Franz và Clara - Chương 22 - 23

22

Trời ngày càng lạnh hơn. Khách sạn ở khá gần, nhưng, vì
Clara khẳng định cô không thể đi bộ về tận khách sạn, nên Franz vẫy một chiếc
taxi.

Một cuộc trao đổi ngắn gọn với người tài xế bắt đầu. Ông ta
không hiểu sao mình phải chấp nhận một cuốc ngắn như vậy. Franz gợi ý với ông ta
xuôi xuống rồi lại ngược lên Đại lộ Huntington,
sau đó sang Đại lộ Massachusetts,
như thế, chuyến đi sẽ đáng kể. Tài xế, một người đàn ông đứng tuổi dân Boston nói giọng địa
phương đặc sệt, vui đùa:

- Như cậu muốn thôi, cậu bạn thân mến, nếu làm vậy là ổn với
cậu thì cũng ổn với tôi. Thậm chí, chúng ta có thể làm một vòng quanh thành phố
miễn là cậu thích.

Franz đáp:

- À phải, một ý rất hay đấy, hãy làm thế đi, chúng ta cùng
làm một vòng quanh thành phố.

- Cậu nghiêm túc đấy chứ?

- Dĩ nhiên rồi, bác làm thế đi!

Trong taxi, cô ngả đầu lên vai anh. Chính Franz là người cất
lời trước:

- Tôi đã thật vất vả mới lớn lên được. Mang trí tuệ của
người trưởng thành trong cơ thể một đứa trẻ, tôi chưa bao giờ thực sự mô tả
được cho em thấy hết những thử thách phát sinh từ việc đó. Một trong những đặc
điểm của người có chỉ số IQ rất phát triển – tôi từng đạt từ 160 đến 174 điểm,
số điểm này, theo các chuyên gia trường nội trú, đã khiến tôi bị xếp vào loại
hết sức hiếm hoi – đó là một dạng dị ứng với những đứa trẻ khác. Tại sao em lại
cho rằng tôi tìm kiếm em trong sự cô đơn của em trong băng ghế ấy? Càng lớn,
tình trạng cô lập ngày càng tăng dần. Vì thế mà rất nhiều trong số những người
có năng khiếu đặc biệt bị suy sụp tinh thần. Việc tự sát chẳng xa xôi gì. Người
ta bỏ mặc những người chết giữa đường đời. Tôi gặp bao nhiêu khó khăn mới vượt
qua được chướng ngại vật ấy. Bởi tôi cũng không phải ngoại lệ.

Clara:

- Đôi khi, nghe anh nói, tôi từng nghĩ rằng anh mang trong
mình sự khôn ngoan của một người đàn ông có tuổi và rồi, trong ngay một giây
tiếp theo, anh lại trở lại là một cậu bé. Tôi chưa bao giờ hoàn toàn xác định
nổi anh ở đâu giữa hai trạng thái đó và tôi mong anh thứ lỗi.

- Khi tới Harvard, tôi đắm chìm trong mọi thứ: khoa học,
sinh học - đặc biệt là sinh học – nhưng đồng thời còn có cả tài chính, khảo cổ
học, tin học, âm nhạc. Tôi khó mà tìm nổi bạn bởi tôi luôn tiến quá nhanh so
với họ. Tôi đã phải đi chậm lại để không tự gạt mình ra ngoài lề, tôi đã phải
cố gắng để trở nên tầm thường một chút. Cũng đã có một hoặc hai chuyện tình
cảm, nhưng tôi không thể nào nói rằng mình thực sự yêu cô gái này hay cô gái
khác. Tôi không thể nào nói rằng họ đã cảm thấy thoải mái với tôi. Tôi luôn
không khéo léo với phụ nữ.

Cô khẽ bật ra một tiếng cười tinh ranh, đỏm dáng.

- Có chứ, anh đã rất khéo léo với tôi kể từ lúc anh gõ cửa
phòng thay đồ của tôi. Rất, rất khéo léo đấy.

- Với em, đó không phải sự khéo léo, mà là tôi cảm thấy mình
tự do.

Cô nói không hề cảm thấy thời gian trôi đi:

- Tôi đã làm việc như điên. Giống như những nhạc công Trung
Quốc: chín đến mười tiếng mỗi ngày. Tôi đã hiểu rõ hơn điều gì có lẽ làm nên
tính cách mình: tôi chưa bao giờ có mẹ. Một ngày, điều ấy ập xuống tôi khi tôi
mang hoa tới đặt trên mộ bố mình – nó giống như một giọng nói phát ra từ sâu
thẳm trong tôi: còn mẹ mi đâu? Con người xa lạ đã ra đi vào ngày tôi chào đời
ấy, sự tước đoạt hoàn toàn những ngọt ngào và hơi ấm áp, tôi không bao giờ
biết được thế nào là một người mẹ, tôi chưa bao giờ được hét lên gọi “Mẹ ơi”.
Tôi chưa bao giờ được người đàn bà đã hạ sinh ra tôi ôm vào lòng. Khi nghĩ đến
chuyện này, vào lúc tôi nói với anh điều ấy, tôi nhận thấy chắc chắn anh cũng
chẳng biết về nó nhiều hơn tôi. Có lẽ đó là lý do giải thích tại sao chúng ta
lại giống nhau một cách bí hiểm như vậy – bởi vì, tôi vẫn còn nhớ, anh đã từng
nói về sự bí hiểm. Nhưng tôi đã không tiến lại gần anh. Quả thực là như vậy,
tôi đã gạt bỏ anh khỏi ký ức của mình, bởi tôi bị ám ảnh bởi câu nói sáo rỗng
về việc bước sang một trang mới – cần phải lật sang trang mới: “Xóa sạch, và
tiếp tục.” Tôi đã làm việc mà chẳng hề suy nghĩ, làm việc một cách điên cuồng.
Tôi đã chẳng hề thấy cuộc sống. À, tôi làm vậy để có được nó, cái dấu hằn của
mảnh tựa cằm cằm dưới hàm ấy, và tôi có nó! Anh thấy không, đây này, đây, nắm
lấy tay tôi.

Cô đưa ngón tay Franz lướt trên khuôn mặt mình. Anh chạm đến
vùng da nơi một nghệ sĩ violon có thể có một vết hằn, trên cổ, phía bên trái,
dưới hàm. Anh vuốt ve làn da ở nơi cô thường xuyên tì lên đàn violon, làn da
mềm mại, mịn màng, dưới đó lớp thịt hơi chai lại và xốp xốp. Anh muốn ôm cô vào
lòng nhưng có điều gì đó giữ anh lại, anh rút tay về. Cô lại nắm lấy bàn tay ấy
và đặt lại vào nơi có vết hằn.

Franz:

- Được vuốt ve làn da em thật là tuyệt. Trước đây, tôi gần
như chẳng dám lại gần em, em quá xa vời, không chạm tới được. Tôi thực sự ngỡ
rằng trái tim mình sẽ tan vỡ sau ngày em ra đi. Tôi đã bắt đầu cảm thấy vết rạn
nứt mà em từng nói với tôi, vết rạn nứt khiến người ta thấy nhói đau trong lồng
ngực. Vậy nên tôi quyết định không trở lại bên hồ nước nữa. Tôi đã tới một đất
nước khác. Tôi lao vào học đủ mọi thứ, nhiều ngành đến mức giờ đây tôi có thể
làm bác sĩ, nhà nghiên cứu, chủ ngân hàng hay giáo viên lịch sử, bất cứ làm gì
thì tôi cũng có thể làm tốt như nhau!

- Vậy ư, vậy anh muốn mình thành người thế nào?

- Còn em thì sao?

- Tôi ư, tôi vẫn chưa đạt được giai đoạn mà công việc của
tôi có thể xóa đi mọi dấu vết lao động.

Cay đắng, cô thú nhận bằng một giọng trầm trầm:

- Tôi biết rất rõ rằng có tồn tại một tầm vóc khác nhưng tôi
không thể chạm tới được.

- Chính điều đó làm em bực bội khi em chơi đàn phải không?

- Làm thế nào mà anh nhận ra được điều ấy?

- Tôi đã nhìn em chơi mà, Clara, và tôi đã nhìn em nhiều hơn
là nghe em chơi đàn. Tôi đã chỉ làm việc ấy, và tôi cho rằng một ngày nào đó em
sẽ đạt được điều này, rằng em chưa hoàn toàn ở trạng thái được nhận ân huệ.

- Không, không, tôi chẳng bao giờ được như thế cả.

Nước mắt lại dâng lên trong mắt cô.

- Không bao giờ! Tôi chẳng biết thế nào gọi là ân huệ cả.

- Thôi nào, rồi em sẽ đạt được điều đó.

Anh ôm chặt cô vào ngực mình, cánh tay vòng qua vai cô. Anh
thầm thì:

- Em có biết bao nhiêu ân huệ, thật đáng xấu hổ nếu không
thừa nhận điều ấy. Em luôn mang theo nó bên mình, em xinh đẹp, tôi có thể đọc
được mọi thứ trên vầng trán nghiêng nghiêng của em, trên những ngón tay em. Tôi
có thể nhận thấy sự cô đơn nơi em, gánh nặng quá khứ của em, công việc đầy nghị
lực của em, lựa chọn của em, và kết quả của lựa chọn ấy.

Bầu không khí trở nên yên lặng. Chiếc taxi lướt đi trong
đêm. Họ phóng qua trước những tòa nhà cao ngất bằng kính và thép, với những
tầng dùng làm văn phòng vắng ngắt, sáng rực ánh đèn, và đôi khi, thấp thoáng
một bóng dáng mảnh khảnh, có lẽ là người gác đêm nào đó đang đi tuần ở những
nơi mang sắc bạc chẳng hề có sự hiện diện nào của con người này. Họ cũng đi qua
những khu phố nghèo nàn, những khung cảnh thê thảm, họ dừng lại ở những chỗ có
đèn giao thông, chẳng có nhiều người trên phố. Franz tiếp tục:

- Em xứng đáng được mọi người yêu mến biết bao! Đừng phản
đối, tôi chỉ nói lại những gì đã nói trước đây thôi, phải thế không?

Chiếc taxi đi một vòng xuyên qua thành phố. Nó ngược lên
Huntington, Massachusetts, Đại lộ Baverley nhiều lần, và cố tình lòng vòng trên
nhiều đại lộ trước khi quay lại khu trung tâm. Họ chẳng hề dõi theo hành trình
của nó.

Franz:

- Vậy đấy, phải, tôi chẳng thay đổi gì. Tôi nắm trong tay
năng khiếu đặc biệt, nhưng tôi cũng dễ bị tổn thương, bất chấp dáng vẻ bề
ngoài của mình – à phải, đương nhiên, tôi to con và tôi chơi thể thao, luyện
tập cơ bắp, và tôi lớn lên, phải r thế đấy, tôi khỏe thêm, tôi vỡ tiếng, tôi là
một anh chàng bảnh bao, phải thế không? Nhưng tôi không hề mất đi điều gì thuộc
về thời thơ ấu của mình, không gì cả. Đặc biệt là mong muốn yêu và được yêu.

Cô nhớ lại cái ngày mà khi nhìn anh chạy xa dần khỏi băng
ghế và hồ nước, cô đã mong ước không có điều gì bất hạnh xảy đến với anh. Cô ý
thức được rằng Franz thuộc kiểu người mà người ta lo sợ họ chỉ được thoảng ở
bên trong một cuộc đời. Cô nói:

- Anh xứng đáng được hạnh phúc.

- Điều ấy không khó đến mức thế đâu.

Cô nhắc lại câu hỏi của mình:

- Anh muốn mình thành người thế nào?

- Thành người mà em muốn biến tôi thành.

Cuối cùng, chiếc taxi cũng đưa họ tới đích. Khi bước xuống
xe, Clara lại cảm thấy đôi chân anh, cơ thể anh, sức sống trong đôi tay, lồng
ngực và hai bên hông anh. Cái lạnh quất vào mặt cô, cô mỉm cười với nó và quay
về phía Franz, anh cũng đang gửi đến cô nụ cười ấy. Giờ đây giữa họ, tâm trạng
lưỡng lự đã nhường chỗ cho khát khao, hi vọng, cho niềm vui sướng câm lặng. Khi
hai người bước vào khách sạn, họ có vẻ đã là một đôi.

23

Là một thành viên của chuỗi Wolcott, khách sạn ba sao
Brixton nằm trên phố West Newton, không quá xa Đại lộ Massachusetts nơi nhà hát
giao hưởng tọa lạc. Đó là một tòa nhà mười một tầng xây từ loại đá địa phương,
màu nâu. Ban đêm, sảnh vào được chiếu sáng lờ mờ nhờ những chiếc đèn thấp có
chao màu xanh thẫm đặt trên mấy cái bàn gỗ gụ tròn. Nhân viên lễ tân trực đêm
tên là Lawrence. của anh được ghi trên một chiếc phù hiệu bằng nhựa gắn
trên ve áo vest trong bộ đồng phục đỏ thắm có cúc mạ vàng. Người nhân viên này
có nước da đen. Đó là một người đàn ông đáng mến và trầm tính.

Tọa lạc trên tầng năm, cánh bên phải, căn phòng số 484 là
một phòng nằm ở góc. Clara đứng trước cánh cửa và đưa chìa khóa cho Franz. Đó
là một chiếc thẻ từ mà người ta phải nhanh tay quẹt từ trên xuống dưới vào khe
của một thứ giống như cái ụ bằng kim loại để đèn xanh sáng lên báo hiệu cửa đã
được mở. Thường ngày, Clara phải thử đi thử lại nhiều lần mới mở được cửa. Nó
làm cô phát cáu, thậm chí nhiều khi cô chẳng thể nào mở nổi. Khi ấy, cô thường
buộc phải quay xuống quầy lễ tân để nhờ ai đó lên giúp mình. Franz mở ngay được
cửa. Cô ra hiệu cho anh vào phòng. Anh có một cử chỉ rất nhỏ câm lặng, như muốn
nói, em có chắc tôi có thể vào không, cô cũng phác một cử chỉ đáp lại, một nụ
cười duyên dáng bình thản, chắc chắn chứ, anh có thể vào, đương nhiên rồi. Anh
lách mình vào phía sau cô.

Từ một trong những ô cửa sổ, người ta có thể thấy một khoảng
sân bên trong được khéo léo chiếc sáng bởi những bóng đèn giấu kín dưới mấy lùm
cây và đám cây con. Một bồn nước nhỏ bằng sỏi xám pha trắng nằm chính giữa sân.

Người ta không biết liệu họ có làm tình hay không. Và nếu họ
làm thế, người ta cũng chẳng thể biết được điều ấy có lặp lại nhiều lần trong
đêm hay không. Cũng có thể chẳng có chuyện gì xảy ra giữa họ. Nhưng hoàn toàn
có thể nghi ngờ điều ấy.

Trong tình yêu, chắc chắn sẽ xảy ra điều gì đó. Mà giữa hai
người ấy, đã từng có tình yêu, và đang có tình yêu.

Người này bị hút về phía người kia, tình cảm yêu thương trìu
mến như những đợt sóng liên tiếp phủ lên họ mà khó nhận thấy được, niềm ham
muốn cuốn họ vượt lên những ngại ngùng e ấp, điều ấy gắn kết họ lại với nhau mà
không cần phải nói quá nhiều – sự im lặng chiến thắng ngôn từ - anh cần có cô
như một người tình, một người mẹ, cô cần đến anh như một người tình, như bóng
hình đầu tiên gợi nhớ đến người cha mà luôn kiếm tìm, điều ấy đã biến khác biệt
về tuổi tác giữa họ thành một lợi thế chứ không còn là một vật cản. Điều đã
từng là “bất khả” cách đây mười năm giờ lại hoàn toàn có khả năng xảy ra đến
mức người ta có thể đánh cược mà không hề mạo hiểm chút nào rằng: họ sẽ yêu
nhau.

Nếu không, họ sẽ chẳng là gì. Không có tình yêu, con người
ta hoàn toàn chẳng là gì.

Báo cáo nội dung xấu