Đại chiến hacker - Chương 05 phần 1
Chương 5
Nhưng đó chính là Van, cô cũng đang
khóc và ôm tôi chặt đến mức ngạt thở. Tôi không quan tâm. Tôi ôm cô, vùi mặt
trong tóc cô.
“Cậu ổn rồi!” cô nói.
“Mình ổn,” tôi gắng bật nên lời.
Cuối cùng cô cũng bỏ tôi ra và một
vòng tay khác bao bọc lấy tôi. Đó là Jolu! Họ đều ở đây. Nó thì thào vào tai
tôi, “Người anh em, cậu an toàn rồi,” và ôm tôi chặt hơn cả Vanessa.
Khi nó buông tay ra, tôi nhìn
quanh. “Darryl đâu?” tôi hỏi.
Họ nhìn nhau. “Có lẽ nó vẫn ở trong
xe,” Jolu nói.
Chúng tôi quay lại và nhìn cái xe ở
cuối ngõ. Đó là một chiếc xe mười tám bánh màu trắng, khó xác định hãng nào sản
xuất. Ai đó đã mang cái thang gấp vào trong. Đèn hậu màu đỏ bật sáng, chiếc xe
lăn bánh về phía chúng tôi, phát ra âm thanh píp píp đều đều.
“Đợi đã!” Tôi hét lên khi chiếc xe
tăng tốc về phía chúng tôi. “Đợi đã! Còn Darryl thì sao?” Chiếc xe tiến đến gần
hơn. Tôi vẫn gào lên. “Thế còn Darryl thì sao?”
Jolu và Vanessa mỗi người một tay
kéo tôi lại. Tôi chống cự, miệng vẫn gào lên. Chiếc xe lùi tới đầu ngõ, quay ra
đường, hướng xuống dốc và phóng đi. Tôi cố đuổi theo, nhưng Van và Jolu giữ tôi
lại.
Tôi ngồi xuống vỉa hè, bó gối và
khóc. Tôi khóc và khóc và khóc, những tiếng khóc nức nở mà tôi đã không còn
khóc từ hồi bé tí. Chúng không ngừng tuôn ra. Tôi không thể thôi run rẩy.
Vanessa và Jolu giúp tôi đứng dậy
và dìu tôi đi từng bước lên phố. Có một trạm xe buýt, họ để tôi ngồi xuống đó.
Cả hai cũng khóc, cả đám ôm nhau một lúc, và tôi biết chúng tôi đều khóc cho
Darryl, người mà không đứa nào dám hy vọng sẽ được gặp lại nữa.
Chúng tôi đang ở phía Bắc của khu
phố Tàu, chỗ ngay sát khu North Beach, nơi có rất nhiều hộp đêm và hiệu sách
phản văn hóa Ánh Sáng Đô Thị huyền thoại, phong trào thơ Beat đã được sáng lập
tại đây vào những năm 1950.
Tôi biết rất rõ khu vực này. Nhà
hàng Ý yêu thích của bố mẹ tôi nằm ở đây và họ thích đưa tôi tới đây để thưởng
thức những đĩa mì ống lớn, những núi kem Ý khổng lồ với trái vả tẩm đường, tiếp
đến là cốc espresso ngon chết người.
Giờ nó như một nơi khác, một nơi mà
tôi được nếm mùi tự do lần đầu tiên sau một khoảng thời gian tưởng chừng như vô
tận.
Chúng tôi kiểm tra túi và tìm thấy
đủ tiền để đặt một bàn tại một trong những quán ăn Ý, trên vỉa hè, dưới một mái
hiên. Cô bồi bàn xinh đẹp đốt lò sưởi gas lên bằng bật lửa lò nướng, ghi lại
yêu cầu của chúng tôi rồi đi vào. Cảm giác được chọn và gọi món ăn, được kiểm
soát số phận của mình là điều kỳ diệu nhất mà tôi từng cảm thấy.
“Chúng ta đã ở đó bao lâu?” tôi
hỏi.
“Sáu ngày,” Vanessa nói.
“Tớ nghĩ là năm,” Jolu nói. “Tớ
không đếm.”
“Họ đã làm gì cậu?” Vanessa hỏi.
Tôi không muốn nói về việc này, nhưng cả hai đều nhìn tôi. Và khi đã bắt đầu
thì tôi không thể ngừng lại. Tôi kể cho họ mọi thứ, ngay cả lúc tôi bị ép phải
tè ra người, và họ im lặng lắng nghe. Tôi ngừng lại khi người bồi bàn mang sô
đa cho chúng tôi và đợi đến khi cô ta ra khỏi tầm nghe, tôi mới kể nốt câu
chuyện. Qua lời kể của tôi, mọi chuyện nghe có vẻ thản nhiên. Cuối cùng, tôi
không biết mình đang thêu dệt nên sự thật hay đang cố làm mọi chuyện bớt tồi tệ
hơn. Những ký ức của tôi bơi như những con cá nhỏ mà tôi đang cố bắt, đôi lúc
chúng vuột khỏi tay tôi.
Jolu lắc đầu. “Họ thật khắc nghiệt
với cậu, chiến hữu,” nó nói. Nó kể cho chúng tôi câu chuyện của mình. Họ tra
hỏi nó, phần lớn là về tôi, và nó luôn nói sự thật cho họ, trung thành với sự
thật về ngày hôm đó và về tình bạn của chúng tôi. Họ đã bắt nó phải lặp đi lặp
lại, nhưng họ không dùng những trò cân não với nó như cách họ làm với tôi. Nó
được ăn trong phòng ăn tập thể cùng với những người khác, được ở trong phòng có
ti vi chiếu băng video những bộ phim ăn khách năm ngoái.
Câu chuyện của Vanessa chỉ hơi khác
một chút. Sau khi cô khiến họ tức điên vì nói chuyện với tôi, họ đã lấy hết
quần áo của cô và bắt cô phải mặc một bộ đồ liền màu cam cho tù nhân. Cô bị bỏ
trong xà lim suốt hai ngày mà không cho liên lạc với ai, dù hàng ngày cô vẫn
được ăn. Nhưng phần lớn thì cũng giống Jolu: vẫn những câu hỏi ấy, lặp đi lặp
lại.
“Họ thực sự ghét cậu,” Jolu nói.
“Thực sự muốn hành hạ cậu. Tại sao?”
Tôi không thể tưởng tượng ra tại
sao. Rồi tôi chợt nhớ.
Cậu có thể hợp tác, hoặc là cậu sẽ
vô cùng, vô cùng hối tiếc.
“Đó là vì mình đã không mở khóa
điện thoại cho họ, vào đêm đầu tiên. Thế nên họ đã chọn riêng mình.” Tôi không
thể tin điều đó, nhưng không còn cách giải thích nào nữa. Đó là sự tuyệt đối
không khoan dung. Tâm trí tôi xoay theo ý nghĩ này. Họ thực hiện tất cả những
điều đó chỉ để trừng phạt tội không tuân thủ các nhà chức trách.
Tôi đã sợ hãi. Giờ thì tôi tức
giận. “Lũ khốn,” tôi nói nhỏ. “Chúng làm thế để trừng phạt tớ vì tớ không hé
nửa lời.”
Jolu chửi thề còn Vanessa thì hét
lên bằng tiếng Hàn Quốc, điều mà cô chỉ làm khi vô cùng giận dữ.
“Mình sẽ đánh bại họ,” tôi vừa thì
thầm vừa nhìn chòng chọc vào cốc sô đa. “Mình sẽ đánh bại họ.”
Jolu lắc đầu. “Cậu không thể, cậu
biết mà. Cậu không thể chống lại họ.
Không ai trong chúng tôi muốn nói
về việc trả thù. Thay vào đó, chúng tôi nói về việc sẽ làm gì tiếp theo. Chúng
tôi phải về nhà. Pin điện thoại của chúng tôi đã cạn và khu này đã bỏ dịch vụ
điện thoại trả tiền từ mấy năm trước. Chúng tôi chỉ cần về nhà. Thậm chí tôi
còn nghĩ tới việc đi taxi, nhưng cả bọn không còn đủ tiền để làm như thế.
Vì vậy chúng tôi cuốc bộ. Ở một góc
phố, chúng tôi bỏ vài xu vào hộp báo San Francisco Chronicle và dừng lại để đọc
trang bìa. Đã năm ngày kể từ khi xảy ra vụ đánh bom nhưng nó vẫn tràn ngập
trang nhất.
Người phụ nữ có mái tóc cắt bằng đã
nói về “cây cầu” bị nổ tung, và tôi đã đoán cô ta nói về cầu Cổng Vàng, nhưng
tôi đã nhầm. Bọn khủng bố đã làm nổ tung Cầu Vịnh(13).
(13)
Oakland Bay Bridge.
“Thế quái nào mà chúng lại làm nổ
Cầu Vịnh nhỉ?” tôi hỏi. “Cổng Vàng mới là cây cầu xuất hiện trên mọi tấm bưu
thiếp.” Dù chưa bao giờ tới San Franciso nhưng bạn vẫn có thể biết cầu Cổng
Vàng trông ra sao: nó là một cái cầu treo lớn màu da cam võng xuống đầy ấn
tượng, nối liên căn cứ quân sự cũ tên là Presidio tới Sausalito, nơi tập trung
tất cả những thị trấn sản xuất rượu tuyệt hảo cùng những cửa hàng nến thơm và
các phòng tranh nghệ thuật. Cây cầu đẹp như tranh vẽ và là biểu tượng của
bang California. Nếu bạn tới công viên Disneyland
ở California thì ngay khi đi qua cổng, bạn sẽ thấy một mô hình của
nó, với một đường ray xe lửa chạy xung quanh.
Vậy nên, lẽ tất nhiên tôi nghĩ rằng
nếu bạn định cho nổ một cái cầu ở San Francisco, bạn sẽ chọn Cổng Vàng.
“Có lẽ chúng sợ các máy quay và vài
thứ khác,” Jolu nói. “Cảnh vệ Quốc gia luôn kiểm tra ô tô ở cả hai đầu, lại còn
những tấm rào cản người tự vẫn và những thứ linh tinh khác dọc đó nữa.” Từ khi
được thông xe năm 1957, người ta cứ lên cầu Cổng Vàng mà nhảy xuống - họ đã
ngừng đếm sau vụ tự tử thứ một nghìn vào năm 1995.
“Đúng thế,” Vanessa nói. “Hơn nữa
Cầu Vịnh thực sự dẫn tới một nơi nào đó.” Cầu Vịnh dẫn từ trung tâm San
Francisco tới Oakland rồi từ đó đi tới Berkeley, vùng ngoại ô ở Vịnh Đông là
nơi ở của rất nhiều người đ sống và làm việc trong thành phố. Nó là một trong
số ít những nơi ở khu Vịnh mà một người bình thường có thể mua một căn nhà đủ
rộng để thực sự duỗi hết chân tay ra bên trong, rồi còn có trường đại học và
hàng tá các nhà máy công nghiệp nhẹ bên đó. BART nằm bên dưới Vịnh và cũng nối
liền hai thành phố, nhưng Cầu Vịnh mới là nơi diễn ra phần lớn hoạt động giao
thông. Cầu Cổng Vàng là một cây cầu đẹp đối với khách du lịch và những người
giàu có đã về hưu sống ở vùng đồng quê sản xuất rượu, nhưng nó gần như chỉ để
trang trí. Cầu Vịnh mới thực sự là cây cầu huyết mạch của San Francisco.
Tôi nghĩ về điều đó trong một phút.
“Các cậu nói đúng,” tôi nói. “Nhưng tớ không nghĩ tất cả chỉ có thế. Chúng ta
cứ nghĩ rằng bọn khủng bố muốn tấn công các điểm mốc bởi vì chúng ghét những
điểm mốc. Bọn khủng bố không ghét những điểm mốc hay cầu hay máy bay. Chúng chỉ
muốn làm loạn và khiến mọi người hoảng sợ. Để khủng bố. Vì vậy tất nhiên chúng
đã nhằm vào Cầu Vịnh khi mà cầu Cổng Vàng có đầy rẫy máy quay như thế - khi mà
máy bay nào cũng bị dò kim loại và quét tia X-quang.” Tôi nghĩ thêm một lúc
nữa, mắt đờ đẫn dõi theo những chiếc ô tô đang chạy trên đường, những người
đang đi bộ trên vỉa hè, thành phố xung quanh tôi. “Những kẻ khủng bố không ghét
máy bay hay cầu cống. Chúng yêu sự khủng bố.” Điều đó quá rõ ràng, đến mức tôi
không thể nào tin là trước đây mình lại chưa từng nghĩ đến nó. Tôi đoán việc bị
đối xử như một tên khủng bố trong vài ngày qua đã đủ để soi rọi lối tư duy của
tôi.
Hai đứa bạn nhìn tôi chằm chằm.
“Mình đúng phải không? Tất cả những thứ rác rưởi này, tia (X-quang) và máy nhận
dạng này, chúng đều vô ích phải không?”
Họ gật đầu chậm rãi.
“Còn tệ hơn là vô dụng,” tôi nói,
giọng tôi cao dần và vỡ ra. “Bởi vì cuối cùng chúng cũng ở trong tù với chúng
ta, với Darryl...” Tôi đã không nghĩ về Darryl từ lúc chúng tôi ngồi xuống và
giờ thì tất cả quay trở lại, bạn của tôi, mất tích, biến mất. Tôi ngừng nói và
nghiến quai hàm.
“Chúng ta phải nói với bố mẹ,” Jolu
nói.
“Chúng ta nên tìm một luật sư,”
Vanessa nói.
Tôi nghĩ về việc kể lại câu chuyện
của mình. Về việc kể cho cả thế giới biết tôi đã trở thành cái gì. Về những đoạn
video không còn nghi ngờ gì nữa sẽ được tung lên, trong đó tôi đang khóc, khiến
tôi chỉ còn là một con vật hèn hạ.
“Chúng ta không thể nói với họ bất
cứ điều gì,” tôi nói không cần suy nghĩ.
“Ý cậu là sao?” Van hỏi.
“Chúng ta không thể được nói bất cứ
điều gì,” tôi lặp lại. “Cậu đã nghe cô ta nói rồi đấy. Nếu chúng ta nói, họ sẽ
đến tìm chúng ta. Họ sẽ đối xử với chúng ta như họ đã làm với Darryl.”
“Cậu đùa à?” Jolu nói. “Cậu muốn
chúng ta...”
“Tớ muốn chúng ta chiến đấu,” tôi
nói. “Tớ muốn được tự do cốt để có thể làm điều đó. Nếu chúng ta ra ngoài và bô
lô ba la, người ta sẽ bảo chúng ta là những đứa nhóc dựng chuyện. Chúng ta thậm
chí còn không biết mình bị giam giữ ở đâu! Sẽ không ai tin chúng ta. Rồi, một
ngày, họ sẽ tìm tới chúng ta.
“Tớ sẽ nói với bố mẹ rằng tớ ở một
trong những trại ở phía bên kia Vịnh. Tớ tới đó để gặp các cậu và chúng ta bị
mắc kẹt, hôm nay mới thoát ra được. Báo chí đã nói vẫn còn người lang thang về
nhà từ những trại này.”
“Tớ không thể làm thế,” Vanessa
nói. “Sau tất cả những gì họ làm với cậu, làm sao cậu vẫn còn có thể nghĩ đến
việc làm vậy chứ?”
“Nó đã xảy ra với tớ, đó chính là
mấu chốt. Giờ thì đây là việc giữa tớ và bọn họ. Tớ sẽ đánh bại họ, tớ sẽ đưa
Darryl trở về. Tớ sẽ không để lời nói dối này trở nên vô ích. Một khi bố mẹ
chúng ta liên quan đến vụ này, chuyện thế là kết thúc. Sẽ không ai tin và không
ai quan tâm. Nếu chúng ta làm theo cách của tớ, mọi người sẽ để ý.”
“Cách của cậu là sao?” Jolu hỏi.
“Kế hoạch của cậu là gì?”
“Tớ cũng chưa biết nữa,” tôi thú
nhận. “Hãy cho tớ thời gian đến sáng mai, ít nhất hãy cho tớ chừng ấy thời
gian.” Tôi thừa biết một khi họ đã giữ bí mật đó trong một ngày thì nó sẽ vĩnh
viễn là bí mật. Bố mẹ chúng tôi thậm chí còn nghi ngờ hơn nếu chúng tôi đột
nhiên “nhớ ra” rằng mình đã bị giữ nhà tù bí mật thay vì ở trong một trại tị
nạn.
Van và Jolu nhìn nhau.
“Tớ chỉ xin một cơ hội thôi mà,”
tôi nói. “Chúng ta sẽ tìm hiểu câu chuyện trên đường về, làm sáng tỏ nó. Hãy
cho tớ một ngày, chỉ một ngày thôi.”
Hai bạn tôi gật đầu rầu rĩ và cả
bọn lại đi xuống đồi và về nhà. Tôi ở đồi Potrero, Vanessa ở khu Bắc Mission và
Jolu sống ở thung lũng Noe - ba khu hoàn toàn khác nhau nhưng chỉ cách nhau vài
phút đi bộ.
Chúng tôi hướng vào phố Chợ và dừng
lại. Con phố bị chặn lại ở mọi góc, những ngã tư giờ chỉ còn là làn đường đơn,
và đậu san sát dọc phố Chợ là những chiếc xe mười tám bánh khổng lồ khó xác
định nguồn gốc như chiếc xe đã chở chúng tôi, phần mui bị che lại, đậu từ bến
tàu tới khu phố Tàu.
Mỗi xe có cầu thang thép ba bậc dẫn
xuống từ phía sau và rì rầm những âm thanh hoạt động của quân lính, những người
mặc đồ vest và cảnh sát đi ra đi vào. Đám người mặc đồ vest đều đeo phù hiệu
trên ve áo và bị quân lính kiểm tra kỹ lưỡng khi ra vào - những phù hiệu điện
tử không dây. Khi chúng tôi đi qua một trong số họ, tôi nhìn vào và thấy cái
logo quen thuộc: Cục An ninh Nội địa. Một người lính thấy tôi nhìn chằm chằm
bèn trừng mắt lại với tôi.
Tôi tiếp nhận thông điệp, đi tiếp
và chia tay đám bạn ở Van Ness. Cả bọn níu lấy nhau, khóc và hứa sẽ gọi cho
nhau.
Đường về đồi Potrero có một lối dễ
đi và một lối khó đi, đường khó đưa bạn qua một trong những đỉnh đồi dốc nhất ở
thành phố, như kiểu bạn hay thấy trong phim hành động, những cảnh ô tô rượt
đuổi nhau rồi bay vút lên không trung khi vượt tới đỉnh cao nhất. Tôi luôn chọn
đường này để về nhà. Nó có nhiều con phố đông dân cư, những ngôi nhà cổ thời
Victoria mà họ gọi là “các quý cô đỏm dáng(14)”
vì được sơn cầu kỳ công phu, với những khu vườn trước nhà đầy hoa thơm ngát và
cỏ cao ngút ngàn. Bọn mèo nhà sẽ nhòm bạn qua hàng rào, và hiếm khi nào thấy
mèo hoang.
Những con phố này yên tĩnh tới mức
tôi ước mình đã chọn đường kia, qua khu Mission, nơi mà... náo nhiệt có lẽ
là từ đúng nhất để mô tả nó. Ồn ào và sôi nổi. Đầy rẫy những kẻ say xỉn ầm ĩ,
con nghiện cocaine cáu kỉnh và bọn sốc ma túy bất tỉnh, cũng không thiếu những
gia đình đẩy xe nôi đi dạo, những bà cụ ngồi nói chuyện bên hiên nhà, những
người lái xe ô tô cỡ lớn kéo theo âm thanh rầm rầm xuống phố. Có những tay
hippie, đám sinh viên mỹ thuật theo phong cách emo(15) sầu
thảm và cả hai tay chơi rock punk truyền thống, những lão già bụng phệ lòi ra
khỏi cái áo phông in hình ngài Kennedy Quá cố. Rồi cả những gã mặc đồ phụ nữ(16),
các băng nhóm thanh thiếu niên hung dữ, những nghệ sĩ graffiti và kẻ ngụy
trưởng giả luống cuống cố để không bị giết trong khi chờ mối đầu tư nhà đất mãn
hạn.
(14)
Painted ladies: từ dùng để chỉ những ngôi nhà theo kiểu
thời Victoria hay Edward được sơn hai đến ba màu tô điểm cho các chi
tiết kiến trúc.
(15) Một loại
nhạc rock đặc trưng phong cách âm nhạc và sự thể hiện du dương, lời bài hát
thường mang tính tâm sự, kể lể.
(16) Drag
queen: Những người đàn ông ăn mặc và cư xử như một người phụ nữ với mục đích để
giải trí hay biểu diễn.
Tôi đi lên đồi Goat và rảo qua quán
Pizza Goat Hill, nơi này làm tôi nhớ lại nhà tù mà mình đã bị giam giữ, và tôi
phải ngồi xuống cái ghế dài bên ngoài nhà hàng cho đến khi những cơn run rẩy
kết thúc. Rồi tôi nhìn thấy chiếc xe tải trên đồi, một chiếc mười tám bánh với
cầu thang ba bậc kim loại phía sau. Tôi đứng dậy và di chuyển. Tôi cảm thấy
những ánh mắt đang dõi theo mình từ mọi hướng.
Tôi lao nhanh trên đoạn đường còn
lại. Tôi không nhìn ngắm “các quý cô đỏm dáng”, mấy khu vườn hay bọn mèo nhà
nữa. Tôi chỉ nhìn xuống đất.
Cả hai xe của bố mẹ tôi đều ở lối
vào ga ra, dù bây giờ là giữa ngày. Tất nhiên, bố tôi làm việc ở Vịnh Đông nên
chắc ông bị mắc kẹt ở nhà trong khi người ta sửa cầu. Còn mẹ, ờ, ai mà biết tại
sao mẹ lại ở nhà.
Họ ở nhà vì tôi.
Tôi còn chưa kịp mở khóa cửa thì
cánh cửa đã tuột khỏi tay tôi và mở tung ra. Cả bố và mẹ tôi, trông đều buồn bã
và phờ phạc, đang mở to mắt nhìn chằm chằm vào tôi. Chúng tôi cứ đứng đó như bị
đóng băng mất một lúc, rồi họ lao ra kéo tôi vào nhà, suýt nữa làm tôi vấp ngã.
Cả hai người nói quá to và nhanh khiến tất cả những gì tôi nghe thấy là những
lời lắp bắp ồn ào, không từ nào ra từ nào và họ ôm lấy tôi mà khóc, tôi cũng
khóc, chúng tôi cứ đứng như vậy trong gian tiền sảnh nhỏ, khóc lóc và thốt ra
những âm thanh gần giống lời nói cho đến lúc hết cả hơi và vào trong bếp.
Tôi làm việc mà tôi luôn làm khi về
nhà: lấy cho mình một cốc nước từ máy lọc trong tủ lạnh và bới lấy vài chiếc
bánh quy từ “thùng bánh quy” mà chị gái của mẹ đã gửi cho chúng tôi từ Anh. Sự
bình thường của việc này khiến tim tôi thôi không đập nữa, nó bắt kịp trí óc
tôi, và cả gia đình nhanh chóng ngồi vào bàn.
“Con đã ở đâu?” bố mẹ gần như đồng
thanh hỏi tôi.
Tôi đã suy nghĩ về việc này trên
đường về. “Con bị mắc kẹt,” tôi nói. “Ở Oakland. Con đến đó cùng mấy người
bạn, cùng làm một việc này, rồi bọn con đều bị cách ly.”
“Trong năm ngày?”
“Vâng,” tôi nói. “Vâng. Thật tệ.”
Tôi đã đọc về những vụ cách ly trên tờ Chronicle và không ngại ngùng chôm luôn
những gì họ viết. “Vâng. Tất cả những ai bị bắt gặp trong đám mây đó. Họ nghĩ
rằng bọn con bị tấn công bởi một loại siêu sâu bọ nào đó và tống bọn con vào
những công ten nơ vận chuyển ở khu xưởng đóng tàu, như cá mòi ấy. Ở đó cực kỳ
nóng và nhớp nháp. Cũng không có nhiều đồ ăn nữa.”
“Chúa ơi,” bố tôi đấm tay xuống
bàn. Bố tôi đi dạy ở Berkeley ba ngày một tuần, làm việc với vài sinh viên
cao học về chương trình khoa học thư viện. Thời gian còn lại ông tư vấn cho
khách hàng trong thành phố và dưới Peninsula, các công ty trực tuyến trong Làn
sóng thứ ba(17) đang tiến hành nhiều hoạt
động khác nhau về lưu trữ tài liệu. Hiện là một thủ thư hòa nhã nhưng ông từng
là một người theo chủ nghĩa cấp tiến chính cống vào những năm sáu mươi và chơi
đấu vật hồi cấp ba. Thỉnh thoảng tôi thấy ông tức giận phát điên - ngay cả tôi
đây cũng thi thoảng làm ông nổi giận như thế - và những lúc như thế ông có thể
mất kiểm soát nghiêm trọng. Có lần bố tôi đã ném cả cái xích đu của hãng Ikea
qua cả bãi cỏ của ông nội khi nó cứ đổ lên đổ xuống đến lần thứ năm mươi khi
ông đang lắp ráp nó.
(17)
Chỉ kỷ nguyên công nghệ thông tin.

