Mariana - Chương 01

Chương 1

Lần đầu tiên tôi nhìn thấy ngôi nhà
là vào mùa hè tôi tròn năm tuổi.

Tất cả hoàn toàn là lỗi của một nhà
thơ. Thực tế, chính chuyến viếng thăm đến nhà bà bác lớn tuổi được cả nhà yêu
mến ở Exeter
vào dịp cuối tuần đã đẩy cha tôi vào tâm trạng lãng đãng chất thơ như thế. Đối
mặt với một ngã ba thình lình xuất hiện trên con đường về nhà ở Oxford, ông cố tình chọn
ngã rẽ trái thay vì rẽ phải. “Con đường hiếm khách vãng lai”, ông bảo chúng tôi
bằng giọng nói hiền hòa và mơ mộng. Và như nhà thơ kia đã hứa hẹn, điều này quả
thực đã tạo nên tất cả khác biệt.

Cho sự khởi đầu, chúng tôi lạc
hướng. Mất phương hướng một cách vô vọng đến mức, thực tế, chính mẹ tôi đã phải
quẳng bản đồ đi. Những đám mây cuộn tròn bao lấy vầng thái dương dường như chỉ
là sự tiếp nối cho tâm trạng mỗi lúc một âm u của cha tôi, tất cả chất thơ
chẳng thấy tăm hơi khi ông gù lưng lo lắng trên bánh lái. Đến tận giờ ăn trưa
thì trời đổ mưa, khá nặng hạt, mẹ đã đưa những chiếc kẹo cho anh Tommy và tôi
trong cố gắng vô ích giữ chúng tôi khỏi chọc tức cha thêm nữa, người với cơn
giận trứ danh đang gần chạm đến điểm giới hạn.

Những chiếc kẹo có vị bạc hà, kẻ
sọc những đường hồng và trắng như những miếng cẩm thạch lớn, khiến chúng tôi
phải nhè hết kẹo ra mới nói chuyện được với nhau. Đến khi chúng tôi tới dãy nhà
và cửa hàng đầu tiên trong làng, mặt và tay tôi đã lem nhem đường, còn đằng
trước chiếc váy yếm xếp đăng ten mới tinh thì đầy nếp nhăn cùng vết bẩn ố màu.

Tôi chưa bao giờ hoàn toàn chắc
chắn về nguyên nhân đã khiến cha tôi dừng xe ở nơi đó. Tôi nhớ loáng thoáng có
một con mèo lao qua đường trước mặt chúng tôi, nhưng có lẽ đó đơn thuần chỉ là
sản phẩm từ trí tưởng tượng của một đứa trẻ đã mệt nhoài. Dù lý do là gì chăng
nữa, chiếc xe cũng dừng chạy, động cơ khựng lại, trong chấn động nối tiếp, tôi
đã có cái nhìn thoáng qua đầu tiên và đẫm nước mắt về ngôi nhà.

Nó là một ngôi nhà cổ to lớn, vuông
vức, chắc chắn, nằm cách một khoảng với con đường và được ngăn cách bởi một đám
cây cối um tùm mọc rải rác bao quanh. Mái đá lấp lánh mơ hồ dốc xuống một góc
đáng sợ hợp lại với những bức tường đá xám bợt bạt, sắc màu nhờ nhờ buồn tẻ bị
phá vỡ nhờ đôi ống khói bằng gạch đỏ cùng một dãy cửa sổ lớn nhiều ô kính, với
khung sơn trắng tinh tươm.

Khi tôi đang ấn mũi lên lớp kính
lạnh lẽo của chiếc xe, để căng mắt nhìn rõ hơn, thì sau vài tiếng chửi thề cực
kỳ ác độc, cha tôi đã xoay xở để dỗ được động cơ trở về với sự sống. Mẹ tôi,
nhẹ nhõm một cách rõ ràng, quay sang để kiểm tra hai anh em chúng tôi.

“Julia, đừng con”, bà thuyết phục.
“Con làm bẩn kính bây giờ.”

“Đó là nhà của con”, tôi giải
thích.

Anh Tommy của tôi chỉ vào một ngôi
nhà to hơn và oai vệ hơn nhiều vừa đi vào tầm mắt. “Ờ, kia là ngôi nhà
của anh”, anh đáp trả, ra chiều đắc thắng. Khiến cha mẹ tôi thích
thú, hai anh em tôi tiếp tục trò chơi suốt chặng về, và ngôi nhà màu xám cô đơn
chìm vào quên lãng.

Tôi đã không thấy nó trong suốt
mười bảy năm.

Mùa hè đó, cái mùa hè tôi bước sang
tuổi hai mươi hai, vẫn còn khắc sâu trong trí nhớ của tôi. Tôi vừa tốt nghiệp
trường nghệ thuật, và giành được công việc tưởng chừng hoàn hảo ở một công ty
quảng cáo nhỏ tại Luân Đôn. Anh Tom của tôi, hơn tôi ba tuổi, mới tốt nghiệp Oxford cùng tấm bằng xuất
sắc và ngay lập tức khiến cả nhà choáng váng với việc thông báo kế hoạch tham
gia Giáo hội Anh. Gia đình chúng tôi không đặc biệt mộ đạo, nhưng Tom hài hước
bảo vệ ý kiến rằng, với việc đặt tên anh như vậy, anh hầu như chẳng có lựa chọn
nào khác trong vấn đề này. “Thomas Beckett[1]! Con hỏi mẹ”, anh
trêu. “Mẹ còn có thể mong chờ gì nữa nào?”

[1] Thomas Beckett đọc gần giống
tên của Thomas Becket hay còn gọi là Thánh Thomas Canterbury,
vị Tổng giám mục tử vì đạo ở Canterbury.

Để kỷ niệm mốc đánh dầu sự trưởng
thành, Tom và tôi quyết định sẽ đi nghỉ ngắn ngày ở bờ biển nam Devon, nơi
chúng tôi có thể tạm quên đi cha mẹ, trách nhiệm và tận hưởng thời tiết nóng
bức đầy ánh nắng mà thiên nhiên ban tặng cho miền nam nước Anh. Không phải thất
vọng, chúng tôi dành một tuần hạnh phúc cho việc lang thang trên bờ biển ở
Torquay, hoàn toàn thư giãn, trẻ hóa, và rám nắng.

Tom, còn mải đắm mình trong lạc
quan dâng trào, chỉ định tôi làm hoa tiêu cho chuyến trở về. Anh đáng lẽ phải
dự liệu tốt hơn. Trong khi khả năng định hướng bản đồ của tôi chính xác là
không hề tệ, thì tôi lại là đứa dễ dàng bị xao nhãng bởi phong cảnh xung quanh.
Bởi vậy, lạc khỏi đường chính đương nhiên là điều khó tránh khỏi, chúng tôi cứ
thế nhọc nhằn vượt qua một chuỗi tưởng như vô tận những ngôi làng nhỏ bé hao
hao nhau được kết nối bằng con đường hẹp có những tán cây rậm rạp đan lại trên
đầu mang vẻ ngoài y hệt một đường hầm.

Sau ngôi làng thứ bảy, Tom bắn sang
cho tôi những cái liếc dài buộc tội. Cả hai đều được thừa hưởng màu tóc, màu
mắt và những đường nét đẹp đẽ của người mẹ gốc Cornwall, nhưng khi mái tóc và
cặp mắt đen mang cho tôi ấn tượng tinh quái nhiều hơn xinh đẹp, thì có thể giúp
Tom trở nên tuyệt đối đe dọa theo ý anh.

“Em nghĩ chúng ta đang ở đâu?” Anh
hỏi, với thái độ lịch sự chết người.

Tôi nghiêm túc nghiên cứu bản đồ.
“Wiltshire, em hy vọng thế”, tôi vui vẻ trả lời anh. “Nơi nào đó giữa đường.”

“Hừm, nghe mạch lạc đấy.”

“Coi nào”, tôi đề nghị, khi đến
ngôi làng thứ tám, “sao anh không ngừng bướng bỉnh và hỏi đường ở một quán rượu
tiếp theo? Thành thực mà nói, Tom à, anh cũng tệ y hệt như cha…”. Lời nói kết
thúc trong tiếng ré lên đột ngột.

Lần này, tôi không hề tưởng tượng.
Một con mèo núc ních vàng hoe xông ngay qua đường, thẳng trước mũi ô tô của
chúng tôi. Chiếc phanh rít lên phản đối khi Tom đạp phanh, và rồi, bất thình
lình, động cơ chết ngóm.

“Khốn kiếp!”

“Các cha xứ không ăn nói thế đâu”,
tôi nhắc và anh nhe răng cười vô tư.

“Anh đang loại bỏ nó ra khỏi hệ
thống từ ngữ của mình đây”, đó là lời giải thích của anh.

Bật cười, tôi nhìn qua cửa sổ và
đông cứng.

“Không thể tin được”

“Anh biết rồi”, anh trai tôi đồng
ý. “Nhỡ miệng thôi mà.”

Tôi lắc đầu. “Không phải, Tom, nhìn
kìa - đấy là nhà của em”

“Cái gì?”

“Ngôi nhà xám của em”, tôi nói.
“Anh không nhớ sao, cái ngày con mèo chạy qua đường và làm cha chết máy ô tô
ấy?”

“Không.”

“Trên đường trở về từ nhà bác
Helen”, tôi nói thêm, “ngay sau sinh nhật thứ năm của em. Trời đổ mưa và cha rẽ
nhầm lối, rồi một con mèo chạy qua đường và cha phải dừng xe”.

Anh trai tôi nhìn tôi hệt theo cái
cách một nhà khoa học nghiên cứu mẫu xét nghiệm mới quái dị, và lắc đầu.

“Không, anh không nhớ.”

“Ừm, xảy ra thật mà”, tôi khăng
khăng, “và chiếc xe chết máy ngay chỗ này, rồi em trông thấy ngôi nhà đó”.

“Nếu em đã nói thế.”

Bây giờ chiếc xe bắt đầu khởi động
lại, và Tom cho nó táp vào lề đường nên tôi có thể nhìn rõ ràng hơn.

“Anh có biết thế nghĩa là sao
không?” Tôi hỏi.

“Anh nghĩ thế có nghĩa là số gia
đình ta quá đen với đám mèo ở Wiltshire”, Tom đáp. Tôi chọn cách lờ anh đi.

“Em tự hỏi không biết nó bao nhiêu
tuổi.”

Tom nghiêng đầu lại gần
hơn. “Anh nghĩ là từ thời Elizabeth I[2]. Cũng có thể từ thời
James I[3].”

[2] Elizabeth I (1533-1603): Nữ
hoàng trị vì nước Anh từ 1558 đến khi qua đời. Dưới sự cai quản của bà, quyền
lực của nước Anh vươn xa trên toàn thế giới, đây là một giai đoạn huy hoàng
trong lịch sử của nước Anh.

[3] James I (1566-1625) trị vì
nước Anh từ 1603 đến khi qua đời năm 1625.

Tôi quên mất Tom vốn rất say mê môn
kiến trúc. Bên cạnh đó, anh ấy luôn biết tất cả mọi thứ.

“Em muốn được nhìn gần hơn.” Giọng
tôi tràn trề hy vọng nhưng Tom đơn giản chỉ trao cho tôi một cái nhìn thoáng
qua bao dung trước khi đánh xe vòng vào làng.

“Anh sẽ không”, anh nói, “đi nhòm
qua cửa sổ nhà ai đó chỉ để thỏa mãn tính tò mò của em đâu. Bên cạnh đó, người
ta để biển ‘Đất tư’ trên lối vào nhà rồi”.

Đi được một quãng ngắn thì chúng
tôi lái xe vào sân đỗ của quán Sư Tử Đỏ, một quán rượu tao nhã có kết cấu phân
nửa làm từ gỗ với phần mái lợp tranh cổ kính cùng những chiếc bàn xếp tạm trước
hiên để đón khách buổi trưa. Tôi ngồi trong xe, sẵn sàng đổi chỗ sang ghế lái,
trong khi Tom vào quán để tu nhanh một vại bia và hỏi hướng trở lại đường
chính.

Vì quá bận nghĩ ngợi về sự quái lạ
tột độ khi đi lạc hai lần tại cùng địa điểm, tôi quên béng bảo anh trai hỏi xem
ngôi làng này tên là gì.

Phải đến tám năm sau, tôi mới nhận
ra một lần nữa mình đang ở Exbury, Wiltshire.

Lần này, cũng là lần cuối cùng, vào
đầu tháng Tư, còn hai tháng nữa đến sinh nhật thứ ba mươi của tôi, và - lần này
- tôi không bị lạc. Tôi vẫn sống ở Luân Đôn, trong một căn hộ cho thuê nhỏ xíu
dần trở nên gắn bó ở Bloomsbury, dù vừa bất
ngờ được bác Helen bên đằng nội cho thừa kế một khoản kếch xù, đây cũng là bà
bác mà nhiều năm trước gia đình chúng tôi đã ghé thăm ở Exerter. Mới chỉ gặp
tôi hai lần, nên vì sao bác chọn tôi làm người thừa kế khoản tiền quá lớn đó
vẫn là một bí ẩn. có lẽ vì tôi là đứa cháu gái duy nhất trong dòng họ. Bác
Helen, theo cha tôi, là người sở hữu một nhân sinh quan gắn chặt với bình quyền
nữ giới. “Một căn phòng dành riêng cho em”, Tom tuyên bố rành rọt với tôi. “Đấy
là những gì bác ấy để lại cho em. Em đã đọc Virginia Woolf [4] chưa?”

[4] Virginia Woolf là một trong
những tiểu thuyết gia hiện đại lừng danh nhất thế kỉ XX, câu châm ngôn “Nếu một
người phụ nữ định viết tiểu thuyết, cô ta cần tiền và một căn phòng dành riêng
cho mình” rất nổi tiếng trong tác phẩm Một căn phòng riêng của bà.

Thực sự số tiền đó thừa sức mua một
căn phòng, nhưng dù chỉ là chút mơ hồ, tôi cũng chẳng biết xử lý số tiền đó ra
sao. Tom nhất quyết từ chối lời đề nghị của tôi chia khoản thừa kế cho anh, còn
cha mẹ tôi cũng bảo không cần, vì sau khi cha tôi nghỉ làm bác sĩ phẫu thuật
thì cha mẹ tôi cũng sống thừa sung túc rồi. Vậy đấy.

Phần lớn thời gian tôi đều khá bận
rộn, khi cứ phải luân phiên làm những việc từ thiết kế đồ họa cho đến vẽ tranh
minh họa, lĩnh vực vừa mang cho tôi nhiều hứng thú lẫn thù lao hậu hĩnh hơn.
Nhờ chút may mắn, trước đó tôi có cơ hội làm việc với một tác giả vô cùng tài
năng, và việc cộng tác cho ra đời một tuyển tập các câu chuyện giả tưởng cho
thiếu nhi đã mang lại một danh tiếng đáng kể cho tôi trong công việc, đây là
còn chưa kể một mức sống ổn định hơn. Tuần đó, tôi vừa được uỷ quyền vẽ minh
họa cho một tuyển tập mới vô cùng đồ sộ về truyền thuyết và các câu chuyện cổ
tích đến từ khắp nơi trên thế giới, một dự án khiến tôi vô cùng hào hứng và hứa
hẹn sẽ giữ cho tôi bận rộn suốt phần lớn thời gian còn lại trong năm. Không gì
có thể diễn tả nỗi niềm hạnh phúc của tôi.

Thông thường, tôi sẽ ăn mừng cơ may
của bản thân cùng gia đình, nhưng bởi cha mẹ tôi đã nghỉ ở nơi cách nửa vòng
trái đất và Tom thì bận rộn với các buổi lễ Phục sinh, tôi đành chuyển sang
phương án hay ho tiếp theo và dành ra những ngày cuối tuần đến Bath[5] cùng
bạn. Vào sáng thứ Hai, khi nhận thấy dòng xe cộ trên trục đường chính hơi đông
quá mức với mình, tôi bẻ lái sang hướng bắc và đi dọc con sông Kennet dịu dàng
uốn lượn đổ về Luân Đôn.

[5] Thành phố ở Anh nổi tiếng
với suối nước nóng và khu nghỉ dưỡng do người La Mã xây dựng từ hàng nghìn năm
trước.

Trời tuy hơi lạnh nhưng vẫn là một
ngày mùa xuân hoàn hảo, hàng cây hai bên đường đang hăng hái vươn lá non như
cây vùng nhiệt đới. Với sự ngưỡng mộ mùa xuân, tôi đã lái xe với những khung
cửa kính được hạ xuống, không khí có mùi ngọt ngào của mưa, đất và vạn vật sinh
sôi.

Với tiếng khò khè phản đối, chiếc
xe Peugeot thấp khớp nhưng đáng tin cậy của tôi leo lên ngọn đồi nhỏ. Ghìm tốc
độ, tôi vượt qua một vòng cung rộng nơi con đường dốc xuống thung lũng trước
khi vượt qua Kennet trên chiếc chầu đá hẹp. Khi vọt qua chiếc cầu, tôi cảm giác
ngứa ran lờ mờ sau gáy mình, và những ngón tay bất giác siết lấy vô lăng.

Ngạc nhiên nhất là tôi hoàn toàn
không hề bất ngờ, vào lần này, lúc nhìn thấy ngôi nhà. Không hiểu vì sao, tôi
gần như trông đợi nó sẽ nằm ở đó. Tôi cho xe lăn bánh chầm chậm, rồi đỗ lại và
tắt máy, ngay đối diện lối lái xe dài rải đầy sỏi. Một con mèo vàng nghênh
ngang băng qua đường mà không thèm liếc mắt nhìn tôi, và biến mất vào trong đám
cỏ dập dờn. Ba lần trong một đời người, tôi tự nhủ, thậm chí nếu không có con
mèo, điều này chắc chắn nằm ngoài phạm vi của sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Chắc chắn, tôi suy luận, người nào
đó sở hữu ngôi nhà cũng không thực sự phiền lòng nếu tôi tùy tiện ngó nghiêng
xung quanh, phải không nhỉ…? Khi tôi còn đang ngập ngừng cắn môi, một bầy sáo
đá đập cánh bay lên từ cánh đồng ngay bên cạnh, tụm lại và nhảy lích chích trên
ngôi nhà đá màu xám, rồi biến mất.

Đối với tôi, đó là yếu tố mang tính
quyết định. Từ cách nhìn nhận của mẹ tôi, tôi cũng được thừa kế bản tính mê tín
từ những tổ tiên Cornwall,
và bầy chim sáo chính là điềm lành theo quan niệm của bản thân tôi. Từ thưở
nhỏ, bất cứ khi nào tôi nhìn thấy một bầy chim sáo có nghĩa có chuyện gì đó rất
tuyệt sắp xảy ra. Anh Tom luôn cố gắng chỉ ra kẽ hở trong niềm tin này bằng
cách nhắc tôi nhớ chim sáo ở các đồng quê nước Anh không hề hiếm, và mối liên kết
của chúng với hạnh phúc của tôi chỉ là một xác suất ngẫu nhiên quá lớn mà thôi.
Tôi tiếp tục hoài nghi. Chỉ biết những chú chim sáo chưa bao giờ dẫn tôi nhầm
lối, lúc nhìn chúng quay trở lại và bay khỏi ngôi nhà, tôi đột ngột ra quyết
định.

Tôi vồ lấy chiếc áo choàng xanh lá
bùng nhùng từ ghế bên cạnh và ra khỏi xe; thiếu chút nữa thụt chân xuống rãnh
trong trạng thái quá háo hức. Tôi phải thừa nhận kiểu ăn mặc của bản thân không
hề phù hợp với chuyện thăm thú, khi kéo chiếc áo khoác trùm lên quần jean cùng
chiếc áo nỉ xù lông – nhưng cũng chẳng ích gì. Tôi lùa bàn tay qua mái tóc
trong cố gắng đến tuyệt vọng làm mượt những lọn tóc ngắn bờm xờm, nhưng con gió
ẩm ướt đang thổi đã phá hỏng mọi nỗ lực của tôi.

Giờ thì, tôi nghĩ, nên dùng lý do
nào bây giờ? Lạc đường? Xin một ly nước? Hay xe gặp trục trặc? Tôi ngó lại
chiếc Peugot lồi lõm và méo mó rồi gật đầu. Hỏng xe, tôi quyết định. Ai cũng sẽ
tin điều đó. Nhẩm lại đoạn thoại của mình, tôi băng qua đường và bắt đầu đi lên
lối xe rải sỏi. Một tấm biển rạn nứt và bạc thếch cùng dòng chữ “Đất tư” sơn đỏ
phai màu ủ rũ treo trên một chiếc đinh đóng trên cái cây gần đó. Một cách dũng
cảm, tôi tiếp tục kiên trì, hy vọng những bước chân không tạo ra tiếng lạo xạo
với những người trong nhà như với đôi tai của chính mình.

Ngôi nhà trông hệt như những gì mà
tôi ghi nhớ - mái ngói đỏ với những ống khói bằng đất nung; những khung cửa sổ
trắng nằm cân xứng, bốn ô kính bên trên và bên dưới; những bức tường thô kệch
dưới vòm đá đen dốc đứng. Thứ khác biệt duy nhất là cái cửa. Tôi luôn hình dung
nó có màu nâu, nhưng lúc này tôi trông thấy màu xanh thẫm rõ ràng, tạo nên sự
tương phản rõ nét với khung đá đồ sộ bao xung quanh.

Tiếng gõ cửa của tôi vọng lại nặng
nề với âm thanh trầm đục và trống rỗng. Tôi gõ ba lần lên cánh cửa gỗ chắc
nịch, trước khi phải thừa nhận sẽ chẳng có ai trả lời tiếng gọi cửa.

Có nghĩa là chẳng có ai ở nhà. Và,
tôi hạnh phúc nghĩ thầm, bởi không có ai ở nhà, dẫn đến không một ai sẽ cảm
thấy phiền hà nếu tôi vòng ra sau ngôi nhà và tiếng một người đàn ông đột ngột
vang lên đằng sau tôi.

“Ông ấy không có nhà đâu.”

Một giọng nói thân thiện, với lối
phát âm có chút không thuần Anh khó nghe, từ xa vọng lại. Nhưng tôi không nhận
ra bất cứ dấu hiệu nào ngay lập tức. Tôi giật mình quay phắt lại, làm chồng
chậu hoa rơi loảng xoảng xuống đất.

Ban đầu tôi không nhìn thấy ai,
nhưng khi cứ đứng đó nhìn chằm chằm, dáng hình một người đàn ông dần tách ra
khỏi bức tường đá đổ nát và băng qua bãi cỏ về phía tôi. Anh ta còn trẻ, có lẽ
nhiều hơn tôi năm tuổi, mặc áo lao động bằng vải thô và đeo đôi găng tay dài
bằng da kỳ quặc như thể có từ thời trung cổ và vô cùng bất hợp lý.

“Tôi không định khiến cô hoảng sợ”,
anh ta xin lỗi. “Tôi tưởng cô đang tìm Eddie, ông ấy không có ở đây.”

Giờ anh ta đã đến khá gần, đủ gần
để tôi có thể nhìn thấy mái tóc nâu vàng và cặp mắt màu xám tro, rõ ràng là
người Scotland.
Anh ta mỉm cười, nụ cười cũng thân thiện đi đôi cùng giọng nói.

“Cô là bạn của Eddie à?” Anh ta
hỏi.

Tôi lắc đầu.

“Ra là họ hàng.”

“Không.” Củng cố thêm lời thú nhận,
mặt tôi thoáng đỏ. Tôi đã linh cảm câu chuyện bịa về chiếc xe hỏng của mình sẽ
không qua được đôi mắt xám sắc sảo đó. “Không, tôi không quen chủ nhà. Liệu anh
có biết khi nào ông ấy sẽ trở lại không?”

Người đàn ông nghiêng đầu sang một
bên và nhìn tôi dò xét, phần nào khiến tôi nhớ đến anh trai mình.

“Tôi hy vọng là không”, anh ta đều
giọng nói. “Chúng tôi mới chôn cất ông ấy tháng trước.”

“Ôi, tôi xin lỗi.” Sắc màu trên má
tôi sậm hơn. “Tôi thực sự xin lỗi.”

“Không hại gì cả.” Anh ta nhún vai.
“Vậy cô chỉ đang ngó nghiêng thôi, đúng không?”

Mặt tôi, lần này đã chuyển sang đỏ
lừ, và tôi cứ có cảm giác sự bồn chồn rõ ràng của mình khiến anh ta thích thú.
Phải mất một lúc toàn bộ tầm quan trọng trong điều anh ta vừa mới nói cuối cùng
cũng lắng xuống trong tôi, và tôi đột ngột quên đi tình trạng bối rối của bản
thân.

Tôi nhanh chóng ngước mắt lên. “Tức
là ngôi nhà đang rao bán?”

“Phải. Nên cô muốn xem xét nó hả?”

“Tôi muốn mua nó. Tôi đã chờ để mua
ngôi nhà này hai mươi lăm năm rồi.”

Người đàn ông nhướng một bên lông
mày nâu đỏ, rồi tôi phát hiện ra không biết vì lý do ngớ ngẩn bản thân lại đang
bập bẹ toàn bộ câu chuyện về “Ngôi nhà và tôi”, còn anh ta thì lắng nghe với sự
kiên nhẫn rất đáng ngưỡng mộ. Tôi không tưởng tượng nổi anh ta thấy câu chuyện
đáng thú vị ở chỗ nào. Khi tôi kết thúc bài tường thuật ngây ngô, tầm mắt anh
ta đón ánh mắt tôi lần thứ hai, và vẻ tương đồng với anh trai tôi thậm chí còn
rõ rệt nhiều hơn nữa.

“Hừm”, anh ta nghiêm nghị nói, “thế
tốt nhất cô nên gặp ông Ridley ở đường Thượng. Tôi không mang chìa khóa theo,
không thì tôi đã dẫn cô xem quanh đây rồi”. Anh ta cởi một chiếc găng và chìa
tay ra bắt. “Nhân tiện, tôi là Iain Sumner.”

“Julia Beckett.” Tôi phải sửa lại
biểu cảm khi nhìn thấy bàn tay anh ta, bởi anh lại mỉm cười lúc nhìn xuống
những vết cứa nhỏ xíu trên làn da mình.

“Do bụi mâm xôi”, anh ta giải
thích. “Tôi mà không tỉa bớt là chúng lại làm tắc nghẽn khu vườn của tôi. Không
đau đâu”, anh ta vừa cam đoan vừa kéo lại găng tay. “Tốt hơn hết tôi nên quay
lại làm việc. Chúc cô may mắn với ngôi nhà nhé.”

“Cảm ơn anh”, tôi nói, nhưng anh ta
đã ra khỏi tầm nghe mất rồi.

Năm phút sau, tôi đang ngồi trong
văn phòng của Ridley và Staward, những người môi giới bất động sản. Thú thực,
tôi không nhớ được nhiều về chiều hôm đó. Tôi có chút ấn tượng không mấy rõ
ràng về những lời dông dài của ông Ridley với các vấn đề luật pháp, chuyển
nhượng và điều tra gì đó, nhưng tôi cũng không thực sự chú ý lắng nghe.

“Cô có chắc”, ông Ridley hỏi tôi,
“rằng cô không muốn xem nhà trước không?”.

“Tôi đã thấy nó rồi”, tôi đảm bảo
với ông ta. Thành thực mà nói, những thủ tục thế này dường như không cần thiết.
Nó, sau cùng, là nhà của tôi. Nhà của tôi. Tôi vẫn ôm nhận thức đó một cách
mạnh mẽ, như đứa trẻ ôm món quà, khi gõ lên khung cửa nhà mục sư ở khu vực St.
Stephen, Elderwel, Hampshire, chiều hôm đó.

“Chúc mừng em đi nào, mục sư.” Tôi
cười rạng rỡ trước cái giật bắn mình trên gương mặt của anh tôi. “Trên thực tế,
chúng ta đã trở thành hàng xóm. Em vừa mới mua một ngôi nhà ở Wiltshire.”

Báo cáo nội dung xấu