Truy tìm Dracula - Chương 18 + 19
Chương 18
Những ngày nao nức, thời tiết trong sáng, bao la như bầu
trời vùng núi theo chân chúng tôi cùng mùa xuân bước vào đất nước Slovania. Khi
tôi hỏi cha liệu có đủ thời gian để đến thăm Emona một lần nữa - tôi đã liên
kết nơi đó với một giai đoạn trước đây trong cuộc đời mình, một giai đoạn cùng
với một mùi hương khác, và với một khởi đầu, như tôi đã nói trước đây, người ta
thường cố thăm lại những nơi chốn như vậy - cha đã vội vã trả lời rằng trú lại
bên một hồ lớn phía Bắc Emona để cha tham dự hội nghị rồi phải tất bật quay về
Amsterdam trước khi tôi bị tụt hậu so với các bạn là đã quá đủ bận rộn rồi. Mặc
dù tôi chẳng bao giờ bị tụt lại nhưng khả năng đó làm cha lo lắng.
Khi chúng tôi đến, hồ Bled rất đẹp. Nước đổ vào một thung
lũng thuộc dãy Alps này vào cuối Kỷ Băng Hà và tạo ra nó, một nơi chốn định cư
cho những người du mục thuở ấy - họ sống trong những căn nhà mái lá chìa ra
trên mặt nước bên hồ. Hiện tại, nó như một viên ngọc bích nằm trong tay
dãy Alps, mặt nước lóng lánh những gợn sóng bạc trong cơn gió nhẹ cuối
chiều. Một vách đá cao hơn những vách xung quanh nhô lên từ một rìa dốc đứng,
và trên đó nằm cheo leo một trong những lâu đài tuyệt vời của Slovania, đã được
ngành du lịch trùng tu theo một phong cách thẩm mỹ cực kỳ tinh tế. Các lỗ châu
mai của lâu đài nhìn xuống một hòn đảo, nơi một kiểu mẫu nhà thờ mái đỏ theo phong
cách Áo nổi lên như một chú vịt, tàu thuyền ra vào đảo tấp nập từng giờ. Khách
sạn, như thường lệ, bằng sắt thép và kính, kiểu mẫu số năm của ngành du lịch xã
hội chủ nghĩa, và vào ngày thứ hai chúng tôi đã thoát khỏi nó để dạo quanh khu
vực hạ lưu của hồ. Tôi nói với cha rằng tôi không nghĩ có thể chờ đợi thêm hai
mươi bốn giờ nữa mà không được tham quan tòa lâu đài thống trị khung cảnh xa xa
mà bữa ăn nào tôi cũng nhìn thấy ấy, và cha tủm tỉm cười. “Nếu con muốn tham
quan thì chúng ta sẽ đi,” cha hưởng ứng. Tình trạng giảm bớt căng thẳng mới đây
thậm chí còn hứa hẹn nhiều hơn ê kíp công tác của cha hy vọng, và vài nếp nhăn
trên trán cha đã dãn bớt ra khi chúng tôi đến đây.
Vì vậy, vào buổi sáng ngày thứ ba, bỏ lại buổi họp ngoại
giao chẳng có gì mới, chỉ toàn thảo luận tới lui các đề tài cũ rích của ngày
hôm qua, chúng tôi đáp xe buýt chạy quanh bờ hồ, lên đến gần độ cao của tòa lâu
đài, sau đó xuống xe để cuốc bộ lên đỉnh. Lâu đài xây dựng bằng loại đá nâu như
màu xương để lâu năm, đã được trùng tu lại sau một thời gian dài hoang phế. Khi
vượt qua dãy hành lang đầu tiên chúng tôi đến phòng nghi lễ (tôi nghĩ vậy), tôi
há hốc kinh ngạc: qua cửa sổ xám xịt, ở bên dưới hơn ba trăm mét là mặt hồ long
lanh, trải rộng ra một màu trắng dưới ánh mặt trời. Tòa lâu đài có vẻ như bám
vào vách núi chỉ nhờ những trụ đục sâu vào đá. Tôi chợt nghĩ, ngôi giáo đường
màu vàng đỏ trên hòn đảo dưới kia, chiếc thuyền đang hồ hởi cập bến giữa những
luống hoa nhỏ đỏ đỏ vàng vàng, và cả bầu trời trong xanh mênh mông, tất cả đã cùng
phục vụ du khách suốt nhiều thế kỷ qua.
Nhưng tòa lâu đài này, với những phiến đá đã mòn nhẵn từ thế
kỷ mười hai, từng góc là những tháp canh hình nón, với rìu chiến, giáo và búa,
đang chực chờ đổ sụm xuống nếu có ai chạm vào, chính là linh hồn của vùng hồ
này. Những cư dân trước đây sinh sống bên hồ, từ những túp lều mái lá dễ cháy,
đã di chuyển lên cao dần, cuối cùng chọn nơi này để định cư cùng lũ đại bàng,
dưới quyền cai trị của một lãnh chúa phong kiến. Dù đã được trùng tu rất khéo,
nơi chốn này vẫn còn toát ra hơi thở của cuộc sống thuở xa xưa. Tôi quay đi
khỏi khung cửa sổ chói chang ánh nắng để sang phòng kế cận và thấy trong một
quan tài làm bằng gỗ và thủy tinh là bộ xương của một phụ nữ nhỏ nhắn chết đã
lâu, trước khi Thiên Chúa giáo ra đời, chi tiết trang trí bằng đồng của chiếc
áo choàng nằm hững hờ trên vùng xương ức vỡ nát, những chiếc nhẫn đồng xanh như
chực tuột khỏi xương ngón tay. Lúc tôi cúi xuống cỗ quan tài chăm chú nhìn, đột
nhiên từ hai hốc mắt sâu như hai hố địa ngục, dường như người phụ nữ mỉm cười
với tôi.
Trên sân thượng tòa lâu đài, trà được phục vụ trong những
bình sứ trắng, một sự nhượng bộ dễ chịu của ngành kinh doanh du lịch. Trà ngon,
đậm, và lần này thì những cục đường bọc giấy vẫn chưa bị hỏng. Hai bàn tay cha
đan chặt vào nhau trên chiếc bàn sắt, các đốt ngón tay lộ ra trắng bệch. Tôi
đăm đăm nhìn xuống hồ, rồi rót cho cha một cốc trà nữa. “Cám ơn con,” ông nói.
Có một nỗi khổ đau mơ hồ nào đó trong mắt cha. Tôi lại chú ý nhận ra cha tàn tạ
và gầy đi rất nhiều trong những ngày này; cha có nên đi khám bệnh chăng? “Nghe
này, con gái cưng,” cha nói, hơi quay mặt nhìn sang hướng khác nên tôi chỉ thấy
gương mặt nhìn nghiêng của cha trên nền vách đá dựng đứng và hồ nước lấp lánh
kia. Cha dừng lại. “Con có nghĩ đến việc viết lại chúng không?”
“Những câu chuyện kia ạ?” tôi hỏi lại. Tim như co thắt lại,
đập dồn dập trong lồng ngực.
“Phải.”
“Tại sao?” rốt cuộc tôi cũng đối đáp lại. Đó là câu hỏi của
một người đã trưởng thành, không còn quanh co rào đón như trẻ con nữa. Cha nhìn
tôi, và tôi nghĩ phía sau vẻ mệt mỏi, trong đôi mắt cha còn đầy ắp lòng nhân ái
lẫn nỗi ưu sầu.
“Bởi vì nếu con không viết, có lẽ cha phải viết,” cha trả
lời. Sau đó, cha trở lại với cốc trà, và tôi biết cha sẽ không nhắc lại điều đó
nữa.
Đêm đó, trong căn phòng khách sạn nhỏ và tồi tàn kế bên
phòng cha, tôi bắt đầu viết ra mọi chuyện mà cha đã kể. Cha luôn nói tôi có một
trí nhớ tuyệt vời - một trí nhớ tốt hơn mức cần thiết, đó là cách cha thường
nói.
Trong bữa điểm tâm sáng hôm sau, cha nói với tôi ông cần được
ở yên hai hoặc ba ngày. Thật khó hình dung ra cảnh cha thực sự ở yên, nhưng tôi
đã thấy những quầng thâm dưới mắt ông nên tôi thích cái ý nghĩ rằng ông cần
được nghỉ ngơi. Tôi không thể không cảm nhận thấy có điều gì đó đã xảy ra với
ông, thấy cha đang phải chịu gánh nặng của một nỗi lo âu câm lặng mới nào đó.
Nhưng cha chỉ bảo với tôi cha lại nhớ những bãi biển vùng Adriatic. Chúng tôi
đáp một chuyến tàu tốc hành chạy về hướng Nam, qua những nhà ga có tên viết
bằng mẫu tự Latin lẫn Cyrillic, rồi sau đó là những nhà ga có tên viết chỉ bằng
chữ Cyrillic. Cha dạy tôi bảng chữ cái mới đó, và tôi tự tiêu khiển bằng cách
cố đọc to chữ trên bảng hiệu nhà ga, đối với tôi, mỗi ký hiệu kia như những từ
mật mã có thể mở ra một cánh cửa bí mật nào đó.
Tôi giải thích điều đó với cha, ông khẽ mỉm cười, ngả người
về phía sau trong ngăn cút-sét của chúng tôi, một cuốn sách dựng trên cặp xách.
Ánh mắt cha lang thang từ cuốn sách đến cửa sổ, qua đó tôi có thể nhìn thấy
những chàng trai trẻ đang lái máy cày, đôi khi là một chú ngựa đang kéo một
thùng xe chở đầy thứ gì đó, những phụ nữ lớn tuổi trong các khu vườn kế cận nhà
bếp đang lom khom vừa nhổ cỏ vừa huyên thuyên chuyện trò. Chúng tôi lại đi về
phương Nam, và khi đoàn tàu lướt nhanh qua, vùng đất này dịu đi trong sắc xanh
mượt mà và vàng óng ả, chợt dựng đứng lên thành những ngọn núi đá xám, rồi hạ
thấp xuống thành một mặt biển lung linh bên tay trái chúng tôi. Cha thở một hơi
dài, nhưng là tiếng thở hài lòng chứ không phải là hơi hổn hển mệt mỏi ngày một
thường xuyên hơn của cha gần đây.
Chúng tôi rời tàu hỏa, xuống một thị trấn phố chợ nhộn nhịp,
cha thuê một chiếc xe và lái theo con đường dọc bờ biển khúc khuỷu rắc rối. Cả
cha và tôi đều nghển cổ lên nhìn về một bên - biển trải rộng đến tận chân trời
mù sương lúc xế chiều - và bên kia, nắm xương tàn phế tích của những pháo đài
từ thời đế chế Ottoman vút cao lên bầu trời. “Người Thổ chiếm giữ mảnh đất này
một thời gian dài, rất dài,” cha thì thầm. “Những cuộc xâm lăng của họ kéo theo
đủ thứ tội ác, nhưng họ cai trị khá khoan dung, đế quốc nào cũng vậy, khi họ đã
hoàn toàn chiến thắng - thái bình thịnh trị suốt cả hàng trăm năm. Đây là vùng
đất rất cằn cỗi, nhưng nó cho phép họ kiểm soát mặt biển. Họ cần những vịnh và
hải cảng này.”
Thị trấn chúng tôi dừng lại nằm ngay sát biển; những chiếc
tàu đánh cá đỗ san sát trong bờ cảng nhỏ, va vào nhau theo từng cơn sóng vỗ.
Cha muốn ở lại trên một hòn đảo gần đó, ông thuê một chiếc tàu với chỉ một cái
ngoắc tay với người chủ tàu, một ông lão với chiếc mũ nồi đội ngược trên đầu. Không
khí ấm áp dù đã cuối buổi chiều, bụi nước bắn lên đầu ngón tay tôi mát mẻ chứ
không lạnh. Tôi chồm ra ngoài mũi tàu, cảm giác như mình là một hình chạm khắc
ở đầu mũi tàu. “Cẩn thận,” cha thốt lên, đưa tay túm lưng áo tôi.
Lúc này, ông lão chủ tàu đã đưa chúng tôi đến một cầu cảng
trên đảo, một ngôi làng cũ kỹ với ngôi nhà thờ bằng đá xinh đẹp. Ông lão quàng
sợi dây thừng quanh cột móng neo rồi chìa bàn tay xương xẩu ra giúp tôi lên
khỏi thuyền. Cha trả cho ông ta một số tiền giấy nhiều màu sắc của nước sở tại,
ông lão đưa tay sờ chiếc mũ nồi. Khi đã leo trở lại về chỗ ngồi của mình, ông
chủ tàu quay lại. “Con gái ông à?” ông ta thốt lên bằng tiếng Anh. “Con gái
ông?”
“Vâng,” cha trả lời, vẻ ngạc nhiên.
“Chúa phù hộ cô bé,” ông ta chỉ nói vậy và hướng về tôi, làm
dấu thánh giá giữa khoảng không.
Cha tìm được cho chúng tôi hai căn phòng nhìn về hướng đất
liền, chúng tôi ăn tối tại một nhà hàng ngoài trời, gần bến tàu. Ánh hoàng hôn
đang dần buông xuống, tôi chú ý thấy những ngôi sao đầu tiên đã hiện lên phía
trên mặt biển. Một cơn gió nhẹ, giờ đã lạnh hơn lúc ban chiều, mang tới chỗ tôi
những mùi hương mà tôi bắt đầu yêu thích: bách tùng, oải hương, hương thảo, xạ
hương. “Vì sao những mùi thơm bao giờ cũng nồng nàn hơn lúc đêm về?” tôi hỏi
cha. Đó là một điều tôi thực sự băn khoăn, và nó cũng giúp trì hoãn việc chúng
tôi bàn luận về bất kỳ chủ đề nào khác. Tôi cần thời gian để tìm lại một nơi
nào đó có ánh đèn và có người chuyện trò với nhau, hoặc ít nhất cũng cần rời
mắt khỏi đôi tay cha đang run rẩy.
“Thật vậy sao?” cha hỏi, vẻ lơ đãng, nhưng tôi cảm thấy
khuây khỏa. Tôi nắm chặt để giữ cho tay cha khỏi run, cha cũng nắm chặt tay
lại, vẫn lơ đãng, tay cha đặt trên tay tôi. Cha hãy còn quá ít tuổi để bỗng trở
nên già cỗi. Trên đất liền, bóng những ngọn núi gần như nhảy múa lao vào sóng
nước, sừng sững bao phủ bãi biển, sừng sững bao phủ hầu như cả hòn đảo này. Khi
nội chiến bùng nổ ở vùng núi non ven biển này gần hai mươi năm sau, tôi đã nhắm
mắt hồi tưởng lại chúng mà kinh ngạc. Tôi không thể tưởng tượng trên những sườn
núi kia lại có đủ người để cung cấp cho một cuộc chiến. Chúng có vẻ như hoàn
toàn tinh khôi, không có người ở, chỉ toàn những phế tích trống rỗng đứng canh
chừng thứ duy nhất là nhà thờ đá trên đảo ấy mà thôi.
Chương 19
Sau khi Helen Rossi ném phịch cuốn Dracula - rõ ràng cô ta
nghĩ đó là nguyên nhân tranh chấp giữa hai người - lên trên bàn ăn giữa cô ta
và cha, cha nghĩ mọi người đang có mặt tại chỗ hoặc đứng dậy bỏ chạy, hoặc có
ai đó sẽ thét lên, “A đây rồi!” rồi xông đến làm thịt cả hai người bọn cha. Lẽ
tất nhiên, không có chuyện gì xảy ra cả, cô ta vẫn ngồi đó nhìn cha với nét mặt
khoái trá pha lẫn cay đắng. Cha buồn rầu tự hỏi, có thể nào, chính người phụ nữ
này, vì thừa hưởng một di sản đầy oán hận và ôm ấp một mối thù trong lĩnh vực học
thuật đối với thầy Rossi, đã đả thương và gây ra sự mất tích của ông ấy?
“Cô Rossi,” cha cố giữ giọng bình thản, nhấc cuốn sách lên
đặt úp xuống bên cạnh cặp xách của mình, “câu chuyện của cô hết sức kỳ lạ và
phải nói rằng cần phải có thời gian tôi mới hiểu được tất cả. Nhưng tôi cũng
phải nói với cô một chuyện rất quan trọng.” Cha hít vào một hơi thật dài, rồi
thêm một hơi nữa. “Tôi biết giáo sư Rossi rất rõ. Đến nay, ông ấy là giáo sư
hướng dẫn của tôi đã được hai năm, chúng tôi đã có nhiều thời gian cùng làm
việc và chuyện trò. Tôi chắc chắn nếu cô… khi cô… gặp ông ấy, cô sẽ thấy ông ấy
là một người tốt và tử tế hơn nhiều so với những gì cô đang nghĩ…” Cô ta mở
miệng như muốn nói, nhưng cha đã nói tiếp. “Vấn đề là… vấn đề là… qua cái cách
cô nói về ông ấy, tôi nghĩ là cô chưa biết giáo sư Rossi - cha cô - đã mất
tích.”
Cô ta nhìn cha trừng trừng, và cha không thể nhận ra trên
gương mặt đó chút dối trá nào, chỉ có sự bối rối. Chứng tỏ, thông tin này làm
cho cô ta ngạc nhiên. Nỗi đau khổ trong lòng cha vơi đi ít nhiều. “Anh muốn nói
gì?” cô ta gặng hỏi.
“Tôi muốn nói: ba đêm trước đây, tôi vẫn còn nói chuyện với
ông ấy bình thường như mọi lần, nhưng ngày hôm sau ông ấy đã biến mất. Hiện
tại, cảnh sát đang tìm kiếm ông ấy. Dường như ông ấy biến mất ngay trong văn
phòng của mình, và thậm chí còn bị thương tích nữa, bởi người ta phát hiện thấy
máu trên bàn làm việc của ông.” Cha vắn tắt thuật lại những sự kiện đêm hôm đó,
bắt đầu bằng việc cha mang đến cho thầy Rossi cuốn sách nhỏ kỳ lạ của mình,
nhưng không đả động gì đến câu chuyện thầy Rossi kể với cha.
Cô ta nhìn cha, mặt cau lại vì bối rối. “Anh không lừa tôi
đấy chứ?”
“Không, hoàn toàn không. Thực sự không phải vậy. Tôi hầu như
mất ăn mất ngủ từ khi sự việc xảy ra.”
“Cảnh sát không có ý kiến gì về việc ông ấy đang ở đâu hay
sao?”
“Không, theo những gì tôi biết.”
Nét mặt cô ta đột nhiên trở nên sắc sảo. “Còn ý kiến của
anh?”
Cha ngần ngại. “Có thể tôi biết. Đó là một câu chuyện dài,
và có vẻ như càng lúc càng dài hơn.”
“Khoan đã.” Cô ta nhìn cha, ánh mắt gay gắt. “Hôm qua, trong
thư viện, lúc đọc những lá thư này, anh đã nói chúng có liên quan đến vấn đề
của một giáo sư nào đó. Có phải anh muốn nói đến ông Rossi?”
“Đúng.”
“Ông ta gặp phải vấn đề gì? Ông ta có vấn đề à?”
“Tôi không muốn làm cô liên lụy vào chuyện khó chịu hoặc
nguy hiểm này bằng cách kể cho cô nghe thậm chí chỉ một ít những gì tôi biết.”
“Anh đã hứa trả lời câu hỏi của tôi sau khi tôi trả lời câu
hỏi của anh.” Nếu trong khoảnh khắc đó, mắt cô ta xanh thay vì đen, thì mặt cô
ta hẳn sẽ giống hệt khuôn mặt thầy Rossi. Lúc ấy, cha cho rằng mình đã có thể
thấy một sự giống nhau, một sự rập khuôn kỳ bí những nét góc cạnh Anh quốc của
thầy Rossi nơi vóc dáng Rumani ngăm đen mạnh mẽ trước mặt cha. Mặc dù ấn tượng
này có thể chịu ảnh hưởng từ sự quả quyết mình là con gái thầy Rossi của cô ta.
Nhưng làm sao cô ta có thể là con gái của thầy Rossi khi ông ấy đã kiên quyết
phủ nhận việc mình từng ở Rumani? Ít ra, ông ấy đã nói là chưa bao giờ đến hồ
Snagov. Ấy thế nhưng, ông ấy lại để sót tập quảng cáo mỏng về Rumani giữa mớ
giấy tờ mà cha đang giữ. Bấy giờ, cô ta đang nhìn cha trừng trừng, một thái độ
mà thầy Rossi chẳng bao giờ có. “Quá muộn để khuyên tôi không nên hỏi thêm.
Những lá thư kia có liên quan gì đến việc ông ta mất tích hay không?”
“Tôi vẫn chưa dám chắc. Có lẽ tôi sẽ phải nhờ một chuyên gia
trợ giúp. Tôi không rõ cô đã khám phá được gì trong cuộc nghiên cứu của mình…”
Một lần nữa, cha đón nhận ánh mắt cảnh giác, mệt mỏi của cô ta. “Tôi tin là
trước khi mất tích, thầy Rossi cũng biết cá nhân mình đang gặp nguy hiểm.”
Có vẻ cô ta đang cố tiếp nhận hết những điều cha vừa kể, tin
tức về một người cha mà từ lâu cô chỉ biết như là một biểu tượng thách thức.
“Mối nguy hiểm cá nhân? Từ cái gì?”
Cha quyết định mạo hiểm. Thầy Rossi yêu cầu cha không tiết
lộ câu chuyện dở hơi của thầy với đồng sự. Cha đã làm theo lời yêu cầu đó,
nhưng lúc này đây, bất ngờ, khả năng có được sự trợ giúp của một chuyên gia
đang có sẵn trước mặt cha. Người phụ nữ này có khả năng đã biết rõ những gì mà
cha có thể phải mất nhiều tháng trời mới lần ra được; có thể cô ta có lý, thậm
chí là thế, khi nghĩ rằng cô còn biết nhiều hơn bản thân thầy Rossi. Chẳng phải
thầy luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm kiếm sự hỗ trợ của các nhà
chuyên môn hay sao - vậy thì, cha sẽ tìm kiếm ngay bây giờ thôi. Xin tha lỗi
cho tôi, cha cầu xin quyền năng của các đấng thánh thần, nếu việc này đưa cô ta
vào vòng nguy hiểm. Ngoài ra, còn có một lý lẽ đặc biệt khác. Nếu cô ta thực sự
là con gái của giáo sư, hơn ai hết cô ta có quyền được biết chuyện của cha
mình. “Đối với cô, chuyện Dracula có ý nghĩa gì không?”
“Ý nghĩa đối với tôi?” cô ta cau mày. “Như một khái niệm? Sự
báo thù của tôi, tôi cho là vậy. Nỗi cay đắng không bao giờ dứt.”
“Vâng, tôi hiểu điều đó. Nhưng chuyện Dracula không có ý
nghĩa nào khác đối với cô hay sao?”
“Ý anh muốn nói gì?” Cha không thể nói cô ta đang tìm cách
lẩn tránh hay chỉ là thắc mắc một cách thành thực.
“Cô Rossi,” cha tiếp tục, vẫn còn chút ngần ngại, “cha cô,
đã - đang - tin là Dracula vẫn còn sống.” Cô ta lại nhìn cha trừng trừng. “Cô
nghĩ sao về chuyện đó?” cha hỏi. “Cô có thấy nó có vẻ điên khùng không?” Cha
chờ cô ta cười phá lên, hoặc đứng dậy bỏ đi như đã phản ứng trong thư viện.
“Thật buồn cười,” Helen Rossi chậm rãi trả lời. “Bình thường
ra, hẳn tôi sẽ nói đó chỉ là truyền thuyết của đám nông dân - chuyện mê tín dị
đoan dựa trên ký ức về một kẻ độc tài khát máu. Nhưng kỳ lạ là mẹ tôi cũng
tuyệt đối tin vào chuyện này.”
“Mẹ cô?”
“Vâng. Tôi đã nói với anh, mẹ tôi xuất thân là nông dân. Bà
có thiên hướng tin vào những chuyện dị đoan này, dù có lẽ ít hơn ông bà ngoại
tôi một chút. Nhưng một học giả lỗi lạc của phương Tây… sao lại có thể tin vậy
được?” Thật đúng là một nhà nhân học, dứt khoát như vậy, bất chấp cuộc kiếm tìm
cay đắng của cô ta. Sự tách biệt rạch ròi giữa đầu óc thông minh nhạy bén và
những vấn đề cá nhân của cô ta khiến cha ngạc nhiên.
“Cô Rossi,” cha nói, đột ngột quyết định. “Không hiểu sao,
tôi không mảy may nghi ngờ chuyện cô thích nghiên cứu mọi chuyện chỉ vì cá nhân
cô. Vậy tại sao cô không thử đọc những lá thư của thầy Rossi? Tôi cảnh báo cô,
một cách thẳng thắn nhất, là tất cả những ai sử dụng tài liệu của ông ấy về chủ
đề này đều là đối tượng của một mối đe dọa nào đó, theo như tôi được biết.
Nhưng nếu cô không sợ, thì hãy đọc chúng vì chính lợi ích của cô. Việc đó sẽ
tiết kiệm thời gian cho chúng ta, tôi đỡ phải thuyết phục cô tin câu chuyện đó
là có thật, tôi tin chắc nó có thật.”
“Tiết kiệm thời gian cho chúng ta?” cô ta lặp lại, giọng
khinh khỉnh. “Anh đang lập kế hoạch gì cho thời gian của tôi vậy?”
Cha đã tuyệt vọng đến mức chẳng cảm thấy bị chạm nọc gì nữa.
“Trong trường hợp này, cô sẽ đọc những lá thư đó bằng một nhãn quan chuyên môn
tốt hơn tôi.”
Có vẻ như cô ta đang suy nghĩ về đề nghị này, tay chống cằm.
“Thôi được,” rốt cuộc cô ta nói. “Anh đã đưa tôi vào thế yếu. Tất nhiên, tôi
không thể cưỡng lại cái cám dỗ muốn biết nhiều hơn về ông bố Rossi này, nhất là
khi, nếu việc này khiến tôi chiếm được bước thượng phong so với nghiên cứu của
ông ta. Nhưng nếu tôi nhận thấy ông ta chỉ đơn thuần mất trí, báo cho anh biết
trước tôi sẽ không mấy thương cảm đâu. Đó có thể là vận may của tôi: nhốt ông
ta vào một viện tâm thần nào đó trước khi tôi có cơ hội tốt để hành hạ ông ta.”
Nụ cười của cô ta không còn là một nụ cười nữa.
“Tốt,” cha phớt lờ câu cảnh báo sau cùng và nụ cười nhăn nhở
xấu xí, ép mình không liếc nhìn hai chiếc răng nanh của cô ta, dù rõ ràng trước
đó cha thấy nó không dài hơn bình thường. Tuy nhiên, trước khi kết thúc cuộc
trao đổi, cha phải nói dối về một chi tiết. “Tôi rất tiếc phải nói là không
mang theo những lá thư đó. Hôm nay tôi cảm thấy sợ phải mang chúng đi cùng.”
Thực ra, cha hết sức e sợ phải để chúng lại trong căn hộ, và hiện chúng đang ở
trong cặp. Nhưng có lẽ cha sẽ bị nguyền rủa - theo đúng nghĩa đen - nếu lôi
chúng ra giữa quán ăn này. Cha không biết liệu có thể có kẻ nào đang ở đó, đang
quan sát cô ta và cha - những anh bạn nhỏ của tay thủ thư đáng sợ kia chẳng
hạn? Cha còn một lý do khác nữa: cha cần phải thử thách cô ta, dù lòng trĩu
nặng vì cảm thấy bất nhẫn. Cha phải chắc chắn rằng cô nàng Helen Rossi này, dù
cô ta là ai, không ở cùng phe với - ừm, chẳng phải chỉ cần là kẻ thù của kẻ thù
của cô ta thì là bạn của cô ta rồi sao? “Tôi phải về nhà mới lấy được. Và tôi
sẽ yêu cầu cô đọc chúng trước mặt tôi, vì đối với tôi, chúng rất mỏng manh và
quý giá.”
“Được thôi,” cô ta nói, giọng lạnh tanh. “Chiều mai chúng ta
gặp nhau được chứ?”
“Trễ quá. Tôi muốn cô xem chúng ngay. Xin lỗi. Tôi biết yêu
cầu này hình như khá kỳ quặc, nhưng một khi đọc chúng, cô sẽ hiểu cảm giác nôn
nóng của tôi.”
Cô ta nhún vai. “Nếu việc đó không mất quá nhiều thời giờ.”
“Không đâu. Liệu cô có thể gặp tôi ở… ở Nhà thờ Đức Mẹ?” Sự
thử thách này, ít ra, cha có thể thực hiện với tính chu đáo của thầy Rossi.
Helen Rossi vẫn nhìn cha không nao núng, gương mặt khắc nghiệt, mỉa mai vẫn
không đổi. “Nó ở trên phố Elm, cách hai khu phố tính từ… ”
“Tôi biết rồi,” cô ta cắt ngang, cầm găng tay lên xỏ vào rất
gọn gàng. Chiếc khăn quàng xanh cũng được quấn lại, lấp lánh quanh cổ như loại
đá xanh lazuli(1). “Mấy giờ?”
“Cho tôi ba mươi phút để về nhà lấy mớ giấy tờ kia rồi sẽ
gặp cô ở đó.”
“Ở nhà thờ. Tốt thôi. Tôi sẽ ghé qua thư viện để tìm một bài
viết mà tôi cần ngay hôm nay. Xin đúng giờ cho - tôi còn nhiều việc phải làm.”
Mảnh lưng khoác áo đen của cô gầy guộc nhưng mạnh mẽ khuất sau cánh cửa quán
ăn. Cha chợt nhận ra, khi đã quá trễ, rằng không biết bằng cách nào, cô ta đã
trả tiền cà phê cho cả hai.
Chú thích:
1. Lazuli (còn viết là lazulite): một loại đá có màu xanh
dương đậm lốm đốm những vệt vàng gọi là “lửa” của đá (tuổi đá càng cao, “lửa”
càng nhiều.), sáng bóng lộng lẫy như thủy tinh và được sử dụng như một loại đá
quý.

