của xứ
Calormen, bên một cái vịnh nhỏ ăn ra biển, có một người đánh cá nghèo khổ tên
là Arsheesh, ở cùng với lão có một thằng bé gọi lão là cha. Tên thằng bé là
Shasta. Hầu như ngày nào Arsheesh cũng chèo thuyền ra khơi đánh cá từ lúc trời
tờ mờ sáng, đến chiều tối, lão thắng con lừa của mình vào một cỗ xe, chất lên
xe đầy cá tươi và đi một chặng đường chừng một dặm hoặc xa hơn một chút về phía
nam vào trong làng bán cá. Nếu việc buôn bán diễn ra suôn sẻ, lão sẽ về
nhà với tâm trạng vui vẻ và chẳng nói gì với Shasta, nhưng nếu việc buôn bán ế
ẩm, lão sẽ moi ngay ra lỗi của nó và có thể sẽ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay
với nó. Bao giờ chẳng dễ tìm ra lỗi của nó vì mọi việc trong nhà đều đến tay
nó: vá và giặt lưới này, nấu cơm nấu nước này, quét dọn, lau chùi ngôi nhà nhỏ
mà hai người cùng chung sống này.
Shasta chẳng hề quan tâm đến bất cứ
cái gì nằm ở phía nam ngôi làng của nó, bởi vì nó đã từng đi với ông Arsheesh
một hoặc hai lần đến đó và nó biết rằng chẳng có cái gì thú vị ở đấy hết. Ở đó
nó cũng gặp những người đàn ông giống như cha nó mặc những chiếc áo choàng dài,
nhơ bẩn, đi những đôi guốc mộc để tòe cả những ngón chân ra ngoài, đầu đội
khăn, râu để dài, nói nhẩn nha từng tiếng một về những chuyện chán ngắt. Nhưng
Shasta lại quan tâm đến tất cả những gì nằm ở phía bắc bởi vì chưa từng có ai
đi về hướng này và nó cũng không được phép đi đến đấy. Khi nó ngồi ở ngoài sân
vá lưới một mình, nó thường háo hức nhìn về hướng bắc. Bạn sẽ chẳng nhìn thấy
bất cứ thứ gì ngoài một cái dốc cỏ mọc um tùm dẫn đến một đỉnh đồi trọc và xa
hơn nữa là bầu trời, có lẽ còn có một vài con chim bay qua liệng lại trên đầu.
Đôi khi nếu có Arsheesh ở đây
Shasta khẽ hỏi:
- Ôi cha ơi, có cái gì ở phía sau
quả đồi kia vậy?
Khi ấy, nếu lão đánh cá ở trong một
tâm trạng bực bội lão sẽ cho nó một cái bạt tai và bảo nó hãy chú tâm vào công
việc. Còn nếu đang cao hứng hoặc khoan khoái trong lòng thì lão lại nói:
- Ôi con trai, đừng cho phép đầu óc
mình trở nên lộn xộn vì những câu hỏi vô ích. Bởi vì có một nhà thơ đã nói: Tập
trung cho công việc là cội rễ của sự giàu có còn những ai hỏi những câu bâng
quơ chẳng liên quan gì đến mình chỉ giống như lái con tàu của sự điên rồ đâm
vào dải đá ngầm của sự bần cùng.
Shasta thì nghĩ phía sau ngọn đồi
kia chắc chắn phải có một bí mật thú vị nào đó mà cha nó muốn giấu nó. Thực ra,
người đánh cá nói như vậy vì lão cũng chẳng biết có cái gì nằm ở phía bắc. Mà
lão cũng chẳng thèm bận lòng. Lão có một lối suy nghĩ rất chi là thực tiễn.
Một hôm, có người lạ từ phương nam
đi tới, người này không có bất cứ một điểm chung nào với những người đàn ông mà
Shasta đã gặp. Ông ta cưỡi một con ngựa đốm, nom ra dáng một con
ngựa chiến khỏe mạnh, bờm rủ xuống, đuôi dài, bàn đạp và yên cương đều có giát
bạc trắng. Người khách lạ đội mũ nhà binh, đầu nhọn bằng kim loại của cái mũ
trụ chĩa lên từ khoảng giữa của cái khăn quấn đầu bằng lụa và ông ta mặc một
cái áo giáp có dây xích. Ở một bên hông, ông ta đeo lủng lẳng một cây mã tấu
chạm trổ, sau lưng đeo một cái khiên tròn có đóng những cái mấu bằng
đồng. Tay phải ông nắm chặt một cái
giáo. Người lạ có nước da màu bánh mật nhưng điều này không làm cho Shata ngạc
nhiên, bởi vì tất cả mọi người ở Calormen đều có nước da thẫm như thế; điều làm
nó thắc mắc là bộ râu nhuộm màu đỏ, quăn quăn và bóng nhẫy bởi một loại dầu xức
có mùi thơm.
Nhưng lão đánh cá Arsheesh thì căn
cứ vào cái vòng vàng đeo trên cổ tay người lạ mà biết ông ta là một Tarkaan tức
là một lãnh chúa lớn; thế là lão quỳ mọp trước mặt người khách, thấp đến nỗi
râu chạm cả xuống đất và ra dấu cho Shasta cùng quỳ theo.
Người khách lạ yêu cầu được ngủ nhờ
một đêm và tất nhiên người đánh cá đâu dám khước từ. Tất cả những món ngon lành
được dọn ra trước mặt Tarkaan (mà ông ta cũng chẳng thèm chú ý đến nhiều), còn
Shasta như bao giờ cũng thế, mỗi khi người đánh cá có khách, chỉ được nhận một
khoanh bánh mì khô và cái lệnh trốn đi cho khuất mắt. Trong những trường hợp
này nó thường ngủ với con lừa trong cái chuồng lừa nhỏ có cài then. Nhưng chiều
hôm ấy còn quá sớm để đi ngủ và Shasta đến tuổi ấy mà còn chưa được biết rằng
nghe lén sau các cánh cửa là một việc làm sai trái, bèn ngồi bên ngoài ghé tai
vào một khe hở của bức tường gỗ nghe lỏm câu chuyện giữa cánh đàn ông với nhau.
Đây là những gì mà nó nghe được.
- Này ông chủ nhà, - Tarkaan nói, -
tôi muốn mua thằng bé nhà ông.
- Ôi thưa ông chủ, - người đánh cá
đáp, - (và Shasta biết cùng với giọng điệu này một cái vẻ tham lam bao giờ cũng
hiện lên rõ mồn một trên khuôn mặt cha nó) - có cái giá nào khiến kẻ tôi tớ
nghèo hèn của ngài bán đi đứa con duy nhất, người thân duy nhất, chỗ tựa nương
duy nhất lúc về già? Chẳng phải là một trong những nhà thơ của chúng ta đã nói:
“Tình cảm tự nhiên mạnh hơn món súp và đứa con trai duy nhất quý hơn ngọc đỏ”
đó sao?
- Quả có thế. - Khách đáp giọng khô
khan. - Nhưng có một nhà thơ khác lại nói: “Kẻ nào mưu toan đánh lừa sự khôn
ngoan đã mang sẵn trên lưng tai họa”. Thôi đừng có nhét thêm vào cái miệng già
nua của lão những lời dối trá nữa, thằng bé này không phải là con lão bởi vì
đôi má lão đen sạm chẳng kém gì ta, còn thằng bé này lại đẹp đẽ da trắng trẻo
không khác gì cái bọn người man rợ đáng bị nguyền rủa nhưng lại có vẻ ngoài đẹp
đẽ miền bắc xa xôi kia.
- Đúng như một câu danh ngôn đã nói
rằng, - người đánh cá lại leo lẻo, - thanh gươm không qua khỏi tấm
khiên và con mắt của sự thông thái chọc thủng tất cả sự giả trá! Ôi vị
khách lỗi lạc của tôi, hãy biết rằng vì nghèo rớt mồng tơi mà tôi không thể lấy
vợ và có con. Nhưng cũng vào cái năm mà Tisroc (Thánh thượng vạn tuế, vạn vạn
tuế) bắt đầu triều đại thịnh trị và nhân đức của mình, có một đêm rằm trăng đẹp
đến mức làm hài lòng các vị thánh thần nhưng lại tước mất giấc ngủ của tôi. Vì
thế tôi rời khỏi cái giường trong túp lều rách nát này đi ra ngoài bãi biển
hòng làm cho mình khuây khỏa bằng cách ngắm nhìn mặt biển, vầng trăng và hít
thở không khí se lạnh ban đêm. Chợt tôi như nghe thấy tiếng mái chèo khua nước
của một con thuyền đang bơi về phía mình và sau đó là một tiếng kêu yếu ớt. Chỉ
một lát sau, con sóng đẩy vào bờ một con thuyền nhỏ, trên chẳng có gì ngoài một
người đàn ông ốm nhách vì vừa đói vừa khát - người này dường như vừa tắt thở
trước đấy (bởi vì thi thể ông ta còn âm ấm) - một bình nước bằng da không còn
lấy một giọt và một đứa trẻ vẫn còn thoi thóp. “Không còn nghi ngờ gì nữa”, tôi
nghĩ, “Những kẻ khốn khổ này vừa thoát khỏi một vụ đắm tàu, nhưng nhờ vào sự
sắp đặt đáng kính phục của các vị thánh thần, người đàn ông này đã chịu đói
khát để cho đứa trẻ này được sống sót, ông ta đã trút hơi thở cuối cùng khi
nhìn thấy đất liền.” Như vậy, nhờ noi theo và luôn ghi nhớ rằng thánh thần
không bao giờ quên không thưởng cho những ai giúp đỡ kẻ khốn và cũng cảm động
bởi một tình thương yêu (bởi vì kẻ đầy tớ của ngài là một người đàn ông có trái
tim mềm yếu, vị tha…)
- Im đi, hãy để những lời dông dài
ấy cho những lời cầu nguyện của ngươi. - Tarkaan cắt ngang. - Biết ngươi nhặt
thằng bé về nuôi thế là đủ. Và thằng bé ấy đã đền lại hạt cơm ngươi cho nó ăn
gấp mười lần, bằng chính lao động của nó - như ai cũng có thể thấy rõ. Còn bây
giờ thì nói ngay cho ta biết ngươi đòi cái giá bao nhiêu bởi vì những lời lẽ ba
hoa của ngươi làm rác tai ta lắm.
- Ngài đã rất khôn ngoan khi nói
rằng lao động của thằng bé đối với tôi là một cái gì không thể đo hết giá trị,
điều này cũng sẽ được tính thêm vào cái giá ấy. Bởi vì nếu bán nó đi thì không
còn gì phải nghi ngờ hoặc là tôi phải mua lại một đứa khác hoặc là phải thuê
một nhân công để làm công việc của nó.
- Ta sẽ trả cho ngươi 15 đồng. -
Tarkaan nói.
- Mười lăm đồng! - Arsheesh kêu lên
bằng một giọng nửa như rên rỉ, nửa như kêu gào. - Mười lăm đồng để nương tựa
khi tuổi già sức yếu, để đem lại niềm vui trong mắt tôi. Đừng có chế giễu bộ
râu bạc của tôi như thế Tarkaan, dẫu ngài có muốn như vậy. Cái giá của tôi là
70 đồng.
Nghe đến đây Shasta đứng dậy nhón
chân bỏ đi. Nó đã nghe đủ những điều cần nghe bởi vì nó biết tỏng những chuyện
mặc cả trong làng và biết rõ nó sẽ diễn ra như thế nào. Chắc chắn thì cuối cùng
Arsheesh sẽ bán nó với cái giá nhiều hơn 50 đồng và ít hơn 70 đồng. Rằng ông ta
và Tarkaan sẽ mất đến hàng giờ để đi đến thỏa thuận đó.
Chắc bạn cũng không cần phải mường
tượng ra nỗi lòng của Shasta. Nó cũng như bạn và tôi rất xót xa nếu nghe được
sự trao đổi trong đó cha mẹ ruột bán chúng ta đi làm nô lệ cho nhà người. Có
một điều, cuộc sống hiện tại của nó không khá hơn hoàn cảnh của một kẻ tôi đòi
là bao; với tất cả những gì nó biết thì người khách lạ có tác phong quyền quý
cưỡi trên con ngựa đẹp này có thể đối xử với nó còn tử tế hơn Arsheesh. Còn một
điều nữa, câu chuyện về việc tìm thấy nó trên một con thuyền khiến nó rất hào
hứng và có một cái như là một sự giải thoát. Nó thường cảm thấy băn khoăn bối
rối bởi vì nó không sao yêu thương được người mà nó vẫn gọi là cha và theo chỗ
nó biết thì một đứa con trai cần phải yêu thương cha mình. Bây giờ thì rành là
nó không có một mối quan hệ nào với ông ta. Điều này giải phóng nó ra khỏi một
vấn đề đè nặng lên lương tâm nó.
- Vậy ra mình có thể là một người
nào đó, - nó nghĩ, - có thể là con trai của một Tarkaan hoặc là con trai của
chính Tisroc (Thánh thượng vạn tuế, vạn vạn tuế) - hoặc là con trai của một vị
thần!
Nó đang đứng ngoài bãi cỏ trước túp
lều trong khi nghĩ ngợi những chuyện này. Ánh chiều chạng vạng. Đêm phương nam
buông xuống rất nhanh, vài vì sao đã hiện lên trên nền trời, nhưng ráng chiều
hôm vẫn còn bảng lảng cuối chân trời phía tây. Cách chỗ nó đứng không xa, con
ngựa của người khách lạ, được cột tạm vào một cái vòng sắt gắn trên vách chuồng
gia súc đang gặm cỏ. Shasta bước đến gần, vỗ vỗ lên cổ nó. Con ngựa vẫn tiếp
tục bứt từng nạm cỏ không thèm chú ý đến nó.
Rồi có một ý nghĩ khác lóe lên
trong đầu nó, không hiểu cái ông Tarkaan này thuộc loại người nào? - Nó nói to
lên thành tiếng. - Thật là tuyệt vời nếu ông ta là một người tử tế. Mấy người
nô lệ ở nhà chúa đất đằng kia chẳng phải làm lụng gì nhiều. Họ mặc những bộ
quần áo rõ đẹp và ngày nào cũng được ăn thịt. Có thể ông ấy sẽ đưa mình đi ra
trận, rồi mình sẽ xông pha nơi chiến trường, cứu sống ông ấy, sau đó… sau đó
ông ấy sẽ giải phóng cho mình và nhận mình làm con, ban cho mình một tòa lâu
đài, một cỗ xe và một bộ áo giáp. Nhưng mà, nếu ông ta là một người cực kỳ độc
ác thì sao? Ông ta có thể xiềng mình lại, bắt mình phải lao động khổ sai, ước
gì mình có thể biết được. Làm sao có thể biết rõ đây? Mình đoán con ngựa này
biết, nếu như nó có thể nói được.
Con ngựa ngẩng đầu lên, Shasta vuốt
ve cái mũi mịn như satanh của nó:
- Ước gì ngươi có thể nói được, anh
bạn già ạ!
Và rồi trong vòng một giây nó ngỡ
như mình đang nằm mơ, bởi vì ngựa nói một cách rõ ràng, dù với cái giọng ồm ồm
trầm và đục:
- Nhưng tôi có thể nói được.
Shasta nhìn chằm chằm vào đôi mắt
to của con ngựa. Mắt nó cũng mở to gần bằng mắt ngựa và một nỗi kinh ngạc không
thể diễn tả được.
- Làm thế nào mà anh có thể nói
được?
- Suỵt! Đừng có gào tướng lên như
thế. Ở quê hương tôi khó mà kiếm ra được con ngựa nào không biết nói.
- Vậy quê hương anh nằm ở đâu vậy?
- Narnia, - cái giọng ồm ồm của con
ngựa ngân lên, - mảnh đất hạnh phúc Narnia - Narnia của những đỉnh núi mọc đầy
bụi thạch nam, những sườn dốc mọc đầy húng dây, Narnia của bao nhiêu dòng sông
lớn nhỏ, những thung thũng nước ngập xâm xấp, những hang động rêu phong, những
cánh rừng già sâu hun hút vang lên tiếp đập búa chan chát của những chú lùn.
Ôi, cái không khí thần tiên của Narnia! Một giờ sống ở đấy còn tốt đẹp hơn một
ngàn năm sống ở Calormen! - Ngựa dừng lại với một tiếng hí nghe như một tiếng
thở dài não ruột.
- Vậy tại sao anh lại đến đây?
- Bị bắt cóc hay bị ăn trộm hoặc bị
sập bẫy, cậu muốn gọi thế nào thì tùy. Lúc ấy tôi còn là một chú ngựa non. Mẹ
đã cấm tôi không được lang thang xuống những sườn dốc phía nam, đi vào đất
Archenland hoặc đi xa hơn nhưng tôi đâu có nghe. Thế là nhân danh Bờm Sư Tử tôi
đã phải trả giá cho sự ngu xuẩn của mình. Suốt bao nhiêu năm qua tôi đã phải
làm tôi tớ cho con người, che dấu bản chất thật mà giả ngô giả ngọng giả ngây
giả điếc như lũ ngựa câm điếc của họ.
- Tại sao anh không bảo cho họ biết
anh là ai?
- Tôi đâu có ngu như vậy. Một khi
người ta biết tôi có thể nói được, họ sẽ đem tôi ra trưng ngoài hội chợ và canh
chừng tôi kỹ hơn bao giờ hết. Cơ hội trốn thoát cuối cùng đã qua rồi.
- Tại sao? - Shasta vừa mới bắt đầu
nhưng ngựa đã cắt ngang.
- Coi này, tại sao chúng ta lại phí
vào những câu hỏi vô bổ như vậy? Cậu muốn biết về ông chủ của tôi, Tarkaan
Anradin? Vậy thì, ông ta là người xấu. Không chỉ quá xấu với tôi bởi vì người
ta không thể đối xử tệ bạc như vậy với một con ngựa hiếm có như tôi. Nhưng có
lẽ cậu cứ chết ngay tối nay còn hơn là làm đầy tớ trong nhà ông ta ngày mai.
- Nếu vậy, tốt hơn cả là hãy cao
chạy xa bay. - Shasta nói, mặt tái đi.
- Phải, nên làm thế, nhưng tại sao
không bỏ trốn cùng tôi?
- Vậy ra anh cũng muốn bỏ chạy?
- Phải, nếu cậu cùng đi với
tôi. Đây là cơ hội cho cả hai
chúng ta. Cậu xem đấy nếu tôi chạy rông mà không có người cưỡi, dân tình trông
thấy sẽ nói ngay: “Rõ là một con ngựa bị lạc!” thế là họ vắt chân lên cổ mà
đuổi theo tôi. Với một người điều khiển, tôi có cơ hội chạy trốn trót lọt. Đây
là chỗ cậu giúp tôi, mặt khác, cậu không thể đi xa với đôi chận vụng dại kia
(đôi chân người sao mà vô nghĩa lí thế nhỉ) mà không bị tóm. Ngồi trên mình tôi
cậu có thể bỏ xa bất cứ một con ngựa nào trên đất nước này. Đấy là chỗ tôi giúp
cậu. Mà này, tôi hy vọng cậu biết cưỡi ngựa.
- Có, tất nhiên. Ít nhất thì tôi cũng đã từng cưỡi lừa.
- Cưỡi trên cái gì? - Ngựa hí lên với một vẻ bị xúc phạm (Ít nhất thì nó
cũng có ý đó. Còn câu nói của nó vang lên trong một tiếng hí kéo dài “Cưỡi
c-á-i g-ì-ì-ì-ì?” Những con ngựa biết nói bao giờ cũng có cái xấc xược nhất là
khi chúng nổi giận).
- Nói một cách khác, - ngựa tiếp tục, - cậu cóc biết cưỡi ngựa gì hết. Đó
là một điểm bất lợi. Thôi được, tôi sẽ dạy cậu dọc đường vậy. Nếu cậu không
biết cưỡi ngựa, vậy cậu có biết ngã không?
- Tôi cho rằng ai cũng có thể ngã được.
- Tôi muốn nói cậu có thể ngã rồi đứng dậy mà không mít ướt để rồi lại dám
trèo lên lưng ngựa, lại bị ngã mà vẫn không sợ bị tôi hất xuống đất không?
- Tôi… để tôi thử xem sao. - Shasta ngập ngừng.
- Con vật nhỏ bé đáng tội nghiệp, - ngựa nói với giọng dịu hơn, - tôi quên
mất cậu cũng chỉ là một nhóc con. Chúng ta sẽ khơi dậy một kỵ sỹ giỏi trong cậu
vào đúng thời điểm. Còn bây giờ chúng ta không nên cắm cổ chạy ngay, hãy chờ
đến khi hai kẻ trong lều kia đều ngủ cả. Trong khi đó chúng ta có thể lên kế
hoạch. Ông chủ Tarkaan của tôi đang trên đường đi đến phía bắc, đến một thành
phố lớn, đó là Tashbaan, kinh đô của Tisroc…
- Nhưng mà… - Shasta nói bằng một giọng như bị sốc, - chẳng phải anh cần
phải nói thêm “Thánh thượng vạn tuế, vạn vạn tuế” hay sao?
- Để làm gì? Tôi là một công dân Narnia tự do. Tại sao tôi phải nói theo
giọng lưỡi của bọn nô lệ và bọn ngu xuẩn nhỉ? Tôi đâu có muốn ông ta trường
sinh bất tử mà tôi cũng biết rõ là ông ta không thể sống mãi cho dù tôi có thực
lòng mong muốn thế. Và tôi có thể thấy cậu cũng là một người dân miền Bắc như
tôi cho nên cái khẩu hiệu miền Nam ấy thì miễn nhé. Bây giờ quay lại kế hoạch
của chúng ta. Như tôi đã nói, người kia đang đi về hướng bắc tới Tashbaan.
- Điều đó có nghĩa là ta nên đi về hướng nam?
- Tôi không cho là thế. Cậu xem, lão ta nghĩ tôi cũng câm điếc và ngu xuẩn
như những con ngựa khác của lão. Bây giờ nếu quả tôi là như thế thì ngay khi
được bứt dây xích tôi sẽ quay về nhà, trở lại cái chuồng và bãi cỏ của mình;
trở lại lâu đài của lão cách đây 2 ngày đường về phía nam. Phải, đó là nơi lão
sẽ quay lại tìm tôi. Lão không bao giờ nghĩ đến chuyện tự tôi lại chạy về
phương bắc. Và dù sao thì lão cũng nghĩ có một kẻ nào đó trong các thôn làng
dọc đường trông thấy lão cưỡi ngựa đi qua đã theo đến tận đây bắt trộm tôi.
- Hoan hô. Như vậy chúng ta sẽ đi về phương bắc. Suốt đời tôi chỉ ao ước
được đi về phương đó.
- Tất nhiên rồi. Điều đó có trong máu cậu. Tôi chắc cậu là một dân miền Bắc
thật sự. Nhưng đừng có la to thế. Tôi nghĩ bọn họ sẽ đi ngủ ngay thôi.
- Để tôi lén quay lại đấy thăm dò xem sao. - Shasta gợi ý.
- Đó cũng là một ý tốt. Nhưng cẩn thận đừng để bị tóm đấy.
Lúc này trời đã tối hẳn, không gian vắng lặng như tờ ngoại trừ tiếng sóng
vỗ vào bờ, một điều mà Shasta khó nhận ra vì nó đã nghe tiếng động này ngày
cũng như đêm, lâu như nó có thể nhớ được. Lúc nó đến gần, túp lều của người
đánh cá đã tắt hết ánh lửa. Nó đứng ở cửa trước nghe ngóng, không có động tĩnh
gì. Khi đi vòng đến cái cửa sổ duy nhất, nó có thể nghe thấy, sau một hai giây,
âm thanh quen thuộc của tiếng ngáy rít lên từng hồi của người đánh cá già. Thật
ngộ nghĩnh khi nghĩ rằng tất cả sẽ tốt đẹp, nó sẽ không bao giờ phải nghe tiếng
ngáy này nữa. Shasta nín thở không phải là không thấy buồn buồn, nhưng niềm vui
vẫn lấn át nỗi buồn. Nó nhẹ bước trên bãi cỏ, đến chỗ chuồng lừa, mò mẫm tìm
chìa khóa ở nơi mà nó biết vẫn thường giấu chìa khóa. Nó thận trọng mở khóa,
tìm thấy bộ yên cương đã được cho vào trong chuồng, khóa kín suốt đêm. Nó cúi
xuống, hôn lên mũi con lừa: “Tao xin lỗi, chúng tao không thể đem mày theo.”
- Rốt cuộc cậu cũng tới. - Ngựa lên tiếng khi nó đến bên cạnh. - Tôi đã bắt
đầu tự hỏi là không biết có chuyện gì xảy ra với cậu chứ.
- Tôi đến để lấy mấy món đồ của anh trong chuồng. Bây giờ anh có thể bảo
tôi cách đặt yên cương.
Trong vòng vài phút, Shasta vào việc, thận trọng tránh không cho nhạc ngựa
rung lên, trong khi ngựa nói như thế này: “Thắt đai chặt hơn nữa” - “Cậu sẽ thấy
một cái khóa ở phía dưới.” - “Cậu cần phải làm cho bàn đạp ngắn hơn một chút.”
Khi tất cả đã được làm xong, ngựa nói:
- Bây giờ chúng ta đã có bộ dây cương để điều khiển, nhưng cậu không cần
dùng đến nó. Hãy buộc vào dưới yên, lỏng thôi để tôi có thể làm điều mà mình
muốn với cái đầu của mình. Hãy nhớ là cậu không được đụng đến bộ dây cương đấy.
- Nếu vậy thì nó sinh ra để làm gì?
- Thường thì dùng để điều khiển tôi. Nhưng bởi vì tôi định làm tất cả
để tự định hướng lộ trình, vì thế cậu vui lòng giữ bàn tay cho chính mình thôi.
Còn nữa, tôi sẽ không cho phép cậu được nắm bờm tôi đâu.
- Nhưng mà nếu tôi không được cầm cương cũng không được nắm bờm, thế tay
tôi biết dùng vào việc gì?
- Cậu cứ nắm lấy đầu gối của mình ấy. Đó cũng làm một mẹo trong thuật cưỡi
ngựa. Kẹp hai đầu gối vào lườn tôi, chặt như cậu có thể cố được; ngồi thẳng
lưng, thẳng đuỗn như khúc cây ấy, giữ chặt hai khuỷu tay. À mà này, cậu làm gì
với đinh thúc ngựa vậy?
- Móc vào gót chân. Ít nhất thì tôi cũng biết được điều này.
- Vậy thì hãy tháo ra và cho vào trong cái túi yên. Chúng ta có thể bán lấy
tiền khi đến Tashbaan. Sẵn sàng chưa? Bây giờ tôi nghĩ cậu có thể trèo lên được
rồi.
- Ôi, anh cao kinh khủng. - Shasta vừa thở phì phò vừa nói sau khi cố gắng
đầu tiên của nó gặp thất bại.
- Này tôi là một con ngựa hẳn hoi nhé. Bất cứ ai cũng có thể nghĩ tôi là
một đụng cỏ khô nếu căn cứ vào cái cách cậu cố trèo lên lưng tôi. Đấy, bây giờ
thì khá hơn rồi. Ngồi yên và nhớ những gì tôi bảo cậu về cái đầu gối đấy. Thật
buồn cười khi nghĩ là tôi, từng mang trên mình lính kỵ binh xông pha trận mạc
và thắng bao cuộc đua bây giờ lại mang một cái bao khoai tây như cậu trên lưng
chứ. Dù sao thì cũng xuất phát thôi. - Ngựa cười khùng khục trong cổ, không hề
có ác ý.
Chắc chắn là cuộc hành trình đêm hôm ấy được bắt đầu một cách thận trọng.
Đầu tiên ngựa đi về hướng nam, từ cái chòi của người đánh cá tới một con sông
nhỏ chảy ra biển, ngựa khôn ngoan để lại những dấu chân trên bùn chỉ về hướng
nam. Nhưng ngay khi ra đến giữa khúc sông cạn ngựa đã quay lại lội ngược dòng
và đi tiếp cho đến khi cách túp lều đánh cá chừng một trăm mét. Sau đó, ngựa
chọn bên bờ khô ráo không để lại dấu chân và đi về phía bắc. Rồi, vẫn với những
bước đi thong thả, nó lại quay về phía lều, đi quanh lều, quanh một gốc cây,
quanh chuồng lừa và dòng suối nhỏ, tất cả những nơi này - như Shasta đã biết rõ
như lòng bàn tay - đều chìm trong bóng đêm xám tro của một đêm mùa hạ. Đến đây,
người và ngựa phi thẳng lên đồi, đến cái bờ lũy bao giờ cũng là đường biên giới
của cái thế giới mà Shasta đã biết. Nó không thể nhìn thấy cái gì phía trước
trừ cỏ và một khoảng trời mở ra, trông cứ như không có điểm dừng: hoang dã, cô
đơn và tự do.
- Có thể nói, - ngựa nhận xét, - đây là một nơi dành cho một cuộc phi nước
đại, phải không?
- Ấy chớ, chưa phải vào lúc này. Tôi không biết làm sao. Làm ơn đi ngựa.
Tôi còn chưa biết tên anh.
- Breehy-hinny-brinny-hoohy-hah. -
Ngựa đáp.
- Tôi không thể gọi đầy đủ tên anh
được. Hay là tôi gọi anh là Bree có được không?
- Được, nếu đó là điều tốt nhất cậu
có thể làm, tôi cho là đành phải thế thôi. Vậy tôi sẽ gọi cậu là gì?
- Tôi tên là Shasta.
- Hừm! - Bree nói. - Đó là một cái
tên khó phát âm thật đấy. Nhưng bây giờ phải phi nước đại thôi. Như thế dễ dàng
hơn chạy nước kiệu nhiều… nếu như cậu biết rõ, bởi vì cậu không phải đứng lên
và bị ngã. Kẹp chặt hai đầu gối lại, mắt nhìn thẳng về trước ngay ở điểm giữa
đôi tai tôi. Đừng có nhìn xuống đất. Khi cậu nghĩ mình sắp ngã chỉ việc kẹp hai
đầu gối lại chặt hơn và ngồi thẳng hơn. Sẵn sàng chưa? Nào, vì Narnia và phương
bắc. Tiến lên!

